Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Tài sản là cơ sở kinh tế trực tiếp bảo đảm cho sự tồn tại, ổn định và phát triển của mỗi gia đình. Trong đời sống hôn nhân, bên cạnh các mối quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản giữa vợ và chồng luôn phát sinh thường xuyên nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt, nuôi dưỡng, giáo dục con cái và thực hiện các giao lưu dân sự, kinh tế với xã hội. Quan hệ tài sản này không chỉ gắn liền với quyền, lợi ích hợp pháp của các bên vợ chồng mà còn liên quan chặt chẽ đến quyền lợi của người thứ ba tham gia giao dịch. Thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy phần lớn các mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh khi đời sống chung không thể duy trì, đặc biệt là khi ly hôn, đều liên quan trực tiếp đến việc phân định và chia tài sản.
Mặc dù hệ thống pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam đã qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện, việc áp dụng các quy định về chế độ tài sản của vợ chồng trong thực tiễn vẫn gặp phải những bất cập, vướng mắc. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc một số quy phạm pháp luật trong Luật Hôn nhân và gia đình vẫn mang tính định khung, hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành còn thiếu tính cụ thể, đồng thời chưa bao quát hết sự biến chuyển phức tạp của các quan hệ kinh tế - xã hội. Trước thực trạng đó, khóa luận tốt nghiệp "Nghiên cứu chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam" được thực hiện nhằm phân tích một cách có hệ thống cơ sở lý luận, nội dung pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng, từ đó đề xuất các định hướng hoàn thiện quy định pháp luật.
Khóa luận xác định các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về chế độ tài sản của vợ chồng.
- Nghiên cứu hệ thống các quy định của pháp luật hiện hành về chế độ tài sản của vợ chồng.
- Tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng thông qua hoạt động xét xử của ngành Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp hôn nhân và gia đình liên quan trực tiếp đến tài sản.
- Tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng tại các tổ chức hành nghề công chứng (khảo sát thực tế tại Văn phòng Công chứng Trần Bằng, Hải Phòng) thông qua hoạt động công chứng các hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản của vợ chồng; qua đó đánh giá những kết quả đạt được và các điểm hạn chế.
- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề lý luận, quy định pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng. Phạm vi nghiên cứu về mặt pháp lý tập trung chủ yếu vào Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Bộ luật Dân sự năm 2005, Hiến pháp năm 2013, Luật Đất đai năm 2013 cùng các văn bản hướng dẫn thi hành liên quan. Về mặt không gian và thực tiễn, đề tài khảo sát hoạt động xét xử của hệ thống Tòa án nhân dân và hoạt động công chứng tại Văn phòng Công chứng Trần Bằng thuộc thành phố Hải Phòng. Về mặt lịch sử và so sánh, đề tài mở rộng phạm vi xem xét chế độ tài sản qua các thời kỳ lịch sử của Việt Nam và pháp luật của một số quốc gia trên thế giới. Thời gian thực hiện nhiệm vụ đề tài từ ngày 14 tháng 03 năm 2022 đến ngày 18 tháng 06 năm 2022.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên việc xác định bản chất của chế độ tài sản vợ chồng là tổng hợp các quy phạm pháp luật hoặc thỏa thuận của vợ chồng điều chỉnh các quan hệ tài sản, bao gồm: căn cứ xác lập tài sản; quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng; các trường hợp và nguyên tắc phân chia tài sản. Đề tài tiếp cận hai mô hình chế độ tài sản cơ bản được thừa nhận trong khoa học pháp lý:
- Chế độ tài sản ước định (chế độ tài sản dựa trên sự thỏa thuận/hôn ước của hai bên trước khi kết hôn).
- Chế độ tài sản pháp định (chế độ tài sản do pháp luật dự liệu sẵn áp dụng khi các bên không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận bị vô hiệu).
