CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ CO2 Carbon dioxide hay cacbonic oxit (tên gọi khác: than khí, anhydride carbonic, khí carbonic) là một hợp chất ở điều kiện bình thường có dạng khí trong khí quyển Trái Đất, bao gồm một nguyên tử carbon và hai nguyên tử oxy. Một hợp chất hóa học được biết đến rộng rãi, nó thường xuyên được gọi theo công thức hóa học là CO2. Trong dạng rắn, CO2 được gọi là băng khô hoặc đá khô.
Phân tử carbon dioxide (O = C = O) chứa hai liên kết đôi và có hình dạng tuyến tính. Nó không có lưỡng cực điện vì hợp chất đã bị oxy hóa hoàn toàn. Nước hấp thụ một lượng nhất định carbon dioxide và nhiều hơn lượng này khi khí bị nén. Khoảng 1% carbon dioxide hòa tan chuyển hóa thành axit cacbonic.
Axit cacbonic sẽ phân ly một phần thành các ion bicacbonat (HCO3−) và cacbonat (CO32−). Các đại dương trên Trái Đất chứa một lượng khổng lồ carbon dioxide trong dạng các ion bicacbonat và cacbonat - nhiều hơn rất nhiều so với lượng CO2 trong khí quyển. Bicacbonat được tạo ra từ các phản ứng của đá, nước và carbon dioxide. Dưới đây là một ví dụ về sự hòa tan calci cacbonat: CaCO3 + CO2 + H2O ⇌ Ca2+ + 2 HCO3− Các phản ứng tương tự như trên có xu hướng tạo ra các thay đổi đệm của CO2 khí quyển.
Các phản ứng xảy ra giữa carbon dioxide và các loại đá không cacbonat cũng bổ sung thêm bicacbonat vào biển cả, chúng sau đó phản ứng theo chiều ngược lại của phản ứng trên để tạo ra các loại đá cacbonat và giải phóng một nửa các bicacbonat thành CO2. CƠ CHẾ KHỬ ĐIỆN HÓA CO2 Carbon dioxide (CO2) là thủ phạm chính gây biến đổi khí hậu, CO2 trong khí quyển làm thay đổi khí hậu bằng cách hấp thụ các bước sóng dài của ánh sáng và bức xạ một phần chúng trở lại trái đất dưới dạng bức xạ hồng ngoại, e 7 dẫn đến tăng nhiệt độ bề mặt toàn cầu [18][19]. Sử dụng năng lượng cùng với việc giảm lượng carbon dioxide nhằm hướng tới môi trường trong sạch và phát triển bền vững đang là nhu cầu ngày càng lớn. Ngày nay, cùng với các nỗ lực cắt giảm phát thải khí CO2 thông qua thoả thuận và cam kết của các chính phủ, việc phát triển các vật liệu có khả năng bắt giữ, cố định và/hoặc chuyển hoá khí CO2 thành nguyên - nhiên liệu có ích là giải pháp hàng đầu thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới.
Một số chiến lược chính đang được nghiên cứu để hạn chế lượng CO2 thải ra bao gồm: bắt giữ/lưu trữ CO2 trong các vật liệu xốp, lưu giữ dưới lòng đất, cố định lên các hợp chất hữu cơ hoặc chuyển hoá thành các dạng nhiên liệu [20][21]. Trong đó, chuyển hoá CO2 thành nhiên liệu vừa giúp cắt giảm phát thải, vừa tạo ra sản phẩm có giá trị kinh tế được quan tâm hơn cả [22][23][24]. Hiện nay, việc chuyển hoá khí CO2 có thể thực hiện bằng phương pháp khử hoá học, quang xúc tác và xúc tác điện hoá. Công nghệ chuyển đổi CO2 không thể không nhắc đến đó là khử điện hóa CO2.
