Luận án nghiên cứu chỉ số bền vững của lưu vực sông và ứng dụng cho lưu vực sông Cầu

Luận án nghiên cứu chỉ số bền vững của lưu vực sông, áp dụng thí điểm cho lưu vực sông Cầu, góp phần bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

Trường đại học

Trường Đại học Công nghệ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2017

171
4
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CHỈ SỐ BỀN VỮNG LƯU VỰC SÔNG

1.1. Giải thích một số thuật ngữ

1.2. Giới thiệu chung về chỉ số bền vững lưu vực sông

1.3. Tổng quan về phát triển bền vững

1.3.1. Tổng quan phát triển bền vững trên thế giới

1.3.2. Tổng quan phát triển bền vững ở Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: XÁC LẬP CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3. CHƯƠNG 3: TÍNH TOÁN VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ TÍNH CHỈ SỐ BỀN VỮNG LƯU VỰC SÔNG CẦU

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của luận án

Phát triển bền vững hiện nay đang là mối quan tâm trên phạm vi toàn cầu và trở thành yêu cầu bức thiết đối với toàn thế giới. Quá trình này cần có sự điều tiết hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với bảo đảm an ninh xã hội và bảo vệ môi trường. Tại Hội nghị về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long, các nhà khoa học đã chỉ ra rằng nguyên nhân chính ảnh hưởng đến phát triển bền vững trên lưu vực sông là do khai thác, sử dụng không hợp lý tài nguyên nước và tác động của biến đổi khí hậu. Nguyên nhân quan trọng nhất là việc khai thác, sử dụng chưa hợp lý tài nguyên nước, dẫn đến tình trạng thiếu và lãng phí nguồn nước. Sự gia tăng dân số và ô nhiễm môi trường đã ảnh hưởng lớn đến phát triển bền vững kinh tế, xã hội. Do đó, quản lý bền vững lưu vực sông là vấn đề lớn, đòi hỏi các cơ quan quản lý và nhà nghiên cứu cần đưa ra các phương pháp đánh giá mức độ bền vững và các giải pháp phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường. Lưu vực sông Cầu, với nguồn tài nguyên nước không dồi dào, đang phải đối mặt với nhiều vấn đề nghiêm trọng, từ ô nhiễm đến khai thác quá mức. Nghiên cứu chỉ số bền vững lưu vực sông là cần thiết để cung cấp thông tin cho các nhà hoạch định chính sách và người dân về tình trạng lưu vực sông.

II. Mục tiêu của luận án

Mục tiêu của luận án là xác lập cơ sở khoa học cho việc lựa chọn phương pháp đánh giá tính bền vững của lưu vực sông Việt Nam. Luận án sẽ lựa chọn bộ tham số của các chỉ thị phù hợp để tính chỉ số bền vững lưu vực sông. Đặc biệt, luận án sẽ áp dụng thí điểm tính toán chỉ số bền vững cho lưu vực sông Cầu. Việc xác định chỉ số bền vững sẽ giúp đánh giá tình trạng và mức độ bền vững của lưu vực sông, từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao tính bền vững. Các chỉ thị sẽ bao gồm các lĩnh vực như tài nguyên nước, môi trường, đời sống, và chính sách. Mỗi chỉ thị sẽ có các tham số thành phần ảnh hưởng đến chúng, và trọng số sẽ được sử dụng để so sánh tầm quan trọng của các tham số. Điều này sẽ giúp tạo ra một hệ thống đánh giá toàn diện và chính xác hơn về tính bền vững của lưu vực sông.

III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là chỉ số bền vững lưu vực sông, bao gồm các chỉ thị với các tham số ảnh hưởng đến tính bền vững của lưu vực sông trong các lĩnh vực như tài nguyên nước, môi trường, đời sống, và chính sách. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào lưu vực sông Cầu, nơi có nhiều vấn đề ảnh hưởng đến tính bền vững. Tính bền vững của lưu vực sông được thể hiện qua bốn thành phần chính: tài nguyên nước, môi trường, đời sống, và chính sách. Luận án sẽ tập trung vào các tham số ảnh hưởng đến tài nguyên nước, vì đây là thành phần quan trọng nhất trong lưu vực sông. Các tham số này sẽ được lựa chọn dựa trên tình hình số liệu và đặc điểm của lưu vực sông Cầu, nhằm đảm bảo tính chính xác và khả thi trong việc áp dụng các giải pháp quản lý.

