phần Mở đầu đã đề cập, phát triển bền vững là một khái niệm mới nhằm định nghĩa sự phát triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tương lai Đầu thập niên 80 của thế kỷ XX, thuật ngữ “phát triển bền vững” lần đầu tiên được sử dụng trong Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Quốc tế - IUCN [37] với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học". Tuy nhiên, khái niệm này chính thức phổ biến rộng rãi trên thế giới từ sau báo cáo Brundrland (1987). Kể từ sau báo cáo này, khái niệm bền vững trở thành chìa khoá giúp các quốc gia xây dựng quan điểm, định hướng, giải pháp tháo gỡ bế tắc trong các vấn đề phát triển bền vững. Theo Brundtland, "Phát triển bền vững là sự phát triển thoả mãn những nhu cầu của hiện tại mà không phương hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” Đó là quá trình phát triển kinh tế dựa vào nguồn tài nguyên được tái tạo, tôn trọng những quá trình sinh thái cơ bản, sự đa dạng sinh học đối với cuộc sống của con người, động vật và thực vật Như vậy, khái niệm "Phát triển bền vững" được đề cập trong báo cáo Brundtland với một nội hàm rộng nhằm phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường.
Nội dung khái niệm này còn bao gồm những khía 9 cạnh chính trị, xã hội, đặc biệt là bình đẳng xã hội. Đây cũng được xem là giai đoạn mở đường cho các hội thảo về Phát triển và Môi trường của Liên hiệp quốc và Diễn đàn toàn cầu hoá (1992); Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững (2002) [11,12]. Các hội thảo, hội nghị này với sự tham gia của các nhà lãnh đạo cũng như các chuyên gia về kinh tế, xã hội và môi trường của gần 200 quốc gia đã tổng kết kế hoạch hành động về phát triển bền vững trong 10 năm qua và đưa ra các quyết sách liên quan tới các vấn đề về nước, năng lượng, sức khỏe, nông nghiệp và sự đa dạng sinh thái Các đại diện của mỗi quốc gia tham gia hội nghị cũng cam kết xây dựng chiến lược về phát triển bền vững tại mỗi quốc gia trước năm 2005 “Bộ chỉ thị của Uỷ ban phát triển bền vững Liên Hiệp Quốc” [5] của Bộ môn Nghiên cứu chiến lược và Chính sách thuộc Uỷ ban Phát triển bền vững của Liên Hiệp Quốc (CSD) đưa ra 58 tiêu chí Bộ tiêu chí này đã bao quát các khía cạnh xã hội, môi trường, kinh tế và thể chế của phát triển bền vững. Mặc dù ý định ban đầu là xây dựng một bộ tiêu chí chung ở cấp quốc gia, sau đó sẽ xuất bản như một bộ số liệu toàn diện theo từng thời kỳ, nhưng hiện nay CSD vẫn thận trọng nhấn mạnh rằng, bộ tiêu chí đó chỉ được sử dụng cho các quốc gia trên cơ sở tự nguyện, phù hợp với các điều kiện riêng của mỗi nước và sẽ không liên quan tới bất cứ một điều kiện nào về tài chính, kỹ thuật và thương mại Đây là bộ chỉ thị được nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam lựa chọn để xây dựng bộ tiêu chí đánh giá phát triển bền vững cho quốc gia mình.
Như vậy, phát triển bền vững là một vấn đề đã được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới trong nửa cuối của thế kỷ XX và phát triển rất mạnh trong những năm gần đây, nhằm đối phó với những thách thức về sự khan hiếm nước, sự gia tăng tình trạng ô nhiễm và suy thoái các nguồn tài nguyên, môi trường và tác động của biến đổi khí hậu đến các lưu vực sông. Theo đó, hiện nay trên thế giới đã có hàng trăm các tổ chức quản lý lưu vực sông được thành lập để quản lý tổng hợp và thống nhất tài nguyên nước, đất và các tài nguyên liên quan khác trên lưu vực sông, tối đa hoá lợi ích kinh tế và phúc lợi xã hội một cách công bằng nhưng không làm tổn hại đến 10 tính bền vững của hệ thống môi trường trọng yếu của lưu vực, duy trì các điều kiện môi trường sống lâu bền cho con người. Tổng quan phát triển bền vững ở Việt Nam Khái niệm “Phát triển bền vững” được biết đến ở Việt Nam vào khoảng cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 của thế kỷ XX. Mặc dù xuất hiện ở Việt Nam khá muộn nhưng nó lại sớm được thể hiện ở nhiều cấp độ.
Về mặt học thuật, thuật ngữ này được giới khoa học nước ta tiếp thu nhanh. Đã có hàng loạt công trình nghiên cứu liên quan mà đầu tiên phải kể đến là công trình do giới nghiên cứu môi trường tiến hành như "Tiến tới môi trường bền vững” (1995) của Trung tâm Tài nguyên và Môi trường, Đại học Tổng hợp Hà Nội. Công trình này đã tiếp thu và cụ thể hóa khái niệm phát triển bền vững theo báo cáo Brundtland như một tiến trình đòi hỏi đồng thời trên bốn lĩnh vực: bền vững về mặt kinh tế, bền vững về mặt nhân văn, bền vững về mặt môi trường, bền vững về mặt kỹ thuật. "Nghiên cứu xây dựng tiêu chí phát triển bền vững cấp quốc gia ở Việt Nam - giai đoạn I” (2003) do Viện Môi trường và phát triển bền vững, Hội Liên hiệp các Hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam tiến hành Trên cơ sở tham khảo bộ tiêu chí phát triển bền vững của Brundtland và kinh nghiệm các nước: Trung Quốc, Anh, Mỹ, các tác giả đã đưa ra các tiêu chí cụ thể về phát triển bền vững đối với một quốc gia là bền vững kinh tế, bền vững xã hội và bền vững môi trường Đồng thời, cũng đề xuất một số phương án lựa chọn bộ tiêu chí phát triển bền vững cho Việt Nam.
