Chương 1 TONG QUAN 1. So lược về cây ớt 1. Nguồn gốc phân loại Cây ớt có tên khoa học Capsicum frutescens L; Capsicum annuum L. thuộc chi Capsicum, họ cà (Solanaceae) có nguồn gốc từ Nam Mỹ.
Có hai nhóm phổ biến là ớt cay (Capsicum annuum L.) và ớt ngọt (Capsicum annuum var. Theo Pickersgill, 1997, chi Capsicum bắt đầu từ vùng nhiệt đới Mỹ và đã được nhân giống khắp thé giới bao gồm cả vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới và cả vùng ôn đới. Phân loại thực vật Giới: Plantae — Thực vat Ngành: Spermatophyta — Cây có hat Ngành phụ: Angiospermae — Cây hạt kin Lớp: Dicotyledonae — Cây hai lá mầm Bộ: Solanales — Bộ ca Họ: Solanaceae — Họ cà Chi: Capsicum — Chi ớt Loài: Capsicum frutescens - Ot cay (CABI, 2019) 1.2 Đặc tính thực vat hoc Ot có rễ trụ, nhưng phân nhánh mạnh va phát triển thành rễ chùm, phân bố chính trong tang dat cày. Khi cây già, phần gốc thân chính hóa gỗ, đọc theo chiều dài thân có 4 — 5 cạnh.
Thân có lông hoặc không lông, cây cao 35-65 cm, có giống cao 125 — 135 em. Ot phân tán mạnh, kích thước thay đổi theo điều kiện canh tác và giống. Lá ớt mọc đơn, đôi khi mọc chùm thành hình hoa thị, lá nguyên có hình trứng đến bầu dục, phiến lá nhọn ở đầu, lá màu xanh nhạt hoặc đậm, có lông hoặc không lông. Hoa ớt lưỡng phái, mọc đơn hoặc thanh chùm 2-3 hoa.
Hoa nhỏ, dài, hoa mau xanh có hình chén, lá đài nhỏ, hẹp và nhọn. Tràng hoa có 6-7 cánh màu trắng hoặc tím. Số nhị đực bằng số cánh hoa và mọc quanh nhụy cái. Phần trong cánh hoa có lỗ tiết mật.
Hoa ớt có thể tự thụ phan hay thu phan chéo do côn trùng vì ớt thuộc loại tiền thư, thụ phan chéo có ý nghĩa lớn ở ớt cay, tỷ lệ thụ phấn chéo từ 10-40% tùy giống, do đó cần chú ý trong việc dé giống và giữ giống thuần. Trái ớt có 2-4 thay, dạng trái rat thay đồi từ hình cầu đến hình nón, bề mặt trái có thê phẳng, gợn sóng, có khía hay nhẫn; trái khi chín có màu đỏ, đen, vàng; trái không cay hay rất cay. Chiều đài và dạng trái đóng vai trò quan trọng trong việc chọn giống ớt xuất khâu dưới dạng quả khô. Ot quả khô nguyên trái phải dai hơn 9 cm và khi khô không rời cuống.
Việc chế biến ớt bột không đòi hỏi tiêu chuẩn cao về kích thước và dạng trái nhưng yêu cầu về màu sắc, độ cay và tỷ lệ tươi/khô khi phơi. Ớt trai to ở nước ta có tỷ lệ tươi/khô là 6,5:1 trong khi ớt trái nhỏ có tỷ lệ này là 8:1 Trái chứa nhiều hạt tròn dep, có màu nâu sáng (Mai Thị Phương Anh, 2020). Cây ớt: hình thái (A) giống trồng (B) và tỷ lệ diện tích trồng(C) (CA4B1 2021) 4 1.3 Điều kiện sinh thái Cây ớt có nguồn gốc vùng nhiệt đới Nam Mỹ, do đó đây là cây ưa nhiệt. Cây yêu cầu khí hậu ấm áp, có thời gian sinh trưởng dài.
Tuy nhiên, sự phát triển của ớt sẽ tăng cường ở khoảng nhiệt độ 20 — 30 °C (Li và ctv., 2015) Theo Mai Thị Phương Anh, 2020 thì nhiệt độ ban đêm thấp (8-10°C và 15°C) làm giảm tỷ lệ đậu qua va thường sinh ra qua không hat, nhiệt độ ban đêm thích hop nhất trong giai đoạn nở hoa là 200C. Nhiệt độ tối cao cho hoa đậu là nhiệt độ ban ngày và ban đêm trong khoảng 16-21°C nhiệt độ ban ngày trên 24°C dẫn đến hiện tượng rụng hoa, những quả đậu có thé bị rụng nếu nhiệt độ trên 32°C (Votava, E. Nhiệt độ lớn hơn 32°C, đặc biệt trong thời kì nở hoa, gây hại cho sự tồn tại của phan hoa (Challinor va ctv. Ot không man cảm với thời gian chiếu sáng vì thé ớt có thé trồng quanh năm nhưng là cây ưa sáng nên trời âm u sẽ làm hạn chế sự đậu quả.
