Chương 1. Tổng quan về xi măng pooc lăng: 1. Khái niệm về xi măng pooc lăng: Xi măng là chất kết dính thủy lực ở dạng bột mịn, khi trộn với nước thành dạng hồ dẻo, có khả năng đóng rắn trong không khí và trong nước nhờ phản ứng hóa lý, thành vật liệu dạng đá [1]. Thành phần xi măng bao gồm: Clinker xi măng poóc lăng chiếm hơn 60%, phụ gia khoáng như đá vôi, xỉ lò cao, xỉ nhiệt điện, tro trấu, silicafum, meta caolanh,…, và đến nay có thêm phụ gia đặc biệt như phụ gia dãn nở, phụ gia siêu dẻo,…và phụ gia công nghệ.
Bằng cách pha thêm các loại phụ gia khác nhau vào clinker xi măng poóc lăng ta có thể thu được các loại xi măng có các tính năng nhất định theo mong muốn của người sử dụng. Ví dụ, để giảm độ co ngót của hồ xi măng người ta đã sử dụng phụ gia dãn nở thương phẩm như AC-89, để tăng khả năng chống thấm hay giảm tác hại của phản ứng kiềm ÷ silic người ta đã sử dụng phụ gia puzolan như meta caolanh, tro trấu,… Tuỳ theo đặc tính và ứng dụng, xi măng được phân loại thành nhiều loại khác nhau trong đó xi măng pooc lăng (PC) và các loại xi măng trên cơ sở clinker xi măng pooc lăng (clinker) được sử dụng phổ biến nhất trong xây dựng do các nguyên liệu dùng để sản xuất chúng khá phổ biến trên vỏ trái đất. Theo TCVN 5438:2004, quy định các thuật ngữ và định nghĩa liên quan đến loại, thành phần và tính chất kỹ thuật của xi măng như sau: • Xi măng alumin (aluminate cement) : Xi măng được nghiền từ clinker xi măng alumin (Clinker có chứa chủ yếu các khoáng canxi aluminat độ bazơ thấp.) • Xi măng đá vôi (lime stone cement) : Xi măng poóc lăng hỗn hợp chỉ có phụ gia đá vôi. 4 Luận văn thạc sỹ Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội • Xi măng giếng khoan dầu khí (oil well cement): Xi măng poóc lăng đặc biệt để bơm trám các giếng khoan dầu khí.
• Xi măng ít kiềm (low alkali cement): Xi măng chứa hàm lượng kiềm quy đổi ra Na2O (Na 2Oqđ = %Na2O + 0,658% K2O), không lớn hơn 0,6%. • Xi măng kỵ ẩm (hydrophobic cement): Xi măng chậm hút ẩm do có chứa phụ gia kỵ ẩm. • Xi măng mác cao (high strength cement): Xi măng có mác không nhỏ hơn 50. • Xi măng nở (expansive cement): Xi măng có khả năng tăng thể tích theo quy định trong quá trình thủy hóa và đóng rắn.
• Xi măng poóc lăng (portland cement): Xi măng được nghiền mịn từ clanhkle xi măng poóc lăng với thạch cao. • Xi măng poóc lăng bền sun phát (sunphate resisting portland cement): Xi măng poóc lăng khi đóng rắn có khả năng hạn chế tác động xâm thực của môi trường sun phát. • Xi măng poóc lăng đóng rắn nhanh (rapid hardenning cement): Xi măng poóc lăng phát triển cường độ cao ở tuổi sớm. • Xi măng poóc lăng hỗn hợp (blended portland cement): Xi măng poóc lăng có phụ gia khoáng.
Loại và lượng phụ gia pha vào theo quy định của tiêu chuẩn riêng. • Xi măng poóc lăng ít tỏa nhiệt (low heat portland cement): Xi măng poóc lăng có lượng nhiệt tỏa ra trong quá trình đóng rắn, ít hơn xi măng poóc lăng thông dụng và được quy định theo tiêu chuẩn riêng. • Xi măng poóc lăng puzolan (puzzolan portland cement): Xi măng poóc lăng có phụ gia puzolan. Lượng phụ gia pha vào theo quy định của tiêu chuẩn riêng.
