CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỂ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG 1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò và ý nghĩa của chế độ tài sản vợ chồng 1.1 Khái niệm chế độ tài sản vợ chồng Tài sản là cơ sở kinh tế cho sự tồn tại và phát triển của mỗi gia đình. Kể từ khi bắt đầu cuộc sống hôn nhân, vợ chồng phải cùng nhau lao động, sản xuất, kinh doanh…để tạo ra của cải vật chất, đảm bảo nhu thiết để chăm sóc, giáo dục con cái. Vì vậy, bên cạnh quan hệ nhân thân, giữa vợ chồng còn tồn tại quan hệ tài sản. Trong đó, quan hệ tài sản hiểu theo nghĩa hẹp chính là quan hệ sở hữu tài sản.
Nội dung của quan hệ sở hữu tài sản giữua vợ chồng bao gồm: việc xác định tài sản là tài sản chung của vợ chồng hay tài sản riêng của vợ, tài sản tiêng của chồng; xác định quyền và nghĩa vụ đối với tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng và việc chia tài sản chung của vợ chồng trong những trường hợp nhất định. Bên cạnh đó, BLDS cũng quy định cụ thể quyền sở hữu (chiếm hữu, sử dụng, định đoạt) của cá nhân. Cá nhân có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản do mình tạo ra, tài sản được thừa kế tặng cho. Vợ chồng với tư cách là một các nhân, có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của mình.
Xét về mặt lý thuyết, có thể áp dụng các quy định của Hiến pháp và BLDS để điều chỉnh quan hệ sở hữu tài sản giữa vợ, chồng như những công dân khác không phải là vợ, chồng. Tuy nhiên, trong thực tiễn do tính chất đặc biệt trong quan hệ hôn nhân gia đình là vợ chồng cùng chung sống với nhau, cùng lao động tạo ra của cải vật chất để duy trì, phát triển gia đình, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cái, nên quan hệ sở hữu tài sản giữa vợ chồng ngoài việc đảm bảo quyền sở hữu tài sản giữa vợ chồng ngoài việc đảm bảo quyền sở hữu tài sản của cá nhân vợ, chồng phải đồng thời đảm bảo lợi ích chung của vợ chồng (đảm bảo đời sống chung của vợ chồng). Do đó, không thể áp dụng các quy định của Hiến pháp và BLDS để điều chỉnh quan hệ sở hữu tài sản giữa vợ và chồng. Nói cách khác, tính chất đặc biệt của mối quan hệ giữua vợ và chồng đòi hỏi những quy định riêng nhằm điều chỉnh quan hệ sở hữu tài sản 6 của vợ chồng.
Tổng hợp những quy định này chính là chế độ tài sản của vợ chồng. Có thể đưa ra khái niệm chế độ tài sản của vợ chồng như sau: Chế độ tài sản của vợ chồng là tổng hợp các quy phạm pháp luật hoặc thoả thuận của vợ chồng về quan hệ tài sản giữa vợ và chồng gồm: căn cứ xác lập tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng; các trường hợp và nguyên tắc chia tài sản giữa vợ và chồng[1] Chế độ tài sản của vợ chồng luôn có vai trò quan trọng trong pháp luật hôn nhân và gia đình của tất các quốc gia trên thế giới. Pháp luật của mỗi quốc gia điều chỉnh chế độ tài sản phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, truyền thống, đạo đức, tậo quán… của mình. Thông thường pháp luật các nước quy định hai loại chế độ tài sản vợ chồng là chế độ tài sản vợ chồng theo thoả thuận (chế độ tài sản ước định) và chế độ tài sản vợ chồng pháp định.
Sở dĩ có hai loại chế độ tài sản vợ chồng là vì hôn nhân được xác lập do hai bên nam, nữ thoả thuận giao ước trên cơ sở tự do, tự nguyện. Theo đó, vợ chồng đương nhiên có quyền thoả thuận với nhau về các vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích của mình, trong đó có quan hệ tài sản vợ và chồng. Vì vậy, một mặt pháp luật dự liệu một chế độ tài sản của vợ chồng, mặt khác quy định vợ chồng có quyền thoả thuận với nhau về tài sản (lập hôn ước). Chế độ tài sản do pháp luật dự liệu có hiệu lực khi hai vợ chồng không lập hôn ước hoặc hôn ước đã bị vô hiệu do vi phạm những quy định của pháp luật.
[[5] tr 2] Ở Việt Nam, trước khi Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực, duy trì duy nhất một chế độ tài sản pháp định đối với vợ chồng. Chế độ tài sản vợ chồng theo thoản thuận được quy định lần đầu tiên tại Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 với nội dung trước khi kết hôn vợ, chồng có thể thoản thuận với nhau về tài sản chung, tài sản riêng, quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng; các trường hợp và nguyên tắc phân chia tài sản giữa và chồng. Trong bản thoả thuận, vợ chồng thoả thuận lựa chọn chế độ cộng đồng (có tài sản chung) hoặc chế độ phân sản (không có tài sản chung) để duy trì và đảm bảo thực hiện trong suốt thời kỳ hôn nhân. Trong chế độ cộng đồng có sự tồn tại của khối tài sản chung của vợ chồng sẽ thoả thuận với nhau về thành phần khối tài sản chung của vợ chồng tài sản riêng của vợ chồng (nếu có), quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng, việc phân chia tài sản chung của vợ chồng… Trong chế độ phân sản giữa vợ chồng không tồn tại khối tài sản chung của vợ chồng, vợ chồng thoả thuận với nhau về việc đóng góp tài sản riêng để 7 đảm bảo nhu cầu thiết yếu của gia đình chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cái… Có thế thấy rằng đặc điểm của chế độ tài sản vợ chồng theo thoả thuận là việc thoả thuận giữa vợ chồng phải được thực hiện trước khi kết hôn và những thoản thuận sửa đổi thay đổi chế độ tài sản theo thoả thuận (sửa đổi, thay đổi nội dung hôn ước).