IV. Những đóng góp mới của luận án

Luận án đã xây dựng được cơ sở khoa học cho việc xác định chỉ số bền vững lưu vực sông Việt Nam, dựa trên bộ chỉ thị và tham số phản ánh bốn lĩnh vực: tài nguyên nước, môi trường, đời sống, và chính sách. Phương pháp tính chỉ số bền vững đã được đề xuất và áp dụng thử nghiệm thành công cho lưu vực sông Cầu. Điều này không chỉ giúp đánh giá tình trạng bền vững của lưu vực sông mà còn cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà quản lý và nhà khoa học trong việc đưa ra các giải pháp nâng cao tính bền vững. Luận án cũng nhấn mạnh rằng sự phát triển bền vững của lưu vực sông cần được đánh giá qua một chỉ số định lượng, phản ánh tổng hợp các yếu tố khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên hiện có.

V. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Ý nghĩa khoa học của luận án nằm ở việc đưa ra phương pháp có cơ sở khoa học để đánh giá tính bền vững của lưu vực sông, dựa vào chỉ số bền vững với bộ tham số phản ánh bốn mặt chính trong lưu vực sông. Kết quả đánh giá chỉ số bền vững có thể cung cấp cho các nhà quản lý, nhà khoa học và người dân nhận biết được hiện trạng và mức độ bền vững của lưu vực sông. Trên cơ sở đó, các giải pháp nâng cao tính bền vững sẽ được đề xuất, nhằm phục vụ cho việc khai thác, sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyên thiên nhiênmôi trường. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hiện tại, khi mà biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường đang ngày càng gia tăng, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của các lưu vực sông.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu đã đề cập, phát triển bền vững là một khái niệm mới nhằm định nghĩa sự phát triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tương lai Đầu thập niên 80 của thế kỷ XX, thuật ngữ “phát triển bền vững” lần đầu tiên được sử dụng trong Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Quốc tế - IUCN [37] với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học". Tuy nhiên, khái niệm này chính thức phổ biến rộng rãi trên thế giới từ sau báo cáo Brundrland (1987). Kể từ sau báo cáo này, khái niệm bền vững trở thành chìa khoá giúp các quốc gia xây dựng quan điểm, định hướng, giải pháp tháo gỡ bế tắc trong các vấn đề phát triển bền vững. Theo Brundtland, "Phát triển bền vững là sự phát triển thoả mãn những nhu cầu của hiện tại mà không phương hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” Đó là quá trình phát triển kinh tế dựa vào nguồn tài nguyên được tái tạo, tôn trọng những quá trình sinh thái cơ bản, sự đa dạng sinh học đối với cuộc sống của con người, động vật và thực vật Như vậy, khái niệm "Phát triển bền vững" được đề cập trong báo cáo Brundtland với một nội hàm rộng nhằm phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường.

Nội dung khái niệm này còn bao gồm những khía 9 cạnh chính trị, xã hội, đặc biệt là bình đẳng xã hội. Đây cũng được xem là giai đoạn mở đường cho các hội thảo về Phát triển và Môi trường của Liên hiệp quốc và Diễn đàn toàn cầu hoá (1992); Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững (2002) [11,12]. Các hội thảo, hội nghị này với sự tham gia của các nhà lãnh đạo cũng như các chuyên gia về kinh tế, xã hội và môi trường của gần 200 quốc gia đã tổng kết kế hoạch hành động về phát triển bền vững trong 10 năm qua và đưa ra các quyết sách liên quan tới các vấn đề về nước, năng lượng, sức khỏe, nông nghiệp và sự đa dạng sinh thái Các đại diện của mỗi quốc gia tham gia hội nghị cũng cam kết xây dựng chiến lược về phát triển bền vững tại mỗi quốc gia trước năm 2005 “Bộ chỉ thị của Uỷ ban phát triển bền vững Liên Hiệp Quốc” [5] của Bộ môn Nghiên cứu chiến lược và Chính sách thuộc Uỷ ban Phát triển bền vững của Liên Hiệp Quốc (CSD) đưa ra 58 tiêu chí Bộ tiêu chí này đã bao quát các khía cạnh xã hội, môi trường, kinh tế và thể chế của phát triển bền vững. Mặc dù ý định ban đầu là xây dựng một bộ tiêu chí chung ở cấp quốc gia, sau đó sẽ xuất bản như một bộ số liệu toàn diện theo từng thời kỳ, nhưng hiện nay CSD vẫn thận trọng nhấn mạnh rằng, bộ tiêu chí đó chỉ được sử dụng cho các quốc gia trên cơ sở tự nguyện, phù hợp với các điều kiện riêng của mỗi nước và sẽ không liên quan tới bất cứ một điều kiện nào về tài chính, kỹ thuật và thương mại Đây là bộ chỉ thị được nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam lựa chọn để xây dựng bộ tiêu chí đánh giá phát triển bền vững cho quốc gia mình.