• Xi măng poóc lăng trắng (white portland cement): Xi măng được nghiền từ clinker xi măng poóc lăng trắng với thạch cao, có thể có phụ gia trắng. 5 Luận văn thạc sỹ Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội • Xi măng xây trát (masonry cement):Chất kết dính thủy dạng bột mịn, thành phần gồm clinker xi măng poóc lăng và phụ gia khoáng, có thể có phụ gia hữu cơ. Khi nhào trộn với cát và nước thu được vữa tươi có tính công tác phù hợp để xây và hoàn thiện. • Xi măng poóc lăng xỉ lò cao (blast furnace portland cement): Xi măng poóc lăng có phụ gia xỉ hạt lò cao.
Lượng phụ gia pha vào theo quy định của tiêu chuẩn. Clinker xi măng - Thành phần hóa học và khoáng của clinker poóc lăng Thành phần hóa học: Các oxit chính trong clinker bao gồm oxit canxi (CaO) chiếm khoảng 62-68%, oxit silic (SiO2) chiếm khoảng 21 - 24 %, oxit nhôm (Al2O3) chiếm khoảng 4 - 8%, oxit sắt (Fe 2O3) chiếm khoảng 2 - 5%, oxit magiê (MgO) chiếm khoảng 3-5%, oxit kiềm như oxit natri (Na 2O) và oxit kali (K2O) chiếm khoảng 0,1-0,5%, và còn một số oxit khác chiếm khối lượng không đáng kể.[2] Thành phần khoáng trong clinker chủ yếu là khoáng alit (công thức hoá học là 3CaO.SiO 2 hay thường được viết tắt là C3S), belit (công thức là 2CaO.SiO2, trong clinker xi măng chủ yếu dạng thù hình βC 2S), Canxi aluminat có công thức là 3CaO.Al2O3 hay thường được viết tắt là C3A), celit (C4AF) có công thức là 4CaO.Fe2O 3 hay thường được viết tắt là C4AF). Thành phần khoáng của clinker được trình bày ở bảng sau: Bảng 1 - Thành phần pha của clinker Thành C3S C2S C 3A C4AF phần khoáng (3CaO.Fe2O3) Tỷ lệ % 45 ÷ 65 10 ÷ 37 5 ÷ 15 10 ÷ 18 Đặc tính của từng khoáng: 6 Luận văn thạc sỹ Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội * Alit (C3S): bao gồm 3CaO.SiO2 chiếm từ 45 ÷ 65% trong clinker. Khoáng này phản ứng nhanh với nước, tỏa nhiều nhiệt khi thủy hóa, cho sản phẩm đông rắn cao nhất sau 28 ngày.
Đây là một pha quan trọng nhất của clinker. * Belit (C 2S): bao gồm 2CaO.SiO2 chiếm 17 ÷ 37% trong clinker. Khoáng này phản ứng với nước tỏa ít nhiệt và cho sản phẩm có độ đông rắn chậm nhưng 28 ngày cũng đạt được yêu cầu bằng alit. * Celit (C4AF): là khoáng chiếm 10 ÷ 18% trong clinker, là khoáng cho phản ứng tỏa ít nhiệt và cho sản phẩm phản ứng với độ đông rắn thấp.
* Canxi aluminat (C3A): bao gồm 3CaO.Al 2O3 chiếm 5 ÷ 15%, khoáng này phản ứng nhanh với nước tỏa nhiều nhiệt. Cho sản phẩm phản ứng ban đầu đông rắn nhanh nhưng sau đó lại chậm và kém hơn alit. Quá trình hydrat hóa xi măng: Khi trộn xi măng với nước các pha C3S, C2S, C3A, C 4AF thực hiện phản ứng thủy hóa. Tùy thuộc vào loại khoáng, hàm lượng khoáng, hàm lượng pha thủ y tinh mà khả năng tương tác của xi măng với nước là khác nhau tạo nên pha kết dính CxSyHz và CxAyHz, Ca(OH)2 và Al(OH)3.
Quá trình hydrat hoá tạo pha Pooclandit Ca(OH) 2 và Al(OH)3 là những hiđrôxit dễ tan trong nước và chúng để lại những lỗ trống mao quản đồng thời quá trình bay hơi của nước dư trong thời kỳ hydrat hoá tạo nên độ xốp, rỗng trong vữa xi măng và bê tông. Quá trình hydrat hoá các khoáng xi măng khi có mặt các thành phần của phụ gia khoáng hoạt tính. Phụ gia khoáng hoạt tính puzolan là phụ gia có nguồn gốc thiên nhiên hay nhân tạo ở dạng nghiền mịn khi khuấy trộn tự nó không đóng rắn (như tro bay), nhưng có khả năng phản ứng với vôi ở nhiệt độ thường tạo thành các sản phẩm có hoạt tính kết dính. Khả năng liên kết vôi của phụ gia ở nhiệt độ thường khi có mặt nước gọi là hoạt tính puzolan.
