ĐẶT VẤN ĐỀ Năng lượng luôn là một yếu tố quan trọng trong phát triển kinh tế và xã hội của nước ta và trên thế giới. Hiện nay, các nguồn nhiên liệu hóa thạch (như xăng dầu, than đá, khí đốt.) được sử dụng chính trong các ngành công nghiệp, sản xuất. Tuy nhiên, nguồn năng lượng hóa thạch có hạn, giá thành ngày càng cao. Bên cạnh đó, khi sử dụng nhiên liệu hóa thạch gây ra ô nhiễm môi trường không khí và cũng là nguyên nhân chính gây nên nóng lên toàn cầu từ việc phát thải khí CO2.
Do đó, để phát triển kinh tế một cách bền vững thì xu hướng chuyển dịch từ năng lượng hóa thạch sang sử dụng năng lượng xanh, tái tạo như gió, mặt trời.và thân thiện với môi trường là vấn đề rất thiết thực và cấp bách của nước ta cũng như trên thế giới. Hyđrô được coi là một nguồn giải pháp năng lượng trong tương lai. Nó đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về năng lượng và không tạo ra khí CO 2. Hyđrô khi cháy trong môi trường không khí tạo ra năng lượng sạch, sản phẩm phụ là nước thân thiện với môi trường.
Hydro có thể lưu trữ điện năng trong các tế bào pin nhiên liệu. Hyđrô có nhiều ứng dụng trong nhiều lĩnh vực của đời sống như: máy phát điện, hóa học, vũ trụ, ngành công nghiệp ô tô, hóa dầu, truyền thông, y học và công nghiệp bán dẫn[1-3]. Trong các điều kiện thường và trạng thái tự do hydrô thường không màu, không mùi và không vị, không độc nên khi rò rỉ không gây bất kì tác động tiêu cực đến môi trường. Hydro có tỉ trọng bằng 1/14 tỉ trọng của không khí nên nó phân tán nhanh trong không khí, do đó làm giảm khả năng cháy đến một giới hạn nhất định.
Tuy nhiên, một khi nồng độ hydro đạt đến 4% trong khí quyển, nó gây hỏa hoạn nghiêm trọng thậm chí là nổ. Hydro phải được kiểm soát và lưu trữ một cách an toàn. Hơn nữa, việc kiểm tra khắt khe nồng độ của H 2 trong các ứng dụng của nó phải được quan tâm đặc biệt để thu được hiệu quả sử dụng cao nhất. Vì vậy, việc kiểm soát hàm lượng H2 đã thu hút sự chú ý của rất nhiều nhà khoa học, đặc biệt sự phát triển của một cảm biến rẻ, tin cậy, độ nhạy và tính chọn lọc cao là then chốt để mở rộng ứng dụng của H2 như là một nhiên liệu.
Dựa trên nguyên tắc dò khí, rất nhiều cảm biến khí hydro đã được tận dụng như: cảm biến đo độ dẫn nhiệt, cảm biến bán dẫn, cảm biến xúc tác, cảm biến quang, cảm biến nhiệt điện, cảm biến điện hóa học. Với tính ưu việt là thời gian đo nồng độ khí nhanh, độ nhạy cao, đơn giản và chính xác, cảm biến dựa trên 2 nguyên tắc điện hóa đã được sử dụng rộng rãi trong việc đo khí H 2 ở nồng độ thấp. Trong các thành phần của cảm biến đo khí hydrô, điện cực làm việc là một trong những yếu tố quyết định nhất đến hiệu suất của cảm biến. Điện cực làm việc thường có chất xúc tác, thường được sử dụng là Pt hoặc Pd, phân bố đều trên màng polyme.
Để tận dụng tối đa đặc tính xúc tác của các kim loại này thì điều quan trọng là phải phân tán chúng một cách hiệu quả trên các vật liệu có diện tích bề mặt lớn, chẳng hạn như sợi TiO2, silicon xốp, hạt nano Si, ống nano cacbon (CNT). Với kích thước nhỏ, độ dẫn điện và hoạt động xúc tác cao, ống nanocacbon là vật liệu tốt nhất để tăng hiệu quả xúc tác cho cảm biến H2. Nhiều hệ vật liệu Pt/CNT đã được chế tạo thành công bằng cách sử dụng phương pháp lắng đọng điện hóa hoặc phương pháp khử hóa học. Tuy nhiên, ứng dụng của những vật liệu này cho cảm biến hydro vẫn chưa được nghiên cứu rộng rãi.