Phản ứng khử nghĩa là một trong những nguyên tử tham gia nhận thêm một hoặc nhiều electron. Trong quá trình khử carbon dioxide bằng điện hóa, những chất xúc tác nano kim loại cho thấy có khả năng khử CO 2 thành một sản phẩm carbon có lựa chọn cụ thể. Kiểm soát cấu trúc nano có ý nghĩa quan trọng trong cơ chế phản ứng và tối ưu hóa hiệu suất chất xúc tác nano để có được các sản phẩm cụ thể như carbon monoxide, axit formic hoặc metan, rất quan trọng trong những quy trình sản xuất và sản phẩm hóa học khác nhau. Tuy nhiên, do trong quá trình điện hóa có nhiều loại phản ứng xảy ra, tạo thành nhiều sản phẩm khác nhau, các phản ứng khử carbon dioxide trước đây có độ chọn lọc và hiệu suất rất thấp.
Quá trình khử CO2 bằng điện hóa sử dụng năng lượng điện và chất xúc tác điện để sản xuất hóa chất giá trị gia tăng và nhiên liệu từ CO 2 [25]. Sự khử e 8 electron độc thân ban đầu của CO2 đến CO2•- yêu cầu điện thế âm rất lớn là - 1,90 V (so với SHE) trong các điều kiện tiêu chuẩn trong môi trường nước [26][27]. Tuy nhiên, ghép các bước khử electron với chuyển proton nói chung thuận lợi hơn khi tạo ra nhiều phân tử bền nhiệt động hơn [28][29][30]. Tùy thuộc vào điều kiện phản ứng, sự khử điện hóa có thể tạo ra nhiều sản phẩm từ CO2 bao gồm CO, HCOO-, CH4, C2H4, … [31][28].
Chất xúc tác điện kim loại đóng nhiều vai trò trong sự khử CO2 vì chúng đều cung cấp các điện tử để khử và ổn định các chất trung gian phản ứng thông qua hoạt động trên bề mặt [27][32]. Có nhiều vật liệu đã được nghiên cứu khảo sát hoạt tính xúc tác điện hoá cho phản ứng khử CO2, gồm kim loại chuyển tiếp và oxit kim loại chuyển tiếp, kim loại quý, kim loại kiềm và kiềm thổ, polymer dẫn… • Ở Cathode, quá trình khử CO2: CO2 + n(H+ + e− ) → C x H y Oz + nH 2O quá trình bay hơi hydrogen: 2H+ + e− → H2 • Ở Anode, quá trình oxi hóa nước: 2H2 O → O2 + 4H + + 4e− 1. CÁC PHẢN ỨNG ĐIỆN HÓA TẠI BỀ MẶT Điện hóa học nghiên cứu sự chuyển hóa tương hỗ giữa hóa năng và điện năng, nghĩa là nghiên cứu mối liên hệ qua lại giữa phản ứng hóa học và dòng điện. Việc nghiên cứu sự chuyển hóa tương hỗ giữa hai dạng năng lượng này cho phép hiểu được sâu sắc những quá trình hóa học xảy ra có kèm theo sự thay đổi số oxi hóa của các nguyên tố.
Lý thuyết điện hóa học cho phép chúng ta xác định được chiều hướng và mức độ diễn ra của các phản ứng oxi hóa - khử và công có ích mà chúng có thể sản sinh ra được. Áp dụng điện hóa học vào các kỹ thuật điện phân khác nhau (chế tạo và tinh chế kim loại, mạ điện, đúc điện…), thiết bị nghiên cứu khoa học (máy pH, máy đánh bóng điện phân…) e 9 1. Phản ứng oxi hóa – khử 1. Phản ứng oxi hóa – khử và cặp oxi hóa – khử liên hợp Nguyên tắc chung: trong phản ứng oxi hóa - khử, tổng số electron mà chất khử nhường phải bằng tổng số electron mà chất oxi hóa nhận.
Cân bằng phản ứng oxi hóa – khử Có hai phương pháp cân bằng phản ứng oxi hóa - khử thường dùng: • Phương pháp cân bằng electron. • Phương phán ion – electron. Điện cực và thế oxi hóa – khử Điện cực kim loại: là hệ thống gồm một thanh kim loại nhúng vào dung dịch muối của nó. Trong hệ sẽ đồng thời xảy ra hai quá trình : - Các cation kim loại từ trên thanh kim loại sẽ chuyển vào dung dịch (do chuyển động nhiệt và do sự hydrat hóa của các phân tử nước) để lại các electron trên bề mặt thanh kim loại: M dc − ne → M ddn+.