Độ hoạt tính của phụ gia phụ thuộc vào thành phần hóa học và thành phần khoáng, tỉ lệ pha tinh thể và pha thủy tinh, độ nghiền mịn 7 Luận văn thạc sỹ Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội của phụ gia. Số lượng và vôi thêm vào có ảnh hưởng đến nhiệt động học đông kết và rắn chắc của hệ cũng như lượng nước tham gia hình thành pha hydrat. Hiện nay độ hoạt tính của phụ gia khoáng được đánh giá thông qua chỉ số hoạt tính (với ximăng poóc lăng và vôi) và độ hút vôi, trong đó chỉ số hoạt tính với xi măng là quan trọng nhất. Cơ chế hoạt tính puzolan: khi xi măng thủy hóa sinh ra pha portlandic, đặc biệt là C3S khi thủy hóa sinh ra khoảng 6-9% Ca(OH) 2.
Trong khi đó thành phần chủ yếu của phụ gia hoạt tính puzolan là SiO2 vô định hình hay còn gọi là SiO2 hoạt tính và Al2 O3 hoạt tính. Các khoáng hoạt tính này sẽ phản ứng với Ca(OH) 2 giải phóng từ quá trình thủy hóa xi măng tạo thành các hợp chất C-S-H, C-A-H theo phương trình sau: 3Ca(OH)2 + SiO2(vô định hình) + H 2O →3CaO.H2O 3Ca(OH)2 + Al2O3 + 6H2O →3CaO.6H2O Các sản phẩm tạo ra từ phản ứng hoạt tính puzolan có cấu trúc giống cấu trúc C-S-H làm đặc chắc thêm cấu trúc của bê tông, kết quả là cường độ của bê tông được gia tăng, độ thấm giảm. Căn cứ vào nguồn gốc tạo thành, phụ gia hoạt tính puzolan được chia thành hai loại phụ gia nguồn gốc thiên nhiên và phụ gia nguồn gốc nhân tạo. Puzolan thiên nhiên bao gồm: đất điatomit, đá phiến sét, tro núi lửa, đá bọt, đá bazan… Pulơzan nhân tạo như: tro bay, tro trấu, silicafum, sisex, metacaolanh… Phụ gia hoạt tính puzolan chứa nhiều oxit silic, oxit nhôm ở dạng vô định hình có hoạt tính.
Do đó mà puzolan có những đặc tính tốt như sau: + Hạ thấp lượng nhiệt tỏa ra trong quá trình hydrat hóa và giảm co ngót do nhiệt. + Giảm phản ứng hóa học của cốt liệu kiềm. + Tăng độ đặc chắn, tính chống thấm, tính bền của bê tông ở trong nước và trong đất có tính chất ăn mòn. + Trước khi sử dụng thì phụ gia hoạt tính puzolan cần phải được gia nhiệt và nghiền mịn để tăng hoạt tính.
Tuy nhiên phụ gia hoạt tính puzolan có thể kéo dài 8 Luận văn thạc sỹ Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội thời gian đông kết, làm chậm sự phát triển cường độ bê tông ở tuổi ban đầu 3-7 ngày, nhưng cuờng độ bê tông ở tuổi 28 ngày vẫn đạt và thậm chí còn vượt bê tông không chứa puzolan. + Giảm nhiệt thủy hóa nên thích hợp với bêtông khối lớn. + Giảm lượng nước trộn hoặc tăng tính dễ đổ. Phụ gia trộn hỗn hợp hay có thể được nghiền riêng thành bột mịn để pha vào bê tông và vữa trước khi trộn.
Xỉ hạt lò cao thường được nghiền mịn hơn xi măng, tỷ diện của nó lớn hơn 3500cm 2/g, có khi tới 5000cm2/g, xỉ càng mịn hoạt tính càng tăng. Tổng quan về xi măng có nước tiêu chuẩn thấp: 1. Cơ sở khoa học và ứng dụng của xi măng nước tiêu chuẩn thấp Các nghiên cứu cho thấy, khi tăng tỷ lệ diện tích bề mặt của xi măng từ 3000 đến 4000-4500cm2/g, cường độ của đá xi măng tăng 15-20% trong điều kiện cùng tỷ lệ N/X và mức độ thuỷ hoá.