Về mặt lý luận lập pháp, khóa luận tổng hợp 4 dạng chế độ tài sản pháp định phổ biến trong lịch sử và luật học so sánh:
| Loại hình chế độ tài sản |
Khái niệm và phạm vi khối tài sản |
Điển hình áp dụng theo pháp luật |
| Cộng đồng toàn sản |
Toàn bộ tài sản vợ, chồng có trước và tạo ra trong thời kỳ hôn nhân (kể cả thừa kế, tặng cho riêng) đều trở thành tài sản chung; không tồn tại tài sản riêng. |
Luật Gia đình năm 1959 (chính quyền Ngô Đình Diệm), Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa). |
| Cộng đồng động sản và tạo sản |
Tài sản chung gồm toàn bộ động sản có trước và trong hôn nhân, cùng với các bất động sản tạo lập trong thời kỳ hôn nhân. Bất động sản có trước hôn nhân hoặc được tặng cho/thừa kế riêng là tài sản riêng. |
Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804; Sắc luật số 15/64 và Bộ dân luật năm 1972 tại miền Nam Việt Nam trước năm 1975. |
| Cộng đồng tạo sản |
Tài sản chung chỉ bao gồm các tài sản do vợ chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân cùng hoa lợi, lợi tức phát sinh; tài sản có trước hôn nhân hoặc được thừa kế, tặng cho riêng là tài sản riêng. |
Đạo luật số 65-570 của Pháp, Luật Hôn nhân Trung Quốc năm 1980, Bộ luật Dân sự Nhật Bản (Điều 762); Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 1986, 2000, 2014. |
| Phân sản |
Không tồn tại khối tài sản chung; toàn bộ tài sản có trước và sau khi kết hôn đều thuộc sở hữu riêng của từng người; vợ chồng có nghĩa vụ đóng góp tài sản để đáp ứng nhu cầu gia đình. |
Từng được áp dụng trong pháp luật của Vương quốc Anh, Cộng hòa Italia. |
Để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu, tác giả phối hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học:
- Phương pháp lịch sử: Sử dụng để khảo cứu quá trình phát triển của các quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ tài sản của vợ chồng qua các giai đoạn lịch sử tại Việt Nam (thời kỳ phong kiến, thời kỳ Pháp thuộc, giai đoạn 1954–1975 ở hai miền Nam - Bắc, giai đoạn sau năm 1975 và các mốc lập pháp 1986, 2000, 2014).
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng để phân tích các quy phạm pháp luật thực định điều chỉnh tài sản chung, tài sản riêng, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, thủ tục phân chia tài sản, từ đó tổng hợp thành hệ thống luận điểm khoa học.
- Phương pháp so sánh luật học: So sánh sự thay đổi giữa các văn bản pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ (đặc biệt giữa Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và năm 2014), đồng thời đối chiếu với các nguyên tắc pháp lý về chế độ tài sản của một số quốc gia (Pháp, Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc, Bungari).
- Phương pháp thống kê: Sử dụng trong quá trình khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật, phân tích các số liệu thực tế qua công tác xét xử tranh chấp tài sản của Tòa án và nghiệp vụ chứng nhận giao dịch tài sản tại Văn phòng công chứng.
Nguồn dữ liệu của khóa luận bao gồm: hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam (Hiến pháp năm 2013; Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và năm 2014; Bộ luật Dân sự năm 2005; Luật Đất đai năm 2013; Nghị định số 70/2001/NĐ-CP; Nghị định số 126/2014/NĐ-CP; Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao); các tài liệu giáo trình của Trường Đại học Luật Hà Nội, Học viện Tư pháp; sách chuyên khảo và luận án, luận văn của các học giả (Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Ngọc Điện, Nguyễn Hồng Hải, Trần Thị Thùy Liên, Nguyễn Thị Hạnh); các bài viết chuyên ngành trên Tạp chí Luật học; cùng hồ sơ, bản án thực tiễn xét xử và hồ sơ công chứng tại địa bàn Hải Phòng.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về chế độ tài sản của vợ chồng
Chương 1 tập trung làm rõ các vấn đề lý luận tảng nền của chế định tài sản vợ chồng trong khoa học luật dân sự và luật hôn nhân gia đình:
- Khái niệm, đặc điểm, vai trò và ý nghĩa: Khóa luận xác định quan hệ tài sản giữa vợ và chồng mang tính chất đặc thù gắn liền với đời sống hôn nhân chung, không thể đồng nhất hoàn toàn với quyền sở hữu cá nhân thông thường trong Bộ luật Dân sự. Chế độ tài sản mang 4 đặc điểm chung: chủ thể phải có đầy đủ năng lực và tuân thủ điều kiện kết hôn; nhằm bảo đảm quyền lợi của gia đình; chỉ tồn tại trong thời kỳ hôn nhân; quyền định đoạt tài sản riêng có thể bị hạn chế nếu tài sản đó là nguồn sống duy nhất của gia đình. Chế độ tài sản theo thỏa thuận (hôn ước) có các đặc điểm riêng: phải do hai bên tự nguyện xác lập trước khi kết hôn, phát sinh hiệu lực trong thời kỳ hôn nhân và phải được cơ quan có thẩm quyền công nhận/xác nhận tính hợp pháp.