Tuy nhiên, không phải cặp vợ chồng nào khi xác lập quan hệ hôn nhân cũng thoả thuận về tài sản của vợ, chồng. Do đó, pháp luật phải tạp ra một giải pháp dành cho các cặp vợ chồng khi xác lập quan hệ hôn nhân không lập hôn ước. Giải pháp này được gọi là chế độ tài sản vợ chồng pháp định. Chế độ tài sản pháp định được tất cả các nước dự liệu trong hệ thống pháp luật của mình.2 Đặc điểm của chế độ tài sản vợ chồng Có bốn đặc điểm: - Thứ nhất: Chủ thể của quan hệ sở hữu trong chế độ tài sản này phải có đầy đủ năng lực chủ thể và phải tuân thủ các điều kiện kết hôn được quy định trong pháp luật HN&GĐ.
- Thứ hai: Quy định về chế độ tài sản của vợ chồng nhằm bảo đảm quyền lợi của gia đình; tạo điều kiện để vợ chồng chủ động thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. - Thứ ba: Chế độ tài sản của vợ chồng chỉ tồn tại trong thời kỳ hôn nhân. - Thứ tư: Chế độ tài sản của vợ chồng cũng mang những đặc thù riêng trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ thể, như quyền định đoạt tài sản bị hạn chế trong một số trường hợp (ví dụ, nếu tài sản riêng đang là nguồn sống duy nhất của cả gia đình, khi định đoạt liên quan đến tài sản này thì phải có thoả thuận của hai vợ chồng). [[15] tr 8] * Đặc điểm riêng Ngoài các đặc điểm chung trên, chế độ tài sản thoả thuận hay còn gọi là “hôn ước” còn có đặc điểm tạo nên sự khác biệt với chế độ tài sản khác, làm nên dấu ấn riêng của nó.
Đó là: +) Hôn ước phải do hai bên nam nữ tự nguyện thoả thuận. +) Hôn ước phải được lập nên trước khi kết hôn, tuy nhiên nó chỉ phát sinh hiệu lực trong thời kì hôn nhân. +) Hôn ước phải được xác nhận tính hợp pháp bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.3 Vai trò của chế độ tài sản vợ chồng 8 Một là, chế độ tài sản được pháp luật ghi nhận (dù là chế độ tài sản theo thoả thuận – chế độ tài sản ước định, hay theo căn cứ của pháp luật – chế độ tài sản pháp định) nhằm điều chỉnh các quan hệ tài sản của vợ chồng, tạo điều kiện để vợ chồng có những cách “xử sự” theo yêu cầu của pháp luật và phù hợp với đạo đức xã hội. Hai là, trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình Luật Hôn nhân và Gia đình điều chỉnh các quan hệ về nhân thân và tài sản giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và các con, giữa các thành viên khác trong gia đình.
Việc thực hiện và áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng góp phần củng cố, bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ chồng và giữa các thành viên của gia đình với nhau. Ba là, chế độ tài sản của vợ chồng góp phần điều tiết, ổn định quan hệ tài sản trong giao lưu dân sự, kinh tế, thương mại. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng phải ký kết rất nhiều hợp đồng dân sự với người khác, nhờ có chế độ tài sản của vợ chồng, các giao dịch đó được đảm bảo thực hiện, quyền lợi của vợ chồng, của người tham gia giao dịch liên quan đến tài sản của vợ chồng được bảo vệ.4 Ý nghĩa của chế độ tài sản vợ chồng - Chế độ tài sản của vợ chồng với ý nghĩa là một chế định trong pháp luật về HN&GĐ. Nhìn vào chế độ tài sản của vợ chồng được quy định trong pháp luật của Nhà nước, người ta có thể nhận biết được trình độ phát triển của các điều kiện kinh tế - xã hội (tính khách quan) và ý chí của Nhà nước thể hiện bản chất của chế độ xã hội đó (tính chủ quan).
- Chế độ tài sản của vợ chồng được quy định trong pháp luật có ý nghĩa nhằmg xác định các loại tài sản trong quan hệ giữa vợ chồng và gia đình. Khi hai bên nam nữ kết hôn với nhau và trở thành vợ chồng, chế độ tài sản của vợ chồng được liệt với những thành phần tài sản của vợ chồng. Dù vợ chồng có lựa chọn chế độ tài sản ước định hay chế độ tài sản pháp định luôn được pháp luật quy định rõ. - Việc phân định các loại tài sản trong quan hệ giữa vợ và chồng của chế độ tài sản còn nhằm xác định các quyền và nghĩa vụ của các bên vợ, chồng đối với các loại tài sản của vợ chồng.