Mức độ diễn ra của quá trình này phụ thuộc vào khả năng nhường electron của kim loại. - Các ion kim loại ngoài dung dịch chuyển động, va chạm với bề mặt thanh kim loại, nhận electron trên thanh kim loại và kết tủa trên đó: M ddn+ + ne → M dc. Mức độ diễn ra của quá trình này phụ thuộc vào khả năng nhận electron của ion kim loại và nồng độ của ion đó trong dung dịch. Khi hệ đạt trạng thái cân bằng, tùy thuộc vào bản chất của kim loại và nồng độ của ion Mn+ trong dung dịch lúc ban đầu mà trên thanh kim loại có thể có điện tích âm hoặc dương.
Do lực hút tĩnh điện, ion trái dấu với bề mặt thanh kim loại sẽ bị hút, tạo thành một lớp tích điện trái dấu. Như vậy, giữa thanh kim loại và dung dịch đã xuất hiện một lớp điện tích kép. Hiệu điện tích của lớp điện tích kép đặc trưng cho khả năng nhường và nhận electron của kim loại và ion kim loại trong điện cực và được gọi là thế điện cực kim loại. e 10 Điện cực oxi hóa - khử: Nếu cặp oxi hóa - khử liên hợp đều là chất tan trong dung dịch (ví dụ cặp Fe3+/Fe2+: Fe3+ + 1e → Fe2+), có thể xác định khả năng nhường và nhận electron của chúng bằng cách nhúng một điện cực trơ (như Pt, grafit) vào dung dịch có chứa đồng thời cả hai dạng oxi hóa và khử.
Điện cực trơ không có khả năng tan vào dung dịch, nó chỉ có tác dụng chuyển electron. Trong hệ cũng xảy ra hai quá trình: • Dạng khử va chạm với điện cực, nhường electron cho điện cực. • Dạng oxi hóa sẽ nhận electron từ điện cực. Khi đạt đến trạng thái cân bằng, trên bề mặt điện cực có thể tích điện âm hay dương hiệu điện thế này cũng phụ thuộc vào khả năng nhường nhận electron của cặp oxi hóa - khử và nồng độ của chúng trong dung dịch.
Hiệu điện thế này gọi là thế oxi hóa - khử. Thế kim loại và thế oxi hóa - khử đều là giá trị đặc trưng cho khả năng nhường nhận electron của cặp oxi hóa - khử và đều phụ thuộc vào nồng độ của chúng trong dung dịch nên được gọi bằng tên chung là thế oxi hóa - khử. Thế điện cực chuẩn và chiều diễn ra của phản ứng oxi hóa – khử - Thế điện cực tiêu chuẩn và phương trình Nernst: Khả năng oxi hóa – khử của các chất được phản ánh qua khả năng nhận hoặc cho electron của chúng. Khả năng này được đánh giá bằng đại lượng thế điện cực của cặp oxi hóa – khử trong điều kiện xác định.
Quy ước: • Điện cực hydro tiêu chuẩn là điện cực hydro làm việc ở điều kiện: aH = 1mol / l , pH = 1atm. Quy ước: thế điện cực của điện cực hydro tiêu + 2 chuẩn ở mọi nhiệt độ H0 .2 e 11 • Thế điện cực của một điện cực bất kỳ là đại lượng bằng hiệu điện thế của nó so với điện cực hydro tiêu chuẩn. Nói cách khác, thế điện cực của một điện cực có giá trị bằng suất điện động của nguyên tố Ganvanic tạo thành từ điện cực đó và điện cực hydro tiêu chuẩn. Ký hiệu: Xét hệ điện cực gồm một kim loại M nhúng vào dung dịch chứa Mn+.
Phương trình phản ứng: Ox + ne → Red Ở trạng thái cân bằng: ox − kh = nF ox và kh là thế hóa học của dạng oxi hóa và dạng khử; là thế Ganvanic xuất hiện ở ranh giới kim loại – dung dịch và gọi là thế điện cực cân bằng.