Chương I. TỔNG QUAN Giới thiệu về pin mặt trời, pin mặt trời perovskite, lớp vận chuyển lỗ trống sử dụng vật liệu không pha tạp Octahexylphthalocyanine. Chương II. MÔ PHỎNG VÀ THỰC NGHIỆM Mô phỏng pin mặt trời bằng phương pháp SCAP – 1D và quy trình chế tạo pin mặt trời perovskite với lớp vận chuyển lỗ trống sử dụng vật liệu không pha tạp Octahexylphthalocyanine.
Quy trình chế tạo lớp perovskite bằng phương pháp lắng đọng dung dịch một bước. Chương III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN Trình bày các kết quả của quá trình mô phỏng và thực nghiệm. Khảo sát độ linh động của hạt tải điện, cấu trúc của pin thông qua một số các phép đo.
Đồng thời, khảo sát tính chất quang điện của lớp perovskite chế tạo. Chương IV. KẾT LUẬN Đã mô phỏng, chế tạo thành công pin mặt trời perovskite sử dụng vật liệu chuyển tiếp lỗ trống Octahexylphthalocyanine không pha tạp và lớp perovskite bằng 11 phương pháp lắng đọng dung dịch một bước. Cho thấy pin mặt trời perovskite sử dụng vật liệu chuyển tiếp lỗ trống Octahexylphthalocyanine không pha tạp có tiềm năng trở thành thiết bị quang điện có hiệu suất cao, giá thành rẻ.
Giới thiệu về pin mặt trời Do nhu cầu cuộc sống của con người ngày càng tăng, cùng với sự phát triển của xã hội vì vậy nguồn năng lượng hóa thạch đang dần cạn kiệt. Hơn nữa, việc đốt cháy các nguyên liệu hóa thạch đã thải vào không khí một hàm lượng CO2 lớn gây ra những hậu quả về môi trường như hiệu ứng nhà kính, hạn hán, lũ lụt…Đây chính là một trong những căn nguyên lớn nhất đe dọa tương lai cuộc sống trên Trái Đất. Chính vì vậy, việc thúc đẩy tìm kiếm nguồn năng lượng mới ít tốn kém hơn, an toàn hơn và sạch hơn ngày càng cấp thiết. Trong số rất nhiều lựa chọn, năng lượng mặt trời được xem như là một trong số các giải pháp tối ưu mà rất nhiều quốc gia hướng tới trong đó có Việt Nam.
Một trong những phương pháp hiệu quả nhất để chuyển đổi năng lượng mặt trời thành năng lượng điện là pin mặt trời. Mặc dù, hiệu ứng quang điện được phát hiện đầu tiên năm 1839 bởi nhà vật lý Pháp Alexandre Edmond Becquerel nhưng phải cho đến năm 1954 pin mặt trời đầu tiên có khả năng ứng dụng mới được ra mắt tại Bell Laboratories [11, 19]. Hiện nay có rất nhiều loại pin mặt trời nhưng chủ yếu chia làm hai loại: Pin mặt trời sử dụng Sillic đơn tinh thể - Sillic đa tinh thể và pin mặt trời màng mỏng (sản xuất thương mại như pin GaAs, CdTe, CIGS). Sau hai nhóm chính này, có một số công nghệ mới tuy chưa có khả năng thương mại cao nhưng đã được nghiên cứu trong phòng thí nghiệm bao gồm pin mặt trời hữu cơ, pin mặt trời chất màu nhạy quang (DSSC), pin mặt trời perovskite (PSC)… Những công nghệ này được dự đoán sẽ phát triển và có khả năng cạnh tranh với các công nghệ pin mặt trời trong tương lai.
Pin mặt trời sử dụng Sillic đơn tinh thể - Sillic đa tinh thể: Sau nhiều thập kỉ phát triển công nghệ sillic tinh thể thống trị thị trường PV toàn cầu với thị trường lần lượt là 55 % cho các sillic đa tinh thể và 36 % cho các silicon đơn tinh thể. Hiệu suất chuyển đổi năng lượng (PCE) cao nhất được báo cáo cho đến nay đối với các thiết bị quang điện sử dụng silicon tinh thể nghiên cứu là 25 % [12]. Nhưng bên 13 cạnh đó, pin mặt trời Si vẫn có những nhược điểm chưa khắc phục được. Đầu tiên, Sillic có độ tinh khiết cao thường rất đắt tiền do được cắt từ các thỏi sillic hình ống và không hấp thụ được hết bước sóng mặt trời.
