CHƯƠNG 1 NHỮNG ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA POLYME 1. Giới thiệu chung vật liệu polyme 1. Khái niệm về polyme Polyme là mạch cao phân tử bao gồm các chuỗi giống hệt nhau của các monomer (còn gọi là các mắt xích) và được gắn với nhau nhờ các liên kết cộng hóa trị. Các phân tử có cấu trúc tương tự nhưng có khối lượng thấp hơn được gọi là các oligome.
Polyme được hình thành trong tự nhiên ngay từ những ngày đầu hình thành trái đất. Chẳng hạn như Xenlulozơ thành phần chủ yếu của tế bào thực vật và protit - thành phần chủ yếu của tế bào sống đều là những hợp chất quan trọng trong đời sống hàng ngày. Trạng thái vật lý và cấu trúc pha a. Trạng thái vật lý Vật chất có thể tồn tại ở 3 trạng thái vật lý: rắn, lỏng và khí.
Các trạng thái này’ khác nhau về đặc trưng chuyển động và mật độ của các phân tử hoặc nguyên tử. Trạng thái khí: ở trạng thái này, năng lượng chuyển động nhiệt của các phân tử lớn hơn nhiều so với năng lượng tác dụng tương hỗ giữa chúng. Do đặc trưng của trạng thái này là sự chuyển động hỗn loạn của các phân tử (bao gồm chuyển động tịnh tiến, chuyển động quay và chuyển động dao động), mật độ phân tử bé, không có hình dạng riêng và dễ thay đổi thể tích khi nhiệt độ thay đổi. Trạng thái lỏng: Là trạng thái trung gian giữa trạng thái khí và trạng thái rắn.
Ở trạng thái này lực hút tương hỗ giữa các phân tử xấp xỉ bằng kích thước phân tử. Do vậy chất lỏng có hình dạng riêng (dạng cầu khi không chịu tác dụng lực )nhưng dưới tác dụng của ngoại lực nó dễ dàng thây đổi hình dạng (do các phân tử luôn luôn chuyển động và vị trí cân bằng luôn luôn thay đổi). Thể tích dường như không đổi dưới tác dụng của ngoại lực. 1 Trạng thái rắn: là trạng thái mà mật độ phân tử cao (khoảng cách giữa các phân tử bé).
Các phân tử không thay đổi vị trí và chuyển động quay nhưng có sự dao động xung quanh vị trí cân bằng, các phân tử bé nên khó thay đổi hình dạng. Sự khác biệt về độ linh động của phân tử dẫn đến sự khác nhau về cơ chế khuếch tán. Đối với trạng thái lỏng và trạng thái khí thì sự khuyết tán xảy ra do sự thay đổi vị trí của các phân tử (khi phân tử này đến vị trí mới thì vị trí cũ của nó được thay thế bằng một phân tử khác). Đối với trạng thái rắn sự khuếch tán xảy ra chủ yếu do sự chuyển động (khuếch tán) của các nguyên tử đến vị trí trống bên cạnh.
Những vị trí trống này luôn luôn tồn tại trong vật thể do những sai sót trong cấu trúc của mạng lưới tinh thể. Chính vì cơ chế khác nhau như vậy nên sự khuếch tán trong chất rắn xảy ra chậm hơn trong chất lỏng và chất khí. Cấu trúc pha Có hai quan điểm về pha: Quan điểm nhiệt động học: pha là một phần thống nhất của hệ thống được tách riêng với các phần khác nhờ bề mặt phân chia giữa chúng và khác nhau về tính chất nhiệt động. Một pha phải có thể tích riêng ứng với điều kiện áp suất, nhiệt độ và các tính chất nhiệt độ động khác.