Kumar và cộng sự đã chế tạo được cảm biến hydro nhiệt độ phòng bằng xúc tác lắng đọng hơi hóa học của Pt trên các ống nano cacbon đa vách (MWNTs). Sự phản hồi của phản ứng được đo bằng sự thay đổi điện trở, tuy nhiên kết quả cho thấy rằng cảm biến có độ nhạy thấp và phản ứng không tuyến tính đối với các loại hydro [7]. Trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung vào việc phát triển một cảm biến hydro có hiệu suất làm việc cao, đặc biệt là độ nhạy và độ ổn định rất cao đối với hydro ở nhiệt độ phòng. Do đó, tôi đã chọn đề tài “Nghiên cứu chế tạo và ứng dụng cảm biến điện hóa trên cở sở Pt/CNTs để xác định H2” 3 CHƢƠNG 1.
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CẢM BIẾN 1.1 Kháı niệm cảm biến Cảm biến là một thiết bị phát hiện một đại lượng thay đổi, thường bằng điện tử và chuyển phép đo thành tín hiệu có thể đo đạc được như tín hiệu điện, nhiệt, khí, âm thanh, ánh sáng để ghi lại ở nơi khác ( Xem Hình 1. Thông thường, cảm biến có ba thành phần cơ bản đã được xác định: một phần tử cảm biến, vật liệu đóng gói cảm biến và phần cứng xử lý tín hiệu cảm biến. Đại Cảm Tín hiệu lƣợng biến đo đƣợc cần đo Hình 1. Sơ đồ mô tả khái niệm cảm biến, trong đó tín hiệu cần đo khi qua cảm biến sẽ biến thành tín hiệu điện [8] Cơ chế tác động của cảm biến là phản ứng của một loại thuộc tính vật lý, hóa học, sinh học,v v.nào đó ở đầu vào (tác nhân kích thích) và chuyển đổi nó thành tín hiệu điện tương thích với mạch điện tử ở đầu ra.
Ta có thể nói rằng, cảm biến sẽ biến một tín hiệu không điện thành tín hiệu điện. Khi nói đến từ “ điện”, có nghĩa là một tín hiệu có thể phân kênh, khuếch đại và biến đổi bởi các thiết bị điện tử. Tín hiệu đầu ra của cảm biến có thể ở dạng điện áp, dòng điện, hoặc pha dao động. Ngoài ra, còn có thể mô tả về biên độ, tần số, pha hoặc mã kỹ thuật số.
Tập hợp các đặc điểm này là được gọi là định dạng tín hiệu đầu ra. Do đó, một cảm biến đơn giản nhất là cảm biến mà có thể trực tiếp nhận tín hiệu từ đầu vào và đưa tín hiệu đầu ra là tín hiệu điện.2 Cảm biến khí Cảm biến khí là một thiết bị được dùng để phân tích, đo đạc nồng độ khí trong môi trường. Cảm biến khí sẽ nhận tín hiệu đầu vào là các loại khí, nồng độ 4 khí,. và tín hiệu đầu ra là tín hiệu điện.
Có nhiều loại cảm biến khí khác nhau, tùy cách phân loại của chúng. Cảm biến có thể được phân loại, theo nguyên tắc hoạt động như : cảm biến hồng ngoại, cảm biến điện hóa, cảm biến nhiệt xúc tác, cảm biến kiểu thay đổi khối lượng, cảm biến kiểu điện trở,vv.1 Các kiểu cảm biến khí a) Cảm biến điện hóa Cảm biến điện hóa hoạt động dựa trên nguyên lý có dòng điện chạy qua, thông qua một điện cực cảm nhận được tạo ra bởi một phản ứng điện hóa, trên bề mặt của điện cực cảm ứng được phủ một chất xúc tác, ví dụ như bạch kim. Về cơ bản, cảm biến điện hóa dựa trên một cực dương kim loại và một cực âm kim loại, ngập trong dung dịch điện phân (ví dụ như H 2SO4) cho phép vận chuyển ion giữa cả hai điện cực. Nói chung, cảm biến điện hóa có hai hoặc ba cấu hình điện cực khác nhau với một màng để vận chuyển khí, dòng điện tỷ lệ với nồng độ hydro và dòng điện này có thể được đo để xác định nồng độ khí (xem Hình 1.