- Phân loại chế độ tài sản: Phân tích chi tiết chế độ tài sản ước định (theo thỏa thuận) và chế độ tài sản pháp định (theo luật định), cùng bốn mô hình cộng đồng tài sản và phân sản trên thế giới.
- Tiến trình lịch sử pháp luật Việt Nam:
- Thời kỳ phong kiến: Quốc triều Hình luật (Luật Hồng Đức) ghi nhận chế độ cộng đồng toàn sản, phân định ba khối điền sản gồm: phu điền sản (tài sản của chồng), thê điền sản (tài sản của vợ) và tần tảo điền sản (tài sản do hai vợ chồng cùng tạo dựng), đặt dưới quyền quản lý của người chồng nhưng vẫn ghi nhận quyền tham gia quản trị của người vợ.
- Thời kỳ Pháp thuộc: Bộ luật Dân sự Bắc kỳ năm 1931 và Bộ luật Dân sự Trung kỳ năm 1936 áp dụng chế độ cộng đồng toàn sản nhưng cho phép lập ước riêng nếu không trái phong tục; Tập dân luật Giản yếu Nam kỳ năm 1883 áp dụng nguyên tắc tự do lập hôn ước theo án lệ.
- Giai đoạn 1954–1975: Miền Bắc áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 với chế độ cộng đồng toàn sản duy nhất, không có chế độ thỏa thuận. Miền Nam áp dụng Luật Gia đình năm 1959 (chế độ cộng đồng toàn sản, thừa nhận quyền lập hôn ước tại Điều 45), sau đó là Sắc luật số 15/64 và Bộ dân luật năm 1972 áp dụng chế độ cộng đồng động sản và tạo sản, thừa nhận quyền tự do lập hôn ước tại Điều 144 và Điều 145.
- Giai đoạn sau năm 1975 đến nay: Luật năm 1986 và Luật năm 2000 áp dụng chế độ cộng đồng tạo sản. Mặc dù Luật năm 2000 chưa có chế định hôn ước, Nghị định số 70/2001/NĐ-CP (Điều 8, 9, 10) đã bước đầu thừa nhận sự thỏa thuận về phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân. Đến Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quyền lựa chọn giữa chế độ tài sản pháp định và chế độ tài sản thỏa thuận chính thức được luật hóa tại Điều 28.
Chương 2: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành
Chương 2 phân tích chuyên sâu các quy định thực định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về tài sản chung và tài sản riêng:
- Tài sản chung của vợ chồng (Điều 33): Xác định khối tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất, bao gồm: tài sản do vợ, chồng tạo ra; thu nhập từ lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh; hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng; thu nhập hợp pháp khác (tiền thưởng, tiền trúng thưởng xổ số, tiền trợ cấp, tài sản vô chủ, vật chôn giấu/chìm đắm theo Điều 9 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP); tài sản được tặng cho chung, thừa kế chung; quyền sử dụng đất có được sau khi kết hôn (khoản 2 Điều 54 Hiến pháp năm 2013 và Điều 98 Luật Đất đai năm 2013 quy định Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải ghi tên cả vợ và chồng, trừ trường hợp có thỏa thuận ghi tên một người); và tài sản áp dụng nguyên tắc suy đoán là tài sản chung khi không có chứng cứ chứng minh là tài sản riêng.
- Quyền và nghĩa vụ đối với tài sản chung: Khoản 1 Điều 29 ghi nhận nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng trong chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung, đặc biệt quy định "không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập". Việc định đoạt tài sản chung bắt buộc phải có văn bản thỏa thuận của cả hai bên đối với ba nhóm: bất động sản; động sản phải đăng ký quyền sở hữu; tài sản là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình (Điều 35).
- Phân chia tài sản chung của vợ chồng:
- Chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân (Điều 38, 39, 40, 41): Luật năm 2014 đã bãi bỏ yêu cầu phải có "lý do chính đáng" (như quy định của Luật năm 2000), hoàn toàn tôn trọng quyền tự định đoạt của vợ chồng; quy định rõ ràng thời điểm có hiệu lực, hậu quả pháp lý đối với hoa lợi, lợi tức phát sinh sau khi chia, và thủ tục chấm dứt hiệu lực thỏa thuận chia tài sản.