Cây ớt là cây chịu hạn nhưng ở giai đoạn ra hoa, hình thành quả cần độ 4m đồng ruộng 70 — 80%, nếu độ âm dưới 70% ở giai đoạn này quả bị cong, vỏ san sùi. Ot không chiu được ung, độ ầm đồng ruộng lớn hơn 80% thì rễ sinh trưởng kém, cây còi cọc. Đất phù hợp nhất dé trồng ớt là đất thịt nhẹ, giàu vôi. Gt có thé cho năng suất trên đất cát nhưng phải đảm bảo chế độ nước và phân bón đầy đủ.
Trên đất màu mỡ, ớt sinh trưởng được nhưng tỷ lệ nảy mầm và tính chín sớm bị ảnh hưởng. Đất chua và kiềm không thích hợp cho ớt sinh trưởng và phát triển. Ot là cây chịu được mặn,có thé nảy mam ở đất có nông độ muối 4000 ppm và pH = 7,6. Mưa nhiều và tưới trực tiếp lên cây thường xuyên sẽ tạo điều kiện tốt cho nắm bệnh phát triển và tấn công vào cây ớt (Mai Thị Phương Anh, 2020).4 Tình hình sản xuất, tiêu thụ ớt ở Việt Nam Từ lâu, ớt đã trở thành cây trồng chuyên canh mang giá trị cao.
Với khí hậu nhiệt đới gió mùa, mang lại điều kiện thuận lợi để cây ớt sinh trưởng và phát triển. Đặc biệt là những năm gần đây, nhiều mô hình ớt được triển khai thành công, đáp ứng được nhu cầu xuất khâu cao. Nhờ thế đã mở ra hướng đi mới cho bà con nông dân trong việc chuyền đối cơ cau cây trồng sang trồng ớt. Diện tích ớt nước ta trong những năm gần đây có xu hướng ngày càng tăng.
Trong đó, các tỉnh trồng ớt truyền thống như: Quỳnh Phụ (Thái Bình) với diện tích 1.200 ha, Đại Lộc (Quảng Nam), Phù Mỹ (Binh Định), Bố Trạch (Quang Bình), Thanh Bình (Đồng Tháp), Châu Đốc (An Giang),.Ớt có thé trồng được quanh năm nhưng thường tập trung vào 3 vụ chính. Thu Đông: Gieo vào tháng 9 thu hoạch từ tháng 1 đến tháng 3 năm sau. Ớt Đông Xuân: Gieo vào tháng 11- 12 thu hoạch từ tháng 2 đến tháng 6 năm sau. Ot Xuân Hè: Gieo vào tháng 2-3 thu hoạch từ tháng 4 đến tháng 8 tháng 9.
Diện tích thu hoạch, năng suất, số lượng sản xuất ớt và ớt khô của Việt Nam (FAO, 2014-2018) 2014 2015 2016 2017 2018 Diện Ot và 65.922 ha tích ớtkhô Năng Ot và 14.318 hg/ha suất tkhô hg/ha hg/ha hg/ha hg/ha Sản Ot và 95.548 tấn lượng ớtkhô tấn tấn Bên cạnh đó, nhiều công ty xuất khâu lớn sản xuất, chế biến, và xuất khâu ớt cay dưới dạng khác như: ớt tươi (đông lạnh), muối mặn, muối chua, sây khô, xay bột, hay tương ớt vào các thị trường xuất khâu ớt khá lớn như EU, Malaysia, Singapore, Trung Quốc. Trong bối cảnh thị trường Malaysia phải nhập khâu đến 80% dé đáp ứng nhu cầu ớt trong nước, Việt Nam là một trong số các nước xuất khẩu ớt với số lượng lớn vào Malaysia (Cục Bảo vệ thực vật, 2018). Thành phần giá trị dinh dưỡng trên mỗi 100g ớt tươi (Nguồn: Cơ sở dữ liệu Dinh dưỡng Quốc gia My USDA) Chất Giá trị dinh dưỡng Tỷ lệ % RDA Năng lượng 40 Keal 2% Carbohydrate 8.87 g 3% Tổng lượng chat béo 0.44 g 2% Cholesterol 0 mg 0% Chat xo 15g 3% Cac Vitamin Folates 23 meg 6% Niaoin 1.244 mg 8% Pantothenic acid 0.72 mg 8% Vitamin A 952 IU 32% Vitamin C 143.5% Chat dién phan Natri 9 mg 0.5% Kali 322 mg 7% Các chất khoáng Canxi 14mg 1.03 mg 13% Magié 23 mg 6% Mangan 0.187 mg 8% Phôt-pho 43 mg 8% Selen 0.28 mg 2% Phyto-nutrients Carotene-B 534 mcg - Carofene-ơ 38 mcg - Cryptoxanthin-B 40 mcg - Lutein-zeaxanthin 709 meg - 1. Tình hình sản xuất, tiêu thụ 6t ở Thế Giới Theo tô chức Nông lương Thế Giới (FAO,2018), cây ớt được xem là một trong số những cây trồng quan trọng ở các vùng nhiệt đới.
