Chương 1. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT Trình bày một số cơ sở lí thuyết về LIB, vật liệu phosphorus và ứng dụng của nó, vật liệu carbon. THỰC NGHIỆM Trình bày các bước tiến hành nghiên cứu thực nghiệm bao gồm: - Tổng hợp các loại vật liệu: nano RP, nano BP, carbon, composite của phosphorus với vật liệu nền. - Các phương pháp đặc trưng của các vật liệu.
- Đánh giá tính chất điện hóa của của các vật liệu. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN Trình bày các kết quả và thảo luận về các vấn đề đã thực hiện được trong phần thực nghiệm. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 1. Giới thiệu về pin lithium Trong những năm gần đây, nhu cầu về nguồn điện di động đã tăng nhanh do sự thu nhỏ của các thiết bị điện tử, trong một số trường hợp, hệ thống pin chỉ bằng một nửa trọng lượng và thể tích của thiết bị được cấp nguồn.
Vào năm 1817, lithium được phát hiện qua sự phân tích quặng petalite (LiAlSi4O10) bởi Arfwedson và Berzelius, sau đó được tách xuất bằng cách điện phân lithium oxide bởi Brande và Davy vào năm 1821.4 Một thế kỉ sau, Lewis bắt đầu nghiên cứu những đặc tính điện hóa của nó như mật độ thấp (0,534 gcm-3), dung lượng riêng cao (3860 mAh.g-1), thế oxi hóa – khử thấp (-3,04 V so với SHE).6 Do đó, người ta nhanh chóng nhận thấy Lithium có thể trở thành một vật liệu hấp dẫn đối với pin mật độ năng lượng cao. LIB là một loại pin có thể sạc lại được. Trong đó, các ion lithium (Li+) di chuyển từ cathode qua chất điện phân sang anode trong quá trình phóng điện và quay trở lại trong quá trình sạc. Đầu năm 1958, Harris đã kiểm tra khả năng hòa tan của lithium trong nhiều chất điện phân không chứa nước (không proton) - bao gồm esters tuần hoàn (carbonates, γ-butyrolactone và γ-valerolactone), muối nóng chảy và muối lithium vô cơ (LiClO4) - hòa tan trong propylene carbonate (PC).
Ông đã quan sát thấy sự hình thành của lớp thụ động có khả năng ngăn chặn phản ứng hóa học trực tiếp giữa lithium và chất điện phân trong khi vẫn cho phép vận chuyển ion qua nó, dẫn đến các nghiên cứu về tính ổn định của LIB. Những nghiên cứu này cũng làm tăng sự quan tâm đến việc thương mại hóa LIB sơ cấp. 7 LIB đầu tiên được chế tạo vào những năm 1970 bởi Michael Stanley Whittingham, người đã sử dụng kim loại lithium và titanium sulfide làm điện cực.8 Trong cùng thời gian đó, sự đan cài thuận nghịch trong graphite và oxit cathode đã 7 được nghiên cứu bởi Jürgen Otto Besenhard, người đã đề xuất triển khai nó để chế tạo LIB.9-11 Vào cuối những năm 1970, Samar Basu đã chứng minh sự đan cài điện hóa của lithium trong graphite.12 Tuy nhiên, các tế bào pin được chế tạo vào thời điểm đó xuống cấp nhanh chóng sau mỗi lần sạc. Rachid Yazami đã giải quyết vấn đề này vào đầu những năm 1980 thông qua nghiên cứu của ông về sự đan cài điện hóa thuận nghịch của lithium trong graphite.13 Vào năm 1973, từ các nghiên cứu về NaxCoO2 của nhóm Hagenmuller,14 Goodenough và cộng sự thay thế Na bằng Li và đề xuất LiCoO2 làm vật liệu cathode mới (3,9 V so với Li+/Li) và đã được cấp bằng sáng chế vào năm 1979.15 LiCoO2 bền trong không khí hơn NaCoO2, và các đặc tính điện hóa tốt của nó đã khiến nó trở thành cathode được thương mại hóa nhiều nhất trong nhiều thập kỷ.16 Ngoài việc phát triển vật liệu điện cực dương (cathode), nghiên cứu còn được thực hiện trên điện cực âm (anode).
