Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu của nghiên cứu sinh Hoàng Văn Thơi với đề tài "Nghiên cứu cơ sở khoa học và kỹ thuật gây trồng một số loài cây ngập mặn trên nền cát, đá, sỏi, vụn san hô ngập triều không thường xuyên tại các đảo ven bờ phía Nam, Việt Nam" được thực hiện tại Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam dưới sự hướng dẫn của GS. Đỗ Đình Sâm và PGS. Viên Ngọc Nam, bảo vệ năm 2014 thuộc chuyên ngành Lâm sinh (mã số 62 62 02 05). Luận án được thực hiện gắn liền với kết quả của đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ cấp Bộ giai đoạn 2009–2013 do tác giả làm chủ nhiệm.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, rừng ngập mặn đóng vai trò phòng hộ xung yếu trước sóng, gió, bão, chống xói mòn và giảm thiểu tác động của hiện tượng nước biển dâng tại các dải bờ biển và hải đảo. Báo cáo của UNEP (2005) chỉ ra rằng rừng ngập mặn có khả năng giảm đến 75% sức gió tấn công vào các đảo; nghiên cứu của Vũ Đoàn Thái và cộng sự (2007) ghi nhận dải rừng Trang, Bần tại Hải Phòng làm giảm độ cao sóng 85% và hạ năng lượng sóng từ 163 $\text{N/m}^2$ xuống 10 $\text{N/m}^2$; nghiên cứu của Primavera (2004) sau sự kiện sóng thần năm 2004 ở Ấn Độ Dương xác định đai rừng rộng 100 m giảm 50% chiều cao sóng và triệt tiêu 90% năng lượng sóng. Việt Nam sở hữu hơn 3.200 km bờ biển và khoảng 3.000 hòn đảo lớn nhỏ, chịu ảnh hưởng nặng nề bởi biến đổi khí hậu (Dasgupta et al., 2007). Tuy nhiên, tại các đảo ven bờ, điều kiện lập địa rất khắc nghiệt với nền cát, đá, sỏi, vụn san hô nghèo dinh dưỡng, ngập triều không thường xuyên và chịu sóng gió lớn. Hầu hết các nghiên cứu trước đây chỉ tập trung vào vùng đất bùn phù sa cửa sông; các vấn đề về thành phần loài, cấu trúc quần xã, đặc tính sinh thái và kỹ thuật gây trồng rừng ngập mặn trên nền cát, đá, sỏi, vụn san hô tại hải đảo hoàn toàn chưa được nghiên cứu trong nước cũng như trên thế giới.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định rõ:

  • Về mặt lý luận: Xác định cơ sở khoa học chủ yếu để xây dựng dải rừng ngập mặn phòng hộ trên các dạng lập địa khó khăn ở các đảo ven bờ phía Nam Việt Nam.
  • Về mặt thực tiễn:
    1. Chọn được 2–3 loài cây trồng có khả năng tồn tại, chịu đựng được sóng, gió và thể nền thiếu dinh dưỡng.
    2. Xác định được hệ thống biện pháp kỹ thuật trồng phù hợp trong điều kiện lập địa khó khăn.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Một số loài cây ngập mặn có tiềm năng sử dụng trồng rừng phòng hộ ven biển - đảo thuộc vùng biển phía Nam.
  • Phạm vi nội dung: Các thử nghiệm kỹ thuật trồng chỉ thực hiện trên thể nền đá, sỏi, vụn san hô có chế độ ngập triều không thường xuyên.
  • Phạm vi không gian: Vùng ven biển và các đảo thuộc Nam Bộ và duyên hải Nam Trung Bộ. Khảo sát thành phần loài, phân bố và sinh thái tại Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận, Bà Rịa - Vũng Tàu, Cà Mau và Kiên Giang. Nghiên cứu lập địa tại các đảo/quần đảo: Nhơn Châu, Nhất Tự Sơn, vịnh Vân Phong, Hòn Tre (Nha Trang), Trường Sa, Phú Quý, Côn Đảo, Hòn Khoai, Phú Quốc. Thu hái hạt giống tại Bà Rịa - Vũng Tàu, Khánh Hòa, Phú Yên. Thí nghiệm gieo ươm tại Hòn Bà (Côn Đảo) và Nhất Tự Sơn (Phú Yên). Thí nghiệm kỹ thuật trồng rừng tại Hòn Bà (Côn Đảo), Hòn Nhất Tự Sơn (Sông Cầu, Phú Yên) và đảo Phú Quý (Bình Thuận). Các đảo Cù Lao Ré (Lý Sơn) và Cù Lao Chàm thu thập dữ liệu qua tài liệu thứ cấp.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan lịch sử nghiên cứu quốc tế và trong nước được tác giả hệ thống hóa toàn diện theo các nhóm nội dung:

Các hướng nghiên cứu trên thế giới:

  • Phân loại và phân bố: Tomlinson (1986) phân chia thực vật ngập mặn thành cây ngập mặn thực thụ (true mangroves) và cây tham gia (mangrove associates); Saenger et al. (1983), Chapman (1976), Watson (1928), Aksornkoae et al. (1992) hệ thống hóa danh mục thực vật ngập mặn toàn cầu; Giesen và Wulffraat (1998) thống kê Indonesia có 45 loài chính thức trong tổng số 60 loài trên thế giới; Twilley et al. (1992) và Field (1996) ghi nhận diện tích rừng ngập mặn toàn cầu khoảng 16–17 triệu ha; Spalding et al. (1997, 2004) xác định phân bố tại 114 quốc gia/vùng lãnh thổ chia thành 5 vùng địa lý; trong khi Duke (1992) phân chia thành 6 vùng địa lý.
  • Lập địa và sinh thái đảo san hô: Cấu tạo đảo san hô và nền sỏi cát carbonate được mô tả bởi Solomon & Forbes (1999), Woodroffe (2008), Mueller-Dombois & Fosberg (1998), Ellison (2008), Gillespie (2007), Chan & Baba (2009), Jagtap & Untawale (1999). Về sinh thái và chế độ ngập triều, Watson (1928) và de Haan (1931) phân chia 5 cấp ngập triều; Chapman (1975) nêu 7 yếu tố sinh thái hình thành rừng ngập mặn; Saenger et al. (1983), Rao (1986), Aksornkoae (1993), Choudhury (1994) phân tích các chỉ số lý hóa đất và độ mặn.
  • Sinh thái thể nền và độ mặn: Kint (1934), Ding Hou (1958), Aragones et al. (1998) ghi nhận một số loài họ Đước (Rhizophora stylosa) mọc trên đất cát, bờ đá và bãi biển san hô; Mayer et al. (1965), Bunt (1982), Macnae (1968) nghiên cứu gradien độ mặn ảnh hưởng tới phân bố thực vật.
  • Kỹ thuật gieo ươm và trồng rừng: Siddiqi et al. (1993) nghiên cứu thu hái, gieo ươm 17 loài tại Bangladesh; Hideki Hachinohe et al. (1998) dùng túi bầu 12 x 20 cm chứa 100% đất đê bao tại Bali, Indonesia; Chan (1996), Aksornkoae (1996), Untawale (1996), Milian (1996), Duke (1996), Snedaker & Biber (1996), Bohorquenz (1996), Kogo & Tsuruda (1996) khảo sát các mật độ và biện pháp trồng ở nhiều quốc gia; Shamsudin et al. (2008) tại Malaysia dùng ống geotube và ống tre giảm sóng; Reef Ball Foundation (2008) ứng dụng bóng ngầm bê tông san hô tại Cayman Islands.