Vì Si là chất bán dẫn có độ rộng vùng cấm hẹp và độ hấp thụ yếu hơn so với các chất bán dẫn khác nên các lớp Si thường được yêu cầu dày hơn so với các vật liệu khác (có độ dày khoảng 300 mm). Vì những lý do trên, chỉ riêng Si đã chiếm gần 50 % chi phí của một mô-đun năng lượng mặt trời hoàn thành. Để hạ giá thành sản phẩm, pin mặt trời màng mỏng đã được phát triển dựa trên kĩ thuật chế tạo hoàn toàn mới. Pin mặt trời màng mỏng có cấu trúc cơ bản của các pin mặt trời thương mại hiện nay.
Các lớp màng mỏng bán dẫn pha tạp được lắng đọng trên bề mặt kính (đế), tạo ra lớp chuyển tiếp p - n. Phương pháp này sử dụng ít vật liệu hơn, các đế có giá thành rẻ hơn, diện tích của pin lớn hơn. Tuy các lớp hoạt động có chiều dày nhỏ cỡ micromet nhưng vẫn có thể hấp thụ lượng ánh sáng đáng kể do khả năng hấp thụ mạnh của vật liệu. Phương pháp lắng đọng và xử lý vật liệu màng mỏng đã được thực hiện tại nhiệt độ thấp hơn so với phương pháp chế tạo Si.
Tỉ trọng vật liệu trong lớp hấp thụ thấp, độ tinh khiết và nhiệt độ xử lý thấp là những yếu tố giúp giảm chi phí sản xuất của pin mặt trời màng mỏng. Hiệu suất của các tế bào màng mỏng CdTe (Cadmium telluride ) và CIGS (sử dụng chất hấp thụ làm bằng đồng, indium, gallium, selenide) trong phòng thí nghiệm đạt lần lượt là 18 % và 21 % [5,6]. Trong khi đó, hiệu suất cao nhất đã được ghi nhận trong các tế bào sử dụng vật liệu GaAs (Gallium arsenide ). Pin mặt trời GaAs là một trong những loại pin mặt trời màng mỏng có hiệu suất cao nhất do đặc tính chịu nhiệt đặc biệt và hiệu suất cao.
Tính đến năm 2019, các tế bào GaAs đơn tinh thể đã cho thấy hiệu suất pin mặt trời cao nhất so với bất kỳ loại pin mặt trời tiếp giáp đơn nào với hiệu suất 29,1 % [7]. Mặc dù hiệu suất cao của các tế bào màng mỏng GaAs, nhưng chi phí vật liệu lớn đã cản trở khả năng áp dụng quy mô rộng của chúng trong ngành sản xuất pin mặt trời. Trong quá trình tìm kiếm và chế tạo các pin mặt trời mới hiệu suất cao (pin mặt trời hữu cơ, polyme, DSSC.), một công nghệ mới đã nổi lên như một ứng viên 14 tiềm năng của công nghệ quang điện đó là các pin mặt trời perovskite. Để giành được thị phần từ pin mặt trời silic tinh thể, các công nghệ thay thế phải cùng lúc đáp ứng ba tiêu chí sau: hiệu suất chuyển đổi năng lượng (PCE) cao, phí sản xuất thấp, và độ bền cao.
Nghiên cứu gần đây cho thấy pin mặt trời perovskite hữu cơ vô cơ halogenua (PSC) với CH3NH3PbI3 (MAPbI3) có tiềm năng đáp ứng các điều kiện trên và trở nên cạnh tranh trên thị trường. Giới thiệu về pin mặt trời hữu cơ vô cơ halogen perovskite 1. Giới thiệu về vật liệu perovskite Perovskite là một loại khoáng sản lần đầu tiên được tìm thấy ở dãy núi Ural và được đặt theo tên của Lev Perovski (người sáng lập Hiệp hội Địa lý Nga) vào năm 1893. Perovskite bao gồm Canxi, Titan và Oxy ở dạng CaTiO 3, có cấu trúc tinh thể ABX3, như trong hình 1.
