ĐẶT VẤN ĐỀ Đậu tương (Glycine max (L)) còn gọi là đậu nành, đây là một loại cây trồng có từ lâu đời, được xem là loại “cây kỳ la”, "vàng mọc từ đất”, “cây thần diệu", "cây đỗ thân", “cây thay thịt”. Bởi vì về hàm lượng protein, hạt đậu tương chiếm vị trí hàng đầu so với các loại cây cho hạt khác (từ 38 - 56%), hàm lượng dầu từ 17 - 27%. (Theo Malchenco 1975, Chmeleva, Corsacov, 1981) nên đậu tương được trồng ở nhiều nước trên thế giới. Việc phát triển cây đậu tương là một trong những biện pháp nhanh chóng khắc phục nạn đói protein ở các nước nghèo và là biện pháp làm tốt đất {4] Ở Việt Nam, cây đậu tương được gieo trồng từ hàng ngàn năm nay, các loại sản phẩm từ đậu tương như đậu phụ, tương, dầu ăn, chao.
đã đi vào bữa ăn truyền thống của người Việt Nam. Điều này thể hiện trong câu ca đao: ” Anh đi anh nhớ quê nhà Nhớ canh rau muống, nhớ cà dim tương.” Và ước mơ: ” No bổ thóc, đầy chum tương. " là ước mơ thân thiết của những nông dân trước đây. [8] Trong những năm gần đây, công nghệ chế biến thức ăn gia súc được hình thành và dần dần chiếm vị trí xứng đáng mà trong đó bột đậu tương là thành phần không thể thay thế dudc.[4] Một đặc tính quan trọng nữa của cây đậu tương là có nốt sẵn ở rễ tạo khả năng cố định, tạo nitơ không khí thành hợp chất hữu cơ.
Vì vậy việc trồng cây đậu tương còn góp phần cải tạo đất và bảo vệ môi trường. [1, 2,4, 5, 6, 7, 8,12, 22] Nước ta có nhiều khả năng tiểm tàng to lớn về đất đai, khí hậu, cây trồng, kinh nghiệm sản xuất và sử dụng. để phát triển cây đậu tương nhằm thoả mãn nhu cẩu trong nước và xuất khẩu. Cuối năm 1975 thủ tướng Phạm văn Đồng đã nói : " Có nhiều Đậu tương sẽ có đậu phụ, có dầu, có thịt, có trứng, muốn phát triển chăn nuôi cũng phải có đậu tương.
SVTH: Chu Thi Trane Thanh ~.——9 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: PGS. Đăng Thị Thanh Thu V. in nnattit (ta tac toa-a-a-a-aacsttaa lo. aa ao an tattia-a-n-cnaaa Vì vậy các nông trường quốc doanh phải làm cho được Đậu tương với quy mô ngày càng lớn năng xuất ngày càng cao” [8].
Mặt khác, tình hình đời sống kinh tế - xã hội ở nước ta ngày càng được nâng cao, do đó nhu cầu về lương thực không chỉ để ăn no mà còn phải đáp ứng được thị hiếu của người dân. Vì vậy hạt đậu tương phải có màu sắc đẹp, giá rẻ và phải đảm bảo được chất dinh dưỡng cao. Như vậy, để thúc đẩy tăng năng suất đậu tương lên cao, thì vấn để quan trọng nhất là chọn được những giống có năng suất cao, phẩm chất tốt và thích nghi với điều kiện khí hậu cụ thể ở Việt Nam. Công tác chọn giống đậu tương trước đây chủ yếu dựa vào hình thái, còn rất ít công trình nghiên cứu dựa trên cơ sở hóa sinh học.
Hiện nay trong thực tế sản xuất đòi hỏi những nghiên cứu sâu về mặt sinh lý hoá sinh, sinh học phân tử và di truyền học để làm cơ sở cho việc cải thiện giống đậu tương { 14] Vì vậy trong giới hạn cho phép, chúng tôi tiến hành nghiên cứu dé tài “ Bước đầu nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh hoá để đánh giá chất lượng và sự đa dang chủng loại protein của một số giống đậu tương (Glycine max (L) Merrill)”. Để góp phần nhỏ bé vào công tác chọn giống đậu tương có năng suất cao, phẩm chất tốt và phù hợp với điều kiện khí hậu Việt Nam. COBOL MEME EMME SVTH: Chu Thi Trane Thanh !. LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: TS.