Trong cuốn sách "Quản lý môi trường cho sự phát triển bền vững” của Lưu Đức Hải (2000) [10] đã đưa ra hệ thống quan điểm lý thuyết và hành động quản lý môi trường cho phát triển bền vững Công trình này đã xác định phát triển bền vững qua các tiêu chí: bền vững kinh tế, môi trường, văn hóa và đã tổng quan nhiều mô hình phát triển bền vững như mô hình 3 vòng tròn kinh kế, xã hội, môi trường giao nhau của Jacobs và Sadler (1990), mô hình tương tác đa lĩnh vực kinh tế, chính trị, hành chính, công nghệ, quốc tế, sản xuất, xã hội, mô hình liên hệ thống kinh tế, xã hội, sinh thái của Villen (1990). 11 Chủ đề này cũng được bàn luận sôi nổi trong giới khoa học xã hội với các công trình như "Đổi mới chính sách xã hội - Luận cứ và giải pháp" (1997) của Phạm Xuân Nam [18]. Trong công trình này, tác giả làm rõ năm hệ chỉ báo thể hiện quan điểm phát triển bền vững: phát triển xã hội, phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, phát triển chính trị, tinh thần, trí tuệ, và cuối cùng là chỉ báo quốc tế về phát triển. Trong bài viết đăng trên Tạp chí Xã hội học (2003) của tác giả Bùi Đình Thanh [40] với tiêu đề "Xã hội học Việt am trước ngưỡng của thế kỷ XXI", tác giả cũng chỉ ra 7 hệ chỉ báo cơ bản về phát triển bền vững: chỉ báo kinh tế, xã hội, môi trường, chính trị, tinh thần, trí tuệ, văn hoá, vai trò phụ nữ và chỉ báo quốc tế.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu này có một điểm chung là cụ thể hóa khái niệm phát triển bền vững theo Brundtland, tuy nhiên cần nói thêm rằng, những khái niệm này còn mang tính liệt kê, cụ thể là ở cấp độ địa phương, vùng, miền, hay các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội vẫn chưa được làm rõ. Tổng quan những nghiên cứu chính liên quan đến chỉ số bền vững lƣu vực sông ở trong và ngoài nƣớc 1. Tổng quan nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu, tính toán bộ chỉ số bền vững lưu vực sông và đã được áp dụng cho nhiều lưu vực sông khác nhau Để trình bày được ngắn gọn, tác giả luận án tập hợp và phân nhóm các nghiên cứu có cùng phương pháp, với hai nhóm cụ thể dưới đây 1. Nhóm nghiên cứu về chỉ số bền vững lưu vực sông a.
Các nghiên cứu tiêu biểu - Nghiên cứu của Chaves và Alipaz [52] đã phát triển nghiên cứu CSBVLVS từ Chương trình HELP và công bố kết quả vào tháng 11 năm 2006 Trên cơ sở nghiên cứu của chương trình HELP, hai nhà khoa học này đã bổ sung các tham số cho mỗi chỉ thị được đặt trong hệ thống Sức ép - Hiện trạng - Ứng phó. Các tham số này phản ánh tình trạng khác nhau của lưu vực. Tham số Sức ép phản ánh sức ép của các hoạt động của con người đến lưu vực sông; tham số Hiện trạng phản ánh tình 12 trạng của lưu vực sông trong giai đoạn nghiên cứu về tài nguyên thiên nhiên và môi trường; tham số Ứng phó xem xét mức độ đối phó, giải pháp của con người đối với các vấn đề liên quan đến tính bền vững của lưu vực sông. Theo Chaves và Alipaz, chỉ số bền vững lưu vực sông (WSI) được tính bằng giá trị trung bình số học của 4 chỉ thị thành phần Thủy văn, Môi trường, Đời sống và Chính sách như sau: H ELP WSI 4 (1.
Các tác giả đã đưa ra 3 cấp mức độ của WSI: WSI < 0.5: kém bền vững; 0.8: bền vững trung bình; WSI > 0.8: bền vững cao. Sự phân cấp này được thực hiện theo cách phân cấp ngưỡng về chỉ số phát triển con người (HDI) của UNDP thành ba cấp (cấp HDI < 0.5: kém phát triển; 0.8: phát triển trung bình; HDI > 0.8: phát triển cao). Từng tham số của các chỉ thị nêu trên được chia ra làm 4 cấp tương ứng với số điểm là: 0; 0,25; 0,5; 0,75 và 1 và được xây dựng thành các bảng tra sẵn; WSI càng lớn thì lưu vực càng bền vững và ngược lại, lưu vực có WSI càng nhỏ thì càng kém bền vững. Chỉ thị Thủy văn Theo Chaves và Alipaz, chỉ thị thủy văn có hai chỉ thị phụ: chỉ thị lượng nước và chất lượng nước.
Chỉ thị Thủy văn được tính bằng giá trị trung bình của hai chỉ thị phụ này.