Diện tích canh tác trên toàn thé giới là khoảng 1.000 ha dé sản xuất ớt tươi, và khoảng 1.000 ha dé sản xuất ớt khô; tổng diện tích là 3.900 ha với tổng sản lượng 20. Các nước sản xuất và xuất khâu ớt quan trọng bao gồm Trung Quốc, An Độ, Mexico, Morocco, Pakistan, Thái Lan và Thổ Nhĩ Kỳ. Diện tích thu hoạch, năng suất, số lượng sản xuất ớt của Thế Giới (FAO, 2010-2018) 2014 2015 2016 2017 2018 Diện tích Ởtvàớt 1.334 khô ha ha ha ha ha Năng Ớtvàớt 22.445 ha suất khô hg/ha hg/ha hg/ha hg/ha San Ot va Ot 3.594 luong khô tân tấn tấn tấn tấn 1. Bệnh thán thư trên ớt 1.
Nghiên cứu về các loài nắm Colletotrichum sp. gây bệnh than thư ớt Năm 1992 tác giả Isaac cho rằng tên bệnh than thư có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là ‘coal’, cách gọi tên này căn cứ vào việc mô tả đặc điểm của bệnh là rất tối, thương tôn bị lõm xuống, chứa các khối bào tử. Bệnh thán thư do các loài Colletotrichum spp. gây nên thuộc giới Nam; ngành Ascomycota; lớp Deuteromycetes; bộ Melanconiales, họ Melanconiaceae.
Bệnh than thư ớt được Halsted báo cáo đầu tiên tại New Jersey, USA vào năm 1980, Halsted đã mô tả các tác nhân gây ra là Gloeopsorium piperatum và Colletotrichum nigrum. gây bệnh than thư là một trong những mầm bệnh quan trọng trên một loạt các ký chủ bao gồm ngũ cốc, các loại đậu, rau, trái cây và cây lâu năm. Dựa trên tầm quan trọng khoa học và kinh tế được nhận thức, gần đây người ta đã bau chọn rằng Colletotrichum spp. là nhóm nam gây bệnh thực vật quan trong thứ tám trên thế giới (Dean va ctv, 2012).
Các loài thuộc chi này được báo cáo là gây ra bệnh than thư ở hơn 121 chi thực vật thuộc 45 họ thực vật khác nhau (Farr va ctv, 2016) Loài nấm Colletotrichum spp. lần đầu được nghiên cứu bới Corda (1837). Năm 1903, Schrenk và Spaulding đã phát hiện ra giai đoạn hữu tính là Glomerella. Nam Colletotrichum spp.
có hệ khuẩn ty thật, gồm có sự phát triển sợi nam mảnh, phân nhánh, không màu và vách ngăn sợi nam. Hệ sợi nam có gian bào va nội bào, mỗi tế bào chứa nhiều nhân. Nhiều hạt dầu được sản xuất trong mỗi tế bào của hệ sợi nam. Khi chín, sợi nắm trở nên sậm mau và bện xoắn lại thành dạng chất nền nhỏ dưới lớp ngoài cùng (Cao Ngọc Điệp và Nguyễn Văn Thanh, 2010).
Soi nam già đôi khi hình thành vách day, màu nâu sậm, hình cầu hoặc không đều gọi là hậu bào tử (Chlamydospores), nó có thé ở tận cùng hoặc chen gitra sợi nắm và ton tại trong thời gian dài và khi tach ra chúng cũng mọc mam dé hình thành sợi nam mới (Cao Ngọc Điệp và Nguyễn Văn Thanh, 2010). Ở giai đoạn vô tính chúng cho ra các bào tử đính đơn bào, có dạng hình thoi, hình liềm hoặc hình trụ không màu và đôi khi có giọt dich trong bên trong bào tử (Agrios, 2005).