Chất điện phân có thể là một polyme rắn, để loại bỏ khả năng rò rỉ khí có thể xảy ra, có thể sử dụng chất điện phân lỏng[9].2: Sơ đồ nguyên tắc đo cảm biến điện hóa[9] 5 Cảm biến điện hóa có hai cấu hình chính là cảm biến dòng điện và cảm biến điện thế. a) Cảm biến dòng điện (Amperometric sensor) Cảm biến dòng điện hoạt động ở điện áp không đổi và tín hiệu cảm biến là dòng giới hạn khuếch tán. Stetter và Li [10] đã đưa ra một đánh giá, có ba thành phần chính của một cảm biến đo dòng điện được biểu diễn trong Hình 1. Đầu tiên là các điện cực, nơi diễn ra quá trình trao đổi điện tử trên bề mặt điện cực.
Một cảm biến điện hóa có thể bao gồm hai điện cực, một cực âm và một cực dương (điện cực chỉ thị và tham chiếu). Trong nhiều trường hợp, điện cực tham chiếu RE không duy trì điện thế không đổi trong suốt dòng điện, do đó không thể xác định chính xác điện thế làm việc WE của điện cực làm việc WE. Để khắc phục, chúng ta lắp thêm một điện cực đối vào hệ thống điện hóa để nhận dòng điện. Một vôn kế được đặt giữa điện cực chuẩn và điện cực làm việc, và một ampe kế được gắn vào điện cực đối diện của nguồn điện.
Điện cực làm việc (WE: Working Electrode) Điện cực làm việc là thành phần quan trọng của hệ điện hóa, đóng vai trò là yếu tố tải nạp trong phản ứng sinh hóa, các quá trình oxi hóa khử diễn ở bề mặt điện cực. Bạch kim, vàng, carbon và thủy ngân là những vật liệu được sử dụng phổ biến nhất do tính trơ, dẫn điện. Ngoài ra cũng sử dụng điện cực phi kim, điển hình là điện cực carbon thủy tinh, carbon pyrolytic và carbon graphite. Carbon graphite được sử dụng nhiều do chi phí sản xuất thấp, dẫn điện tốt, dãn nở nhiệt thấp, khả năng chức năng hóa cao.
Điện cực tham chiếu (RE: Reference Electrode) Điện cực tham chiếu là điện cực có điện thế ổn định và không thay đổi bằng cách sử dụng hệ thống oxy hóa khử với nồng độ không đổi (đệm hoặc bão hòa). Các điện cực này phải dẫn điện và ổn định về mặt hóa học. Điện cực so sánh (RE) kiểm soát điện thế trên điện cực WE, điều chỉnh thế năng trên điện cực WE khi thế năng bề mặt tác động lên bề mặt điện cực WE bị lệch do phân cực quá mức. Do xảy ra phản ứng thuận nghịch trên bề mặt điện cực, thế điện cực của điện cực RE ít thay đổi khi có dòng điện đi qua với cường độ biến thiên trong một khoảng nào đó.
Điện cực được sử dụng thông dụng nhất là điện cực Ag/AgCl, điện cực calomen (Hg/HgCl2), điện cực Hg/ HgSO4, điện cực Hg/ HgO. 6 Điện cực đối (CE: Counter Electrode) Điện cực đối là điện cực tạo dòng kín, giúp phân cực và ổn định thế năng trên RE. Thường sử dụng kim loại có tính ổn định cao, diện tích bề mặt lớn, điển hình là platin, titan.