Theo quan điểm cấu tạo các pha khác nhau là do cách sắp sếp của các phân tử. Phụ thuộc vào cách sắp xếp này mà có hai trạng thái pha: pha tinh thể và pha vô định hình: Pha tinh thể: được đặc trưng bởi sự sắp xếp theo trật tự xa ba hướng của các phân tử hoặc nguyên tử. Pha vô định hình có tồn tại trật tự gần (trật tự gần là trật tự có khoảng cách xấp xỉ bằng kích thước phân tử). Các phân tử ở gần một phân tử xác định có thể có một trật tự xác định nhưng ở khoảng cách xa hơn thì trật tự này không tồn tại.
Pha tinh thể phần lớn tồn tại ở trạng thái tập hợp rắn (trừ tinh thể lỏng), còn pha vô định hình có thể ở cả ba trạng thái rắn, lỏng, khí. Giới thiệu vật liệu polyme trộn hợp (polyme blend) Đặc trưng quan trong nhất của polymer blend của hai (hoặc nhiều hơn) là cấu trúc pha. Polyme blend (như các phân tử dung môi khối lượng phân tử thấp) có thể đồng nhất hoặc tách pha và ở các mức độ khác nhau. Hệ số quan trong nhất tri phối khả năng trộn hợp các vật liệu có khối lượng phân tử thấp là entropy rất lớn so với các polymer có khối lượng phân tử lớn.
Đây là điều mà làm cho việc trộn hợp dung môi với dung môi được trong tỉ lệ lớn hơn so với việc kết hợp giữa polyme và dung môi. Phạm vi trộn hợp được giữa hỗn hợp polymer với polymer còn nhỏ hơn nữa rất nhiều. Như một ví dụ về hỗn hợp đồng nhất giữa hexane-ethanol và giữa các phân tử polyolefin và poly(vinyl alcohol). Nhiệt động học quá trình hòa tan các polyme Nghiên cứu nhiệt động học quá trình hòa tan các polyme góp phần mô tả định lượng quá trình trộn các polyme trong một hệ.
Nó đựơc xây dựng dựa trên cơ sở lý thuyết nhiệt động học của các dung dịch thường (dung dịch các hợp chất phân tử). Đối với một hệ gồm các polyme cho trước, từ các phương trình nhiệt động học, có thể tính toán và thiết lập giản đồ pha, hoặc từ các giản đồ pha xác định được bằng thực nghiệm người ta có thể phân tích, đánh giá các thông số phụ thuộc thành phần, nhiệt độ, thông số hòa tan. Phương pháp thiết lập và mô tả hàm nhiệt động của quá trình trộn các 3 polyme (năng lượng tự do trộn - ∆G) dựa vào thuyết nhiệt động học của Flory - Huggin là cơ sở quan trọng để đánh giá mức độ hòa trộn (miscibility) hay tương hợp (compatibility) của các polyme. Lý thuyết Flory - Huggin Lý thuyết Flory - Huggin về nhiệt động học quá trình trộn các polyme được xây dựng dựa trên cơ sở lý thuyết nhiệt động học về dung dịch các hợp chất thấp phân tử trong hóa lý đại cương.
Trong điều kiện đẳng nhiệt, đẳng tích và đẳng áp, phương trình nhiệt động mô tả quan hệ giữa biến thiên năng lượng tự do với biến thiên nội năng, biến thiên entropy và nhiệt độ của hệ được viết như sau: ∆G = ∆H - T∆S Trong đó: ∆G - biến thiên năng lượng tự do ∆H - biến thiên entalpy ∆S - biến thiên entropy T - nhiệt độ của hệ. Vận dụng lý thuyết về dung dịch các hợp chất thấp phân tử khi xây dựng phương trình nhiệt động của dung dịch các polyme, Flory và Huggin đã chấp nhận nhiều giả thuyết gần đúng. Trong đó, các mắt xích/đơn vị monome của các polyme thành phần được phân bố ngẫu nhiên trên các ô mạng có độ lớn bằng nhau và biến thiên entropy của hệ là: RV Φ A ΦB SM ln A ln Φ B ∆ = Vr M A Φ + M B Trong đó: R : hằng số khí lí tưởng V: thể tích của hệ Vr: thể tích của một đơn vị trong monomer 4 Sự hòa trộn, sự tương hợp của các polyme trong polyme hỗn hợp Để đánh giá mức độ trộn hợp các polyme, người ta đưa ra khái niệm về khả năng hòa trộn (miscibility) và khả năng tương hợp (compatibility) các polyme. Khả năng hòa trộn các polyme thể hiện sự trộn hợp các polyme ở mức độ phân tử và tạo thành hệ vật liệu polyme đồng thể, một pha.