Trong đó, A là một cation nguyên tử hoặc phân tử lớn mang điện tích dương ở trung tâm của một khối lập phương. Các góc của khối lập phương sau đó bị chiếm bởi các nguyên tử B - cũng là các cation tích điện dương và các mặt của khối được chiếm bởi một nguyên tử X nhỏ hơn có điện tích âm (anion). Mỗi cation có bán kính từ 1,6 Å đến 2,5 Å Hình 1. Cấu trúc tinh thể của perovskite 15 Vật liệu Perovskite được chia làm hai loại chính là: vật liệu perovskite oxit vô cơ và vật liệu perovskite halogen, như trong hình 1.
Trong đó vật liệu perovskite oxit vô cơ gồm vật liệu perovskite tự nhiên (khoáng vật) và vật liệu perovskite pha tạp. Vật liệu perovskite halogen được chia làm hai loại là vật liệu perovskite halogen kim loại kiềm (alkali- halide perovskite) và vật liệu perovskite hữu cơ vô cơ halogen (organo-metal halide perovskite). Perovskite tự nhiên (thiên nhiên) Perovskite oxit vô cơ (ABX3) Perovskite pha tạp (AxB1-xMyN1-yOzP3-z) Perovskite tinh thể (ABX3) Perovskite halogen Perovskite halogen kim loại kiềm (ABX3) Perovskite halogen hữu cơ – vô cơ Hình 1. Sơ đồ phân loại vật liệu perovskite Vật liệu hữu cơ vô cơ halogen ABX3 hoặc (R-NH3)2BX4, trong đó: · A là các ion dương gốc hữu cơ như: CH3NH3+, CH3CH2NH3+, HC(NH2)2 · B là các ion dương kim loại như: Pb2+ , Sn2+,… · R là các gốc hữu cơ như: C6H5(CH2)2+ , FC6H4(CH2)2+ · X là các ion âm nhóm halogen như: Cl- , I- , Br-… Vật liệu perovskite hữu cơ vô cơ halogen CH3NH3PbI3 có tính chất quang điện đặc biệt với độ rộng vùng cấm Eg = 1.55 eV tương ứng với bước sóng λ = 800 nm, quãng đường khuếch tán của hạt tải L = 100 nm đến 1µm làm cho vật liệu perovskite trở thành ứng cử viên lý tưởng cho các tế bào năng lượng mặt trời [8].
16 Những tính chất quang điện đặc biệt của vật liệu này đến từ mức năng lượng liên kết exciton thấp (30 meV) và độ linh động của hạt tải cao. Cấu trúc và tính chất vật lý của loại CH3NH3BX3 lần đầu tiên được đưa ra bởi Weber vào năm 1978. Trong đó những ion Pb2+ và Sn2+ chủ yếu ổn định với cấu trúc lập phương ở nhiệt độ thường. Ví dụ như CH3NH3PbI3, CH3NH3PbBr3, CH3NH3PbCl3 có cấu trúc thường gặp là cấu trúc lập phương (Cubic) ở nhiệt độ phòng với thông số mạng lần lượt là: a= 6.
Các thông số mạng thay đổi khi các phân tử có nhiều halogen khác nhau, ví dụ CH3NH3PbBr2.98 Å, CH3NH3PbBr2.03 Å, CH3NH3PbBr0. Như đã giới thiệu chung ở phần trên, vật liệu perovskite cấu trúc ba chiều (3D) hay còn gọi là vật liệu khối, có cấu trúc gồm sự lặp lại của các ô cơ bản. Trong đó, vị trí trung tâm là các cation A, bao quanh bởi các octahedral. Vật liệu perovskite cấu trúc 3D là ABX3 như: CH3NH3PbI3, CH3NH3PbBr3, CsPbI3… Cấu trúc của các vật liệu 3D này được nghiên cứu từ những năm 1870-1980 nhưng đến khi tìm thấy được khả năng ứng dụng của vật liệu này trong các thiết bị quang điện tử thì cấu trúc vật liệu được nghiên cứu rộng rãi.
Hiện nay, vật liệu perovskite cấu trúc 3D được nghiên cứu và ứng dụng nhiều trong các thiết bị quang điện tử như pin mặt trời, đi-ốt phát quang. Trong luận văn này chúng tôi đi nghiên cứu chế tạo pin mặt trời sử dụng CH3NH3PbI3. Pin mặt trời hữu cơ vô cơ halogen perovskite PSC là loại pin mặt trời có lớp bán dẫn được làm từ vật liệu perovskite hữu cơ vô cơ halogen. Với hiệu suất chuyển đổi năng lượng tăng nhanh chóng trong một thời gian ngắn, pin mặt trời perovskite đã thu hút được sự chú ý của các nhà khoa học.