Nguyén Tho Phat PGS. Déng Thi Thanh Thu Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU I1 SƠ LƯỢC NGUỒN GỐC LICH SỬ CUA CAY DAU TƯƠNG [2] Cây Đậu tương ( cây đậu nành) là một loại cây trồng từ lâu đời của nhân loại, nguồn gốc ở Phương Đông (Đông Á). nguồn gốc cụ thể và lịch sử xa xưa của cây đậu tương chưa được làm rõ. Căn cứ vào “Thần nông bản thảo kinh” và một số di tích cổ như hình khắc trên đá, mai rùa, xương súc vật thì cây đậu tương đã được con người biết đến cách đây 5.000 năm và đựơc trồng trọt khoảng thế kỷ XI trước công nguyên.
Một số nhà khoa học cho rằng cây đậu tương xuất hiện đầu tiên ở lưu vực sông Trường Giang (Trung Quốc), Hymowitz (1970) và Tôn Tĩnh Đông phân tích cổ ngữ cho rằng : Chữ Soi-a của nhiều nước trên thế giới (Pháp (Soja, Soya), Anh, Mỹ(Soybeans, Soyabeans), Đức (Sojabohne), Tây Ban Nha (Soya), Ý (Soia), Tiệp (Sója), Balan (Soja), Rumani (Soia), Hungary (Szója). ) là xuất phát từ chữ “Shu” của Trung Quốc [8]. Theo Morse (1950) viết : Ghi chú đầu tiên về loại cây trồng này nằm trong cuốn “ Bản thảo cương mục”, cuốn sách này mô tả những cây trồng ở Trung Quốc do vua Thần nông viết năm 2838 trước công nguyên. Cây đậu tương được xem là cây trồng quan trọng nhất, được xếp vào một trong năm loại cây trồng lấy hạt quan trọng là : Lúa nước, đậu tương, lúa mì, đại mạch và cao lương kê - quyết định sự tồn tại của nền văn minh Trung Quốc.
Theo Nogata, cây đậu tương được nhập vào Nhật Bản khoảng 200 năm trước và sau công nguyên [1, 2, 4]. Ở Châu Mỹ, cây đậu tương được nói đến từ năm 1804 nhưng mãi đến đầu thế kỷ XX (1924) mới được trồng, có thể do những giống đầu tiên nhập nội không thích hợp. Theo Morse (1950) thì sản xuất đậu tương được phát triển ở Trung Quốc cho đến sau chiến tranh Trung — Nhật (1894 - 1895), sau đó Nhật bắt đầu nhập khô dầu đậu tương để làm phân bón. Chiến tranh Nga - Nhật (1904 - 1905) làm cho công dụng của hạt đậu tương và sản phẩm của nó.
SYTH: Chu Thi Trane Thanh Wises LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. Nguyễn Thọ Phát PGS. Đồng Thị Thanh Thu DOABLE la aLoaloaadadddaaa được mở rộng hơn. Tuy nhiên trước đó rất lâu, người ta đã biết sử dụng loại cây đậu tương quan trọng này, ví dụ : Nhà thực vật học người Đức Kaempfet trong thời gian ở Nhật năm 1691 - 1692 đã ghi chép tỉ mỉ các thức ăn được chế biến từ hạt đậu tương, các sách thuộc Châu Âu từ năm 1751 đã có nói đến công dụng trong y dược của hạt đậu tương Nhật Bản.
Từ năm 1790, cây đậu tương đã được các nhà truyền giáo mang từ Trung Quốc về trồng ở vườn thực vật Pari và Hoàng Gia Anh. Haberlandt đã mô tả trong tác phẩm của ông về cây đậu ở Ôxtrâylia (Úc), đầu năm 1879. Ở Viên (Thủ đô Ao) Friedich và Haberlandt đã tích cực tuyên truyền về việc dùng hạt đậu tương làm thực phẩm và thức ăn gia súc. Ở Châu Âu mặc dù bắt đầu trồng cây đậu tương cùng thời với Mỹ song tình hình sản suất có kém hơn.