Khi đó, mức độ phân tán của một polyme trong polyme nền đạt kích thước phân tử hay kích thước nanomet. Nhiều tính chất quan trọng và ưu điểm nổi trội của polyme hỗn hợp liên quan với đặc tính này của hệ. Khi các polyme thành phần không có khả năng trộn hợp về mặt nhiệt động, hệ các polyme sẽ tách pha. Khả năng tương hợp của các polyme thể hiện khả năng trộn hợp các polyme vào nhau bằng một biện pháp kỹ thuật/công nghệ nào đó để tạo thành một hệ vật liệu polyme mới đáp ứng các yêu cầu đề ra như tăng cường các tính chất cơ lý, tính chất điện môi, độ bền nhiệt, độ bền dung môi.
Thực tế có nhiều polyme không có khả năng trộn hợp về mặt nhiệt động (không hòa trộn) nhưng polyme hỗn hợp của chúng vẫn có tính chất cơ lý, độ bền nhiệt, độ bền điện tốt, tức là các polyme thành phần có khả năng tương hợp tốt, đáp ứng được các nhu cầu sử dụng nhất định. Các polyme hòa trộn với nhau khi biến thiên năng lượng tự do (khi trộn chúng với nhau mang giá trị âm).∆SM < 0 R R R R R R Theo lý thuyết Flory – Huggin cổ điển, quan hệ giữ ∆GM với thông số tương R R tác phân tử giữa các polyme và thành phần các polyme như sau: 2 polyme chỉ hòa trộn và tương tác hoàn toàn khi thông số tương tác phân tử λAB < 0. R R ∆GM /RTV = λAB Φ A Φ B R R R R R R R 1.2 Giản đồ pha và chuyển pha của hỗn hợp các polyme Một hỗn hợp polyme ở trạng thái cân bằng khi năng lượng tự do của quá trình trộn các polyme đạt giá trị cực tiểu trong những điều kiện cho trước nào đó. Điều này có nghĩa là một hỗn hợp đồng thể các thành phần polyme nằm ở trạng thái bền vững, khi năng lượng tự do (GM ) của nó thấp hơn tổng R R năng lượng tự do của các thành phần (GK ) ở trạng thái biệt lập.
R R 5 ∆GM = G M – G K <0 R R R R R R Như vậy, hai hỗn hợp polyme có tỷ lệ các thành phần khác nhau cũng có thể tồn tại bên nhau. Khi đó, năng lượng tự do GM là tổng của các GM của R R R R cả hai pha. Đối với một hỗn hợp các polyme, biến thiên năng lượng tự do GM R R là hàm của nhiệt độ và tỉ lệ của các polyme (Hình 1. Trong trường hợp này, các polyme tách ra khỏi nhau ở nhiệt độ T1, trong khi đó ở nhiệt độ T3, hệ luôn bền vững tại tất cả các nồng độ khác nhau của các polyme thành phần.
Ngược lại, ở nhiệt độ T2, khi phần thể tích của polyme A trong khoảng ΦA1 R RP P và ΦA 2, hệ sẽ phân thành hai pha có phần thể tích của polyme A trong mỗi R RP P pha là ΦA 1 và ΦA2. Các hỗn hợp polyme luôn ở trạng thái bền khi phần thể R RP P R RP P tích của polyme A nằm trong khoảng ΦA 1 và ΦA2.