Năm 1980, Lazzari và Scrosati công bố công trình về anode vonfram dioxide dựa trên chất chèn và ghép nối nó với TiS2. Vào năm 1983, Basu đã nộp một bằng sáng chế khác về pin thứ cấp ở nhiệt độ môi trường sử dụng cực dương LiC6 và cực âm NbSe3 trong dung môi 1,3-dioxolane với chất điện phân muối LiAsF6. Cùng năm đó, Yazami và Touzain đã công bố công trình nghiên cứu về pin anode graphite ở nhiệt độ hoạt động 60 °C với chất điện phân rắn và chứng minh khả năng thuận nghịch của nó thông qua phương pháp vôn kế tuần hoàn. Trong cùng thời gian đó, A.
Yoshino của Tập đoàn Asahi Kasei đang nghiên cứu pin LiCoO2/ polyacetylene thứ cấp nhưng cũng đã chuyển sang sử dụng làm anode dựa trên graphite có mật độ năng lượng cao hơn. Ông bày tỏ mối lo ngại về hiệu quả sử dụng năng lượng kém do trở kháng tế bào cao của lớp SEI lớn và tìm kiếm một cực dương carbonate khác để thay thế graphite.17 Nhiều nỗ lực trong những năm 1980 của nhiều nhóm khác nhau đã tập trung 8 vào thử nghiệm và phát triển vật liệu cathode, anode cho LIB dẫn đến sự phát triển các sản phẩm điện tử cầm tay như máy quay video, điện thoại di động và máy tính xách tay,…góp phần ngày càng tăng nhu cầu về sử dụng pin sạc có dung lượng lớn hoặc có kích thước và trọng lượng nhỏ. Bước đột phá về mặt thương mại đã đạt được vào năm 1991 khi LIB được giới thiệu ra thị trường mang tính đột phá về mặt năng lượng riêng (Wh/kg) và mật độ năng lượng (Wh/L). Kể từ đó, sự phát triển mạnh mẽ và đa dạng hóa công nghệ đã diễn ra và điều này dẫn đến phạm vi ứng dụng ngày càng mở rộng.
Hiện tại, chúng không chỉ thống trị thị trường pin khổ nhỏ dành cho các thiết bị điện tử cầm tay mà còn được triển khai thành công như là công nghệ được lựa chọn cho phương tiện di chuyển bằng điện cũng như lưu trữ năng lượng cố định. Sự phát triển lịch sử và những tiến bộ của công nghệ pin lithium-ion. Cấu trúc và thành phần của pin lithium LIB là một loại pin thứ cấp trong đó cả điện cực cathode và anode đều được tạo thành từ một vật liệu chèn Li-ion. LIB có thể được tạo nên từ một hoặc 9 nhiều tế bào điện hóa được mắc nối tiếp với nhau.
Cấu trúc cơ bản của một tế bào pin điện gồm 4 phần: anode, cathode, màng ngăn và chất điện giải. Các loại cấu trúc chính của LIB thương mại: a) dạng nút, b) dạng cuộn hình trụ, c) dạng hình lăng trụ được quấn và d) dạng túi. Anode Anode là vật liệu dùng trong LIB có khả năng lưu giữ các ion Li+. Tuy nhiên, hiện tượng mọc đuôi gai (dendrite) của Li kim loại từ việc mạ điện trong quá trình sạc có thể gây ra đoản mạch bên trong, dẫn đến những lo ngại nghiêm trọng về an toàn.