- Chia tài sản khi ly hôn (Điều 59): Phân chia theo nguyên tắc thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì Tòa án chia đôi nhưng phải tính đến 4 căn cứ: (1) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng; (2) Công sức đóng góp (lao động nội trợ được tính như lao động có thu nhập); (3) Bảo vệ lợi ích chính đáng trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp; (4) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng. Việc bổ sung yếu tố "lỗi" là điểm mới tiến bộ so với khoản 2 Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
- Chia tài sản trong các trường hợp đặc thù: Chia tài sản khi sống chung với gia đình; chia quyền sử dụng đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất ở (Điều 62); bảo đảm quyền lưu cư trong thời hạn 6 tháng khi nhà ở là tài sản riêng của một bên (Điều 63); xử lý tài sản đưa vào kinh doanh (Điều 64); và phân chia tài sản khi một bên chết hoặc bị tuyên bố đã chết (Điều 66, Điều 67 kết hợp Điều 686 Bộ luật Dân sự năm 2005 về tạm ngừng chia di sản tối đa 3 năm).
- Tài sản riêng của vợ, chồng (Điều 43, 44): Căn cứ xác lập gồm tài sản có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng, tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản chia riêng từ khối tài sản chung, tài sản hình thành từ tài sản riêng, và "tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng" (khái niệm mới thay thế cho quy định "đồ dùng, tư trang cá nhân" của Luật năm 2000). Vợ, chồng có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng; quyền định đoạt chỉ bị hạn chế khi hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng là nguồn sống duy nhất của cả gia đình. Quy định việc nhập tài sản riêng vào tài sản chung phải tuân thủ điều kiện không nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài sản đối với người thứ ba (kế thừa tinh thần Nghị định số 70/2001/NĐ-CP).
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng
Chương 3 tổng kết các hạn chế từ thực tiễn và đưa ra các nhóm giải pháp:
- Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật:
- Hoàn thiện các tiêu chí định lượng và căn cứ xác định tài sản chung, tài sản riêng và việc chia tài sản chung của vợ chồng để tránh tùy nghi trong áp dụng.
- Quy định chặt chẽ hơn về điều kiện, hình thức và hậu quả pháp lý của việc nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung nhằm ngăn ngừa hành vi tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ dân sự.
- Xác định cụ thể phạm vi trách nhiệm liên đới giữa vợ và chồng khi một bên xác lập, thực hiện giao dịch dân sự nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của người thứ ba ngay tình.
- Hoàn thiện quy định về việc áp dụng tập quán trong việc phân chia tài sản chung của vợ chồng tại các địa phương, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
- Kiến nghị nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật:
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng (đặc biệt là chế độ tài sản theo thỏa thuận) để người dân nâng cao nhận thức pháp lý trước khi kết hôn.
- Nâng cao chất lượng hoạt động xét xử của ngành Tòa án đối với các vụ án tranh chấp tài sản hôn nhân và gia đình; tăng cường tập huấn chuyên môn cho thẩm phán trong việc xác minh nguồn gốc tài sản, đánh giá công sức đóng góp và xác định yếu tố lỗi của các bên.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã hoàn thành việc hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật Việt Nam. Những kết quả nghiên cứu và đóng góp chính của đề tài bao gồm:
So sánh các điểm mới nổi bật giữa Luật HN&GĐ năm 2000 và Luật HN&GĐ năm 2014
| Nội dung pháp lý |
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 |
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 |
| Cơ chế xác lập chế độ tài sản |
Duy nhất áp dụng chế độ tài sản pháp định (chế độ cộng đồng tạo sản). |
Bổ sung quyền lựa chọn áp dụng Chế độ tài sản theo thỏa thuận (Điều 28). |
| Lao động gia đình |
Ghi nhận quyền ngang nhau đối với tài sản chung (Điều 28). |
Khẳng định rõ: Bình đẳng trong chiếm hữu, sử dụng, định đoạt, không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập (Điều 29). |
| Lý do chia tài sản thời kỳ hôn nhân |
Bắt buộc phải có lý do chính đáng: tự kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ di sản riêng... |
Bãi bỏ quy định bắt buộc về lý do; tôn trọng tuyệt đối quyền tự do thỏa thuận của vợ chồng (Điều 38). |
| Căn cứ chia tài sản khi ly hôn |
Xem xét hoàn cảnh, tình trạng tài sản, công sức đóng góp, bảo vệ bên yếu thế (Điều 95). |
Bổ sung thêm căn cứ xem xét yếu tố: "Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng" (khoản 2 Điều 59). |
| Khái niệm tài sản riêng đặc thù |
Quy định là "Đồ dùng, tư trang cá nhân" (Điều 32). |
Thay thế bằng khái niệm chuẩn hóa: "Tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng" (Điều 43). |
| Quy định về nhà ở là tài sản riêng |
Chưa quy định rõ thời hạn lưu cư cụ thể khi ly hôn. |
Quy định cụ thể: Bên khó khăn về chỗ ở được quyền lưu cư trong thời hạn không quá 6 tháng (Điều 63). |
Đóng góp thực tiễn và giải pháp tác giả đề xuất
- Làm rõ tính thống nhất và đồng bộ giữa Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 với các đạo luật chuyên ngành: Hiến pháp năm 2013 (Điều 54), Bộ luật Dân sự năm 2005 (Điều 167, 175, 686) và Luật Đất đai năm 2013 (Điều 95, Điều 98 về nguyên tắc đứng tên cả hai vợ chồng trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).