Như vậy, phát triển bền vững là một vấn đề đã được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới trong nửa cuối của thế kỷ XX và phát triển rất mạnh trong những năm gần đây, nhằm đối phó với những thách thức về sự khan hiếm nước, sự gia tăng tình trạng ô nhiễm và suy thoái các nguồn tài nguyên, môi trường và tác động của biến đổi khí hậu đến các lưu vực sông. Theo đó, hiện nay trên thế giới đã có hàng trăm các tổ chức quản lý lưu vực sông được thành lập để quản lý tổng hợp và thống nhất tài nguyên nước, đất và các tài nguyên liên quan khác trên lưu vực sông, tối đa hoá lợi ích kinh tế và phúc lợi xã hội một cách công bằng nhưng không làm tổn hại đến 10 tính bền vững của hệ thống môi trường trọng yếu của lưu vực, duy trì các điều kiện môi trường sống lâu bền cho con người. Tổng quan phát triển bền vững ở Việt Nam Khái niệm “Phát triển bền vững” được biết đến ở Việt Nam vào khoảng cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 của thế kỷ XX. Mặc dù xuất hiện ở Việt Nam khá muộn nhưng nó lại sớm được thể hiện ở nhiều cấp độ.

Về mặt học thuật, thuật ngữ này được giới khoa học nước ta tiếp thu nhanh. Đã có hàng loạt công trình nghiên cứu liên quan mà đầu tiên phải kể đến là công trình do giới nghiên cứu môi trường tiến hành như "Tiến tới môi trường bền vững” (1995) của Trung tâm Tài nguyên và Môi trường, Đại học Tổng hợp Hà Nội. Công trình này đã tiếp thu và cụ thể hóa khái niệm phát triển bền vững theo báo cáo Brundtland như một tiến trình đòi hỏi đồng thời trên bốn lĩnh vực: bền vững về mặt kinh tế, bền vững về mặt nhân văn, bền vững về mặt môi trường, bền vững về mặt kỹ thuật. "Nghiên cứu xây dựng tiêu chí phát triển bền vững cấp quốc gia ở Việt Nam - giai đoạn I” (2003) do Viện Môi trường và phát triển bền vững, Hội Liên hiệp các Hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam tiến hành Trên cơ sở tham khảo bộ tiêu chí phát triển bền vững của Brundtland và kinh nghiệm các nước: Trung Quốc, Anh, Mỹ, các tác giả đã đưa ra các tiêu chí cụ thể về phát triển bền vững đối với một quốc gia là bền vững kinh tế, bền vững xã hội và bền vững môi trường Đồng thời, cũng đề xuất một số phương án lựa chọn bộ tiêu chí phát triển bền vững cho Việt Nam.

Trong cuốn sách "Quản lý môi trường cho sự phát triển bền vững” của Lưu Đức Hải (2000) [10] đã đưa ra hệ thống quan điểm lý thuyết và hành động quản lý môi trường cho phát triển bền vững Công trình này đã xác định phát triển bền vững qua các tiêu chí: bền vững kinh tế, môi trường, văn hóa và đã tổng quan nhiều mô hình phát triển bền vững như mô hình 3 vòng tròn kinh kế, xã hội, môi trường giao nhau của Jacobs và Sadler (1990), mô hình tương tác đa lĩnh vực kinh tế, chính trị, hành chính, công nghệ, quốc tế, sản xuất, xã hội, mô hình liên hệ thống kinh tế, xã hội, sinh thái của Villen (1990). 11 Chủ đề này cũng được bàn luận sôi nổi trong giới khoa học xã hội với các công trình như "Đổi mới chính sách xã hội - Luận cứ và giải pháp" (1997) của Phạm Xuân Nam [18]. Trong công trình này, tác giả làm rõ năm hệ chỉ báo thể hiện quan điểm phát triển bền vững: phát triển xã hội, phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, phát triển chính trị, tinh thần, trí tuệ, và cuối cùng là chỉ báo quốc tế về phát triển. Trong bài viết đăng trên Tạp chí Xã hội học (2003) của tác giả Bùi Đình Thanh [40] với tiêu đề "Xã hội học Việt am trước ngưỡng của thế kỷ XXI", tác giả cũng chỉ ra 7 hệ chỉ báo cơ bản về phát triển bền vững: chỉ báo kinh tế, xã hội, môi trường, chính trị, tinh thần, trí tuệ, văn hoá, vai trò phụ nữ và chỉ báo quốc tế.