Yêu cầu chính của vật liệu làm anode được sử dụng trong LIB như sau: 20,21 (i) để LIB ổn định, hạn chế vật liệu anode tương tác với chất chất điện phân; (ii) có thể đạt được các thiết bị đan cài lithium cao cho anode và khả năng lưu trữ năng lượng cao hơn của LIB với chênh lệch điện thế tối đa giữa anode và cathode, tốt nhất là điện thế anode ≤ 0,5 V; (iii) việc lựa chọn anode chủ yếu phụ thuộc vào cấu trúc tinh thể và tính chất vật lý như công suất riêng, độ dẫn điện, độ ổn định cơ học và tính chất hóa học; (iv) vật liệu làm anode phải chứa các nguyên tố và hợp chất có trọng lượng nguyên tử thấp, mật độ thấp và lượng 10 lithium lớn trên mỗi đơn vị công thức; (v) vật liệu làm anode phải có khả năng tái chế, hiệu suất lớn, ổn định và phải cung cấp khả năng đảo chiều lớn; (vi) vật liệu làm anode phải thể hiện điện thế gần kim loại lithium để toàn bộ tế bào có thể hoạt động ở điện áp hoạt động cao hơn; (vii) vật liệu làm anode không được phản ứng hóa học với chất điện phân và không được hòa tan trong dung môi; (viii) anode phải thân thiện với môi trường, giá rẻ, an toàn và dẫn điện và ion lithium tốt. Vật liệu làm anode cho LIB có thể được phân thành ba loại khác nhau dựa trên cơ chế lưu trữ năng lượng của chúng: vật liệu dựa trên phản ứng đan cài, dựa trên phản ứng chuyển đổi và vật liệu dựa trên phản ứng hợp kim. Vật liệu anode cho LIB.23 Vật liệu anode dựa trên đan cài: độ an toàn của LIB phụ thuộc vào độ ổn định nhiệt động của điện cực đối với chất điện phân, do đó vật liệu hoạt động ở điện áp vừa phải sẽ an toàn hơn. Sự đan cài của Li+ tại vị trí trong cấu trúc của vật liệu điện cực được gọi là bộ lưu trữ chèn mang lại khả năng tốc độ cao hơn, hoạt động của pin an toàn hơn và tuổi thọ dài hơn.
Sự đan cài xảy ra theo hai cách, một là đan cài không đồng nhất trong đó điện thế không đổi trong suốt 11 quá trình hoạt động trong khi cách đan cài đồng nhất thì điện áp thay đổi theo thành phần nhưng mang lại động học nhanh hơn và độ ổn định cấu trúc tốt hơn.22 Vật liệu anode dựa trên phản ứng chuyển đổi: là quá trình lưu trữ các hợp chất kim loại chuyển tiếp (MaXb , M = kim loại, X = O, S, F, P, N,.) trong đó lithium phản ứng tạo thành LiyX và khử kim loại về trạng thái oxy hóa bằng 0 và mang lại giá trị công suất cao hơn. Ban đầu, những kim loại thiếu vị trí chèn được coi là không phù hợp để lưu trữ Li, tuy nhiên, sau đó người ta nhận thấy những kim loại này có khả năng mang lại công suất cao thông qua phản ứng chuyển đổi. Những vật liệu này cung cấp công suất cao hơn với tuổi thọ trung bình nhưng chúng bị ảnh hưởng bởi độ trễ điện áp lớn. Gần đây việc sử dụng ma trận dẫn điện hoặc pha tạp các kim loại có tính dẫn điện cao cũng như sự phát triển của các bộ thu electron có cấu trúc nano đã nâng cao hiệu suất của các vật liệu này.24 Vật liệu anode dựa trên hợp kim: lithium có thể tạo ra hợp kim với kim loại/bán kim loại ở nhiệt độ phòng trong chất điện phân không chứa nước mang lại công suất rất cao chẳng hạn như việc hình thành hợp kim với silicon có thể mang lại giá trị cao hơn lên tới 8,5 Ah cm-1 hoặc 4,2 Ah g-1.22 Tuy nhiên, việc sử dụng chúng trong thực tế trong pin thứ cấp chủ yếu bị cản trở bởi sự thay đổi thể tích lớn bởi quá trình hợp kim hóa.
Các vật liệu dựa trên hợp kim đã nhận được sự chú ý rất lớn và tiến bộ rộng rãi đã được thực hiện do tính phong phú, chi phí thấp và khả năng lý thuyết cao. Một số vật liệu làm anode được đề xuất là carbon, lithium titanate (LTO) và vật liệu anode chuyển đổi, vật liệu anode hợp kim. Graphite và carbon cứng Carbon là vật liệu anode sử dụng trong LIB được thương mại hoá và lựa 12 chọn cho đến ngày nay.