- Chỉ ra các vướng mắc thực tiễn trong công tác công chứng giao dịch tài sản và hoạt động xét xử các vụ án phân chia tài sản khi ly hôn tại địa bàn thành phố Hải Phòng.
- Đề xuất các giải pháp lập pháp có tính khả thi nhằm hoàn thiện quy định về trách nhiệm liên đới của vợ chồng đối với người thứ ba, cơ chế kiểm soát việc nhập tài sản riêng vào tài sản chung, và tiêu chí áp dụng tập quán trong giải quyết tranh chấp tài sản.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu: Do giới hạn về thời gian thực tập tốt nghiệp và nguồn lực của một khóa luận đại học, phạm vi khảo sát thực tế của đề tài chủ yếu tập trung tại địa bàn thành phố Hải Phòng (thực tập tại Văn phòng Công chứng Trần Bằng) và các bản án thực tiễn điển hình được công bố. Khóa luận chưa thực hiện được các đợt khảo sát thống kê xã hội học trên diện rộng tại nhiều tỉnh, thành phố khác nhau để đánh giá toàn diện sự khác biệt vùng miền trong việc áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận. Bên cạnh đó, đề tài tập trung chủ yếu vào pháp luật thực định nội địa mà chưa mở rộng nghiên cứu sâu về xung đột pháp luật trong giải quyết quan hệ tài sản vợ chồng có yếu tố nước ngoài.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tiếp tục theo dõi, đánh giá thực tiễn áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận (hôn ước) sau một thời gian dài Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đi vào cuộc sống; nghiên cứu cơ chế pháp lý điều chỉnh các loại tài sản mới phát sinh trong nền kinh tế số (tài sản ảo, tài sản số, tài khoản đầu tư chứng khoán, tiền tệ mã hóa trong quan hệ vợ chồng); mở rộng phân tích các tranh chấp tài sản hôn nhân có yếu tố nước ngoài trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn:
- Đối với sinh viên và học viên ngành Luật: Cung cấp tài liệu tổng hợp có hệ thống về lịch sử lập pháp của chế định tài sản vợ chồng tại Việt Nam từ thời phong kiến (Luật Hồng Đức), thời Pháp thuộc, giai đoạn chia cắt 1954–1975 đến giai đoạn hiện nay; là tài liệu tham khảo trực tiếp cho các môn học Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Dân sự, Kỹ năng giải quyết án dân sự.
- Đối với cán bộ tư pháp, công chứng viên và luật sư: Cung cấp các luận cứ pháp lý và phân tích chi tiết về căn cứ xác lập tài sản chung/riêng, quy trình công chứng văn bản thỏa thuận tài sản, điều kiện chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân, thủ tục đứng tên quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 2013, và các nguyên tắc xác định công sức đóng góp cũng như yếu tố lỗi khi giải quyết tranh chấp tài sản tại Tòa án.
- Phần nội dung có giá trị tham khảo cao nhất: Mục 1.3 (Tổng hợp lịch sử pháp luật qua các thời kỳ), Mục 2.1 và 2.2 (Phân tích căn cứ xác lập tài sản chung, tài sản riêng và cơ chế phân chia tài sản theo Luật năm 2014).