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu này có một điểm chung là cụ thể hóa khái niệm phát triển bền vững theo Brundtland, tuy nhiên cần nói thêm rằng, những khái niệm này còn mang tính liệt kê, cụ thể là ở cấp độ địa phương, vùng, miền, hay các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội vẫn chưa được làm rõ. Tổng quan những nghiên cứu chính liên quan đến chỉ số bền vững lƣu vực sông ở trong và ngoài nƣớc 1. Tổng quan nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu, tính toán bộ chỉ số bền vững lưu vực sông và đã được áp dụng cho nhiều lưu vực sông khác nhau Để trình bày được ngắn gọn, tác giả luận án tập hợp và phân nhóm các nghiên cứu có cùng phương pháp, với hai nhóm cụ thể dưới đây 1. Nhóm nghiên cứu về chỉ số bền vững lưu vực sông a.

Các nghiên cứu tiêu biểu - Nghiên cứu của Chaves và Alipaz [52] đã phát triển nghiên cứu CSBVLVS từ Chương trình HELP và công bố kết quả vào tháng 11 năm 2006 Trên cơ sở nghiên cứu của chương trình HELP, hai nhà khoa học này đã bổ sung các tham số cho mỗi chỉ thị được đặt trong hệ thống Sức ép - Hiện trạng - Ứng phó. Các tham số này phản ánh tình trạng khác nhau của lưu vực. Tham số Sức ép phản ánh sức ép của các hoạt động của con người đến lưu vực sông; tham số Hiện trạng phản ánh tình 12 trạng của lưu vực sông trong giai đoạn nghiên cứu về tài nguyên thiên nhiên và môi trường; tham số Ứng phó xem xét mức độ đối phó, giải pháp của con người đối với các vấn đề liên quan đến tính bền vững của lưu vực sông. Theo Chaves và Alipaz, chỉ số bền vững lưu vực sông (WSI) được tính bằng giá trị trung bình số học của 4 chỉ thị thành phần Thủy văn, Môi trường, Đời sống và Chính sách như sau: H ELP WSI  4 (1.

Các tác giả đã đưa ra 3 cấp mức độ của WSI: WSI < 0.5: kém bền vững; 0.8: bền vững trung bình; WSI > 0.8: bền vững cao. Sự phân cấp này được thực hiện theo cách phân cấp ngưỡng về chỉ số phát triển con người (HDI) của UNDP thành ba cấp (cấp HDI < 0.5: kém phát triển; 0.8: phát triển trung bình; HDI > 0.8: phát triển cao). Từng tham số của các chỉ thị nêu trên được chia ra làm 4 cấp tương ứng với số điểm là: 0; 0,25; 0,5; 0,75 và 1 và được xây dựng thành các bảng tra sẵn; WSI càng lớn thì lưu vực càng bền vững và ngược lại, lưu vực có WSI càng nhỏ thì càng kém bền vững.  Chỉ thị Thủy văn Theo Chaves và Alipaz, chỉ thị thủy văn có hai chỉ thị phụ: chỉ thị lượng nước và chất lượng nước.

Chỉ thị Thủy văn được tính bằng giá trị trung bình của hai chỉ thị phụ này.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án "Luận án nghiên cứu chỉ số bền vững của lưu vực sông và ứng dụng cho lưu vực sông Cầu" được thực hiện tại Trường Đại học Công nghệ, năm 2017, tại Cần Thơ, tập trung vào việc đánh giá và phát triển chỉ số bền vững cho các lưu vực sông, với mục tiêu nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên nước. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các yếu tố ảnh hưởng đến sự bền vững của lưu vực sông mà còn đưa ra các ứng dụng thực tiễn cho lưu vực sông Cầu, từ đó giúp các nhà quản lý và nhà nghiên cứu có thêm thông tin hữu ích trong việc bảo vệ và phát triển tài nguyên nước.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản lý tài nguyên nước và đô thị hóa, bạn có thể tham khảo các bài viết liên quan như Tác động của quá trình đô thị hóa đến sự phát triển kinh tế xã hội tại các nước đang phát triển, nơi phân tích ảnh hưởng của đô thị hóa đến phát triển kinh tế và xã hội, hay Lợi ích của việc giảm phát thải khí nhà kính trong giao thông công cộng ở Hà Nội, bài viết này đề cập đến các giải pháp giảm thiểu tác động môi trường trong bối cảnh đô thị hóa. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Luận án tiến sĩ về giải pháp tài chính phát triển nhà ở xã hội tại Hà Nội, giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về các giải pháp phát triển bền vững trong lĩnh vực nhà ở và đô thị.