Ở khu vực này, người ta sử dụng hạt đậu tương chủ yếu làm thực phẩm. Tuy đậu tương là một loại cây trồng cổ xưa, nhưng đậu tương cũng được xem là loại cây trồng mới nhất. Vì trên thực tế, đến cuối thế kỷ XIX, đậu tương cũng chi tập trung ở Viễn Đông như Trung Quốc, Indénésia, Nhật Bản, Triều Tiên. Ở nước ta, người Việt ( dân nước Văn Lang thời đại đổ đồng, khoảng 4.000 năm trước đây) trồng lúa, trồng khoai, trồng đậu.
[8], trong cuối thời đại Vua Hùng Vương, lịch sử, kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá. có cho biết thời bấy giờ ngoài lúa nước là cây lương thực chính, thì cư dân Văn Lang còn biết trồng khoai, trồng đậu. “ Cùng ăn với gạo, chắc chắn còn có một số quả hạt, rau củ khác như bầu, bí, cà, đậu. Về mặt khảo cổ học, vào năm 1950 các nhà khảo cổ đã phát hiện được bào tử và phấn hoa của đậu di chỉ Tràng Kênh (Hải Phòng) có niên đại xác định bằng cacbon có phóng xạ là 3405 + 100 năm.
Trước 1950, chúng ta cũng đã thấy các di tích hạt đậu ở các di chủ Đông Đậu ( niên đại Cc là 3328 + 100 năm ), gd Mun ( niên đại CỶ tương đương là 3046 + 120 năm cách ngày nay), Hoàng Ngô, Đông Sơn ( niên đại tương đương 2350 + 100 năm trước năm 1950). Những di tích này đều thuộc thời đại đồng thau [8]. Sau này, sách "Vân đài loại ngữ” do Lê Qúy Đôn ( 1726 - 1783) viết xong ngày | tháng 9 năm 1773 có nhắc đến nhiều điều về các loại đậu kể cả đậu tương vốn thấy ghi ở nhiều thư viện cổ [2, 8|. HOOPLE 069090 0960 gV FLC u66 6 6g gU@#@ $4 e2 69g ne —.
4 SVTH: Chu Thi Trane Thanh LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. Nguyễn Thọ Phát PGS. Đồng Thị Thanh Thu .g te ty, co tt Về mặt truyền thuyết chúng ta thấy Lang Liêu con thứ 22 của Vua Hùng đã dùng gạo nếp, đậu xanh, thịt lợn là các nguyên liệu họ tự tay làm ra và người đân thường có sẵn để làm bánh dày, bánh chưng, đậm đà hương vi quê hương Đất nước [8]. Vậy qua những tài liệu nói trên, có thể khẳng định là Ông Cha ta ngay từ thời Vua Hùng đã biết trồng và sử dụng nhiều loại đậu trong đó có đậu tương.2_ THÀNH PHAN DINH DUONG VÀ GIA TR] KINH TE CUA DAU TUONG [2].
Giá trị kinh tế chủ yếu của đậu tương được quyết định bởi các thành phần chứa trong hạt đậu tương gồm có protein, lipit, hydratcacbon và các chất khoáng. Trong đó protein và lipit là hai thành phần quan trọng nhất. Protein chiếm khoảng 38 - 45%, lipit chiếm từ 12 - 24%, tùy theo giống và điều kiện khí hậu. Protein đậu tương có giá trị cao không những về hàm lượng lớn mà nó còn có đầy đủ và cân đối các loại axit amin cần thiết, đặc biệt là giàu lizin và triptophan (2 loại axit amin này có giá trị quan trọng đối với sự tăng trưởng của cơ thể trẻ em và gia súc).
Tuy nhiên hàm lượng methionin và xystin là những axit amin có chứa lưu huỳnh hơi thấp (Bảng 2). Loại nguyên | Thành phan %TLK liệu |Protein| Chất béo Sữa mẹ § 27 64 Sữa bò tươi 28 28 39 Bột đậu nành | 44 22 32 FT --.a ee lao oa oto M. Py SVTH: Chu Thi Trane Thanh LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. Nguyễn Thọ Phát PGS.
Đồng Thị Thanh Thu “. 6 6g ee v6 g g6 6 8146090 969290 0# #ewe ke.n @ Bảng 2: Thành phần axit amin trong protein của đậu tương và Ngô (g axit amin/16gN) Theo Rison và Hartwing 1977 [2]. Glutamic axit Trong protein đậu tương globulin chiếm 85 - 95%.