Các hướng nghiên cứu trong nước:

  • Thành phần loài và phân vùng: Phan Nguyên Hồng và Hoàng Thị San (1993) thống kê 77 loài (35 loài thực thụ, 42 loài tham gia); Thái Văn Trừng (2000) ghi nhận 46 loài cây cỏ ngập mặn; Phan Nguyên Hồng et al. (1999) phân bố thành phần loài theo các vùng sinh thái; Viên Ngọc Nam và Trần Đình Huệ (2007), Kiều Tuấn Đạt et al. (2012) khảo sát thực vật ngập mặn Côn Đảo ghi nhận từ 28 đến 41 loài; phân vùng lập địa theo Đỗ Đình Sâm et al. (2005), Ngô Đình Quế et al. (2001, 2003), Đoàn Đình Tam (2011), Tô Văn Vượng (2009).
  • Sinh thái và kỹ thuật trồng trên lập địa khó khăn: Vũ Văn Cương (1964), Mai Sỹ Tuấn (1995), Nguyễn Hoàng Trí (1999), Đặng Trung Tấn (2000) khảo sát phản ứng sinh lý và độ ngập; Hoàng Công Đãng (1995), Đặng Công Bửu (2006), Hoàng Văn Thơi và Phạm Trọng Thịnh (2012), Đỗ Xuân Phương (2006), Kiều Tuấn Đạt et al. (2009) thử nghiệm thành phần ruột bầu tạo cây con. Trồng rừng giảm sóng khó khăn có các công trình của Chu Văn Cường và Saron Brown (2012) tại Kiên Giang dùng cừ tràm mê bồ; Albers (2012) dùng hàng rào tre gai tại Sóc Trăng; Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam (2011), Sở Khoa học và Công nghệ Hải Phòng (2006), Trịnh Văn Hạnh et al. (2009, 2011), Đoàn Đình Tam (2011), Sở Nông nghiệp và PTNT Thanh Hóa (2013), Trần Thanh Cao et al. (2006), Phạm Ngọc Cơ et al. (2006).

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn công trình trong và ngoài nước tập trung vào thể nền bùn mềm, phù sa màu mỡ vùng cửa sông bãi bồi nội địa. Hoàn toàn thiếu vắng các dẫn liệu định lượng về thảm thực vật ngập mặn trên nền cát, đá, sỏi, vụn san hô tại các đảo ven bờ; thiếu hệ thống tiêu chí phân chia lập địa đảo; chưa có quy trình kỹ thuật chuẩn về tạo cây con ruột bầu chịu hạn mặn và kỹ thuật trồng, bố trí mật độ, tuổi cây và giải pháp bảo vệ cây con chắn sóng trên nền đá, sỏi, san hô ngập triều không thường xuyên.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở lý luận về lập địa rừng của Krauss, Kopp, Schwaneeker (dẫn theo Đỗ Đình Sâm và cộng sự, 2005), tiếp cận mối quan hệ tương hỗ giữa môi trường ngoại cảnh (địa hình, khí hậu, thủy văn, thể nền thổ nhưỡng) và sự sinh trưởng của quần xã thực vật. Khung phân loại mức độ ngập triều dựa theo tiêu chuẩn của Watson (1928) và de Haan (1931). Khung phân loại kích thước hạt thể nền áp dụng thang đo trầm tích Wentworth. Cấu trúc quần xã thực vật được định lượng thông qua chỉ số quan trọng (Importance Value - $IV$) của Curtis (1959).

Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm phương pháp điều tra thực địa kết hợp bố trí thí nghiệm nhân tố ngoài hiện trường:

Phương pháp điều tra thực vật và lựa chọn loài cây:

  • Thiết lập 40 tuyến điều tra ven bờ song song với bờ biển (tuyến ngoài mép biển, tuyến trong giáp bờ, khoảng cách 20–150 m).
  • Lập 78 ô tiêu chuẩn điển hình ($20 \text{ m} \times 10 \text{ m} = 200\text{ m}^2$) phân bố tại 13 khu vực đảo ven bờ. Đo đếm đường kính ngang ngực ($D_{1.3}$), đường kính tán ($D_{\text{tán}}$) đối với toàn bộ cây có chiều cao $H > 2\text{ m}$; đo chiều cao vút ngọn ($H_{\text{vn}}$) từ 5–10 cây đại diện/loài/ô.
  • Tính toán các chỉ số quần xã: $$\text{Mật độ tương đối } (a) = 100 \times \frac{n_i}{N}$$ $$\text{Ưu thế tương đối } (b) = 100 \times \frac{g_i}{G}$$ $$\text{Tần suất tương đối } (c) = 100 \times \frac{f_i}{F}$$ $$\text{Giá trị quan trọng } (IV) = a + b + c$$
  • Đề xuất loài cây triển vọng dựa trên thang điểm tổng hợp 100 điểm với 5 tiêu chí: (1) Ưu thế sinh thái $IV$ (tối đa 50 điểm), (2) Khả năng phòng hộ tán lá (tối đa 15 điểm), (3) Tốc độ sinh trưởng (tối đa 10 điểm), (4) Nguồn giống tại chỗ (tối đa 15 điểm), (5) Hiểu biết kỹ thuật gây trồng (tối đa 10 điểm). Các loài đạt tổng điểm trên 50 được chọn đưa vào thử nghiệm.

Phương pháp khảo sát lập địa và hải văn:

  • Theo dõi mực nước triều bằng cột đo thủy triều liên tục 12 tháng (tháng 1–12/2011) để phân chia 5 lớp ngập triều ($L_1$ đến $L_5$).
  • Thu mẫu nước đo độ mặn vào các ngày 5, 15, 25 hàng tháng trong 12 tháng bằng máy khúc xạ kế.
  • Đo đếm cấu trúc thể nền trên ô đại diện $1\text{ m}^3$ ($1 \times 1 \times 1\text{ m}$), mô tả mặt cắt ngang và mặt cắt dọc sâu 1 m. Phân loại hạt theo thang Wentworth:
Tên chung Kích thước hạt Tỷ lệ thể tích Tên gọi theo thể nền
Đá tảng $> 256\text{ mm}$ $\ge 80%$ Đá
Đá cuội $64 - 256\text{ mm}$ $\ge 80%$ Đá
Sỏi $8 - 64\text{ mm}$ $\ge 80%$ Sỏi
Sỏi mịn $4 - 8\text{ mm}$ $\ge 80%$ Sỏi
Cát trung bình $0,25 - 2\text{ mm}$ $\ge 80%$ Cát
Cát mịn $62,5 - 250\ \mu\text{m}$ $\ge 80%$ Cát
Bùn (bột) $3,9 - 62,5\ \mu\text{m}$ $\ge 80%$ Thịt
Hạt sét $< 3,9\ \mu\text{m}$ $\ge 80%$ Sét
Hệ keo $< 1\ \mu\text{m}$ $\ge 80%$ Sét
  • Lấy mẫu đất tại 2 tầng (0–10 cm và 40–50 cm). Phân tích thành phần cấp hạt theo phương pháp Robinson; mùn tổng số theo Chiurin; đạm tổng số ($N%$) theo Kjeldahl; lân dễ tiêu ($P_2O_5%$) theo Oniani; kali trao đổi ($K_2O%$) theo Maslova; pH đo bằng máy đo pH meter; độ mặn ($S%$) đo bằng máy khúc xạ kế. Phân tích tại phòng thí nghiệm Viện Khoa học Lâm nghiệp Nam Bộ.

Phương pháp thí nghiệm gieo ươm và kỹ thuật trồng rừng:

  • Thí nghiệm gieo ươm: Đánh giá 4 công thức ruột bầu với 3 lần lặp lại, 30 cây/loài/công thức, theo dõi trong 9 tháng (3, 6, 9 tháng):
    • Đối chứng (ĐC): 100% cát, vụn san hô tại chỗ.
    • Công thức 1: 75% cát, vụn san hô + 15% bùn rừng ngập mặn + 10% phân vi sinh.
    • Công thức 2: 59% cát, vụn san hô + 30% bùn rừng ngập mặn + 10% phân vi sinh + 1% NPK (20:20:15).
    • Công thức 3: 39% cát, vụn san hô + 50% bùn rừng ngập mặn + 10% phân vi sinh + 1% NPK (20:20:15).
  • Thí nghiệm trồng rừng ngoài thực địa: Bố trí theo khối ngẫu nhiên hai nhân tố kiểu ô phụ lồng trong ô chính (Split-plot design), 3 lần lặp lại, diện tích mỗi ô tiêu chuẩn định vị theo dõi là $100\text{ m}^2$/lặp/công thức. Các thí nghiệm bao gồm:
    1. Thử nghiệm dạng lập địa (3.000 $\text{m}^2$): Lô chính (Đá, Sỏi, San hô) $\times$ Lô phụ (5 loài: Dà vôi, Đưng, Đâng, Sú đỏ, Đước).
    2. Thử nghiệm trồng trực tiếp trụ mầm (3.000 $\text{m}^2$): Lô chính ($V_1$: trồng trực tiếp xếp đá làm giá đỡ; $V_2$: đào hố bổ sung ruột bầu; $V_3$: đóng cọc gỗ cao 40–80 cm sâu 40–50 cm buộc cố định) $\times$ Lô phụ (4 loài: Dà vôi, Đưng, Đâng, Đước).
    3. Thử nghiệm phương thức trồng (3.000 $\text{m}^2$): Lô chính ($PT_1$: hỗn giao theo hàng cách nhau 3 m; $PT_2$: hỗn loài theo cụm 12 cây cách nhau $5 \times 5\text{ m}$; $PT_3$: hỗn loài theo đám cách nhau $10 \times 10\text{ m}$) $\times$ Lô phụ (5 loài: Dà vôi, Đưng, Đâng, Sú đỏ, Đước).
    4. Thử nghiệm mật độ trồng (3.600 $\text{m}^2$): Lô chính ($N_1$: 2.500 cây/ha - 2 cây/cụm; $N_2$: 3.750 cây/ha - 3 cây/cụm; $N_3$: 5.000 cây/ha - 4 cây/cụm) $\times$ Lô phụ (3 loài: Mắm biển, Đưng, Đâng).
    5. Thử nghiệm tuổi cây con (3.000 $\text{m}^2$): Lô chính ($T_1$: 6 tháng tuổi; $T_2$: 12 tháng tuổi; $T_3$: 24 tháng tuổi) $\times$ Lô phụ (3 loài: Mắm biển, Đưng, Đâng).
    6. Thử nghiệm giải pháp bảo vệ chắn sóng (4.000 $\text{m}^2$): Lô chính ($BV_1$: bờ đá song song bờ biển cao 1,2 m, chân rộng 3 m, mặt rộng 1,2 m, dài 36 m; $BV_2$: 2 bờ đá vuông góc bờ biển dài 30 m cách nhau 36 m; $BV_3$: cọc trụ gỗ đường kính $> 3,5\text{ cm}$, dài 1,5 m chôn sâu 60–70 cm; $BV_4$: đối chứng đào hố trồng thường) $\times$ Lô phụ (3 loài: Mắm biển, Đưng, Đâng).
  • Thu thập và xử lý số liệu: Đo tỷ lệ sống, đường kính gốc ($D_0$) và chiều cao ($H$) định kỳ sau 6 tháng, 1 năm, 2 năm và 3 năm (vào tháng 9–10). Xử lý dữ liệu bằng phần mềm Statgraphics Centurion XV-II và Excel; phân tích phương sai (ANOVA) hai nhân tố và kiểm định sai biệt có ý nghĩa nhỏ nhất (LSD).

Nội dung chính theo từng chương

Phần mở đầu

Trình bày cơ sở khoa học, tính cấp thiết của việc gây trồng rừng chắn sóng bảo vệ đảo ven bờ phía Nam trong bối cảnh biến đổi khí hậu và an ninh biển đảo. Nêu rõ mục tiêu, đối tượng, 5 giới hạn nghiên cứu cụ thể, ý nghĩa khoa học, giá trị thực tiễn và bố cục 140 trang của luận án (gồm 55 bảng số liệu, 39 hình ảnh).

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về 5 chủ đề: phân loại thành phần loài và phân bố; đặc điểm lập địa đảo san