Câu hỏi thường gặp
1. Chế độ tài sản ước định khác gì so với chế độ tài sản pháp định theo phân tích trong khóa luận?
Chế độ tài sản ước định (chế độ tài sản theo thỏa thuận/hôn ước) là chế độ do hai bên nam nữ tự do, tự nguyện thỏa thuận trước khi kết hôn về việc phân định tài sản chung, tài sản riêng, quyền và nghĩa vụ đối với từng loại tài sản cũng như nguyên tắc phân chia; văn bản thỏa thuận này phải được công chứng hoặc chứng thực hợp pháp và chỉ phát sinh hiệu lực trong thời kỳ hôn nhân. Ngược lại, chế độ tài sản pháp định là chế độ do pháp luật dự liệu sẵn các căn cứ xác định khối tài sản (ở Việt Nam hiện nay là chế độ cộng đồng tạo sản), được áp dụng mặc nhiên khi các bên kết hôn không lập văn bản thỏa thuận trước hôn nhân hoặc thỏa thuận bị Tòa án tuyên bố vô hiệu.
2. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã bổ sung yếu tố mới nào khi phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn so với Luật năm 2000?
Theo khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nguyên tắc phân chia tài sản chung khi ly hôn vẫn là chia đôi nhưng có tính đến 4 yếu tố. Trong đó, điểm mới nổi bật hoàn toàn so với khoản 2 Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 là việc bổ sung căn cứ: "Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng". Theo đó, bên có hành vi vi phạm nghĩa vụ vợ chồng (như bạo lực gia đình, cờ bạc phá tán tài sản, ngoại tình vi phạm chế độ một vợ một chồng...) sẽ bị Tòa án xem xét chia phần tài sản ít hơn tương ứng với mức độ lỗi.
3. Khóa luận phân tích như thế nào về việc ghi tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng?
Căn cứ khoản 4 Điều 98 Luật Đất đai năm 2013 và Điều 34 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quyền sử dụng đất có được sau khi kết hôn là tài sản chung thì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất bắt buộc phải ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng, trừ trường hợp hai vợ chồng có thỏa thuận bằng văn bản chỉ ghi tên một người. Trường hợp giấy chứng nhận trước đây chỉ ghi tên một bên thì được cấp đổi sang giấy mới để ghi tên cả hai vợ chồng nếu có yêu cầu.
4. Thời điểm có hiệu lực và hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân được xác định ra sao?
Theo Điều 39 và Điều 40 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản do vợ chồng thỏa thuận ghi trong văn bản; nếu không ghi thì tính từ ngày lập văn bản; nếu tài sản bắt buộc tuân theo hình thức nhất định (công chứng, chứng thực) thì có hiệu lực khi hoàn tất hình thức đó; trường hợp Tòa án chia thì có hiệu lực từ ngày bản án/quyết định có hiệu lực pháp luật. Về hậu quả pháp lý: phần tài sản đã chia và hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đó trở thành tài sản riêng của mỗi bên; phần tài sản chưa chia vẫn thuộc sở hữu chung; các quyền, nghĩa vụ tài sản xác lập với người thứ ba trước thời điểm chia vẫn giữ nguyên giá trị pháp lý.
5. Khái niệm "tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu" trong Luật năm 2014 thay thế khái niệm nào của Luật năm 2000 và có ý nghĩa gì?
Khái niệm "tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng" tại Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã thay thế cho khái niệm "đồ dùng, tư trang cá nhân" quy định tại Điều 32 Luật năm 2000. Việc sửa đổi này nhằm xác định chính xác bản chất tài sản dựa trên công dụng phục vụ sinh hoạt cá nhân tối thiểu của mỗi người (như quần áo, đồ dùng sinh hoạt thiết yếu) thuộc sở hữu riêng, tránh tình trạng lợi dụng khái niệm "tư trang cá nhân" đối với các loại trang sức, tài sản có giá trị quá lớn mang tính chất tích lũy của cải của cả gia đình.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Trung Đạt đã hệ thống hóa một cách toàn diện và sâu sắc các vấn đề lý luận, lịch sử lập pháp và các quy định pháp luật thực định về chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Tác giả đã làm rõ các căn cứ xác lập, phạm vi quyền, nghĩa vụ và nguyên tắc phân chia tài sản chung cũng như tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân, khi ly hôn và khi một bên qua đời. Đồng thời, thông qua việc khảo sát thực tiễn công chứng và xét xử tại thành phố Hải Phòng, đề tài đã chỉ ra những vướng mắc pháp lý cụ thể và đề xuất hệ thống giải pháp, kiến nghị có giá trị khoa học nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng trong đời sống xã hội.