Chương 1: Những van dé lý luận cơ bản về vật quyền Chương 2: Chế định Vật quyền trong pháp luật Dân sự Việt Nam Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện chế định vật quyền trong pháp luật dân sự Việt Nam 17 CHUONG 1 NHUNG VAN DE LY LUAN CO BAN VE VAT QUYEN 1. Khai niệm va đặc điểm vật quyền 1. Khái niệm vật quyên Quyền đối với vat (real right) và quyền yêu cầu hay trái quyền (right under an obligation —or personal right) đã tồn tai từ trong pháp luật La Mã (cách đây hơn 2000 năm). Trên cơ sở các quy định vật quyên, pháp luật đã xác lập thẩm quyên (quyển năng) trực tiếp và thường xuyên của chủ thé - người có quyền sử dụng toàn bộ hay một phần hoặc toàn bộ đồ vật nằm trong các quan hệ vật quyền vì lợi ich của mình!.
Mặc dù các luật gia La Mã không nêu ra định nghĩa cụ thé về vật quyền nhưng khái niệm vật quyên và trái quyền đã tồn tại từ thời kỳ này. Đến thời kỳ cận đại, BLDS đầu tiên và nỗi tiếng trên thế giới (Bộ luật Napoleon — 1804) cũng đã ghi nhận về các loại vật quyền.? Theo thời gian, việc vận dụng lý thuyết vật quyền - trái quyền đem lại lợi ích chung cho tất cả các hệ thống pháp luật dân sự, từ phương diện cấu trúc lập pháp, đến phương diện thực tiễn. Trong quan niệm của người La Mã cô đại, vật quyền (jus in re) được hiểu là quyền được chủ thé (người có quyên) thực hiện trực tiếp và tức thì trên một vật mà không can vai trò trung gian của một người khác?. Quan hệ vật quyền trên nguyên tắc hình thành từ hai yếu tố: chủ thé của quyền (con người) và đối tượng của quyền (vật).
Quan hệ ấy vận hành mà không cần đến vai trò của một chủ thể khác, đặc biệt là không cần sự hợp tác hoặc trợ lực của chủ thé khác. Moi chủ thé khác đều phải tôn trong quyền nay‘. Tính chat trực tiếp va tức thi của vật quyền được thể hiện trong cách thức tác động bằng hành vi vật chất và cả hành vi pháp ly của chủ thé lên đối tượng của quyền. Chang han, chủ sở hữu một chiếc xe có thê tự mình đi xe hoặc đem cho mượn, cho thuê mà không cân sự đông ý của ! Nguyễn Ngọc Đào (2000), Luậi La Mã, Nxb Tổng hợp Đồng Nai, Đồng Nai, tr.
2 BLDS Phap da quy dinh về quyền sở hữu, quyền hưởng hoa lợi, lợi tức, quyền sử dụng, quyền cư dụng va quyền địa dịch. Terré va Ph. Théry, Droit civil- Les biens, Dalloz, Paris, 1992, tr. Malaurie va Laurent Aynés, Droit civil-Les biens, Cujas, Paris, 1998, tr 87.
4 Chang hạn như chủ sở hữu tài sản có quyền kiện đòi lại tài san của minh đang nằm trong tay người khác; chủ nợ nhận thé chấp có quyền kê biên tài sản thé chap dé bán và ưu tiên thu tiền trừ nợ mà chủ sở hữu cũng như bat kỳ ai khác không có quyền phản đối. 18 người nào khác. Tương tự, người có quyền hưởng dụng được hưởng hoa lợi từ tai sản (ví dụ: hái quả, lây g6,.) mà không ai có quyên can thiệp”. Như vậy, theo cách hiểu trên thì khái niệm vật quyền được dùng theo cách của người La Mã cô đại có nghĩa hẹp - là quyền được thực hiện trực tiếp trên một vật chất cụ thé và xác định khái niệm vật (res) sẽ không bao ham tài sản như cổ tức, trái phiếu, chứng khoán, quyền ưu tiên, quyền tương lai, quyền đối với tài sản cầm có, thế chap.
Tuy nhiên, có thé thay răng một số loại tài sản như giấy tờ có giá, quyền tài sản không được đề cập đến trong pháp luật La Mã là bởi chúng chưa xuất hiện và tồn tại trong đời sống kinh tế của La Mã cô dai. Hơn nữa, khi nghiên cứu về khái niệm vật quyền trong pháp luật La Mã, tác giả Edinburgh cho rằng: “Mot thứ gi do (thing) được nhìn nhận là vat (res) trong luật La Ma là thứ mà người La Mã dùng để chỉ tài sản thuộc sở hữu của một người nào đó (person s property). Vat (res) trong luật La Ma không chỉ là vật với nghĩa “vat chat” và “hữu hình” mà còn bao gôm cả những thứ “phi vật chat” và “vô hình” giống như quyên đối với tài sản. Nói cách khác, vật (res) trong luật La Mã dùng để chỉ tất cả những thứ mà có thể là đối tượng của một quyên hoặc thông qua nó dé các quyền được thực hiện bởi các chủ thể, bao gom các đổi tượng vật chat (vat) và tai sản vô hình (quyên) như quyên thừa kế, dich quyén,.° Trong quan niệm của các nước theo văn hoá pháp lý Romano-Germanic, cũng như trong khoa học pháp lý hiện đại ngày nay, đối tượng của vật quyền không chỉ được hình dung là một yậz cụ thể, mà vật quyền được hiểu là quyền của một chủ thể đối với một tai sdn’, cho phép chủ thé trực tiếp thực hiện các quyền năng được pháp luật thừa nhận đối với một tdi sadn’.
Theo tiếng Anh, thuật ngữ “things” với thuật ngữ property (tài sản) có nội hàm về cơ bản là giông nhau”. "Things” được hiệu là những đôi tượng của sự chiêm hữu hoặc 5 Xem: PGS,TS. Nguyễn Ngọc Điện. “Lợi ích của việc xây dựng chế định vật quyên đối với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật tài sản” tại website: http://danang.vn/portal/page/portal/tandtc/Baiviet?p page id=&p_cateid=1751909&article_details=1 &item_id=6180489 5 R.
Mellville, A manual of the priciples of Roman Law relating to persons, property and obligation, nhà xuất ban W. Green & Son, Edinburgh, 1915, trang 197.) (ed), Goode on Legal Problems of Credit and Security, Sweet & Maxwell, 4" edn, 2008, paras. 1- 06 and 107 and 1-17 and seq. Terré va Ph.
Théry, Droit civil- Les biens, Dalloz, Paris, 1992, tr. Malaurie va Laurent Aynés, Droit civil-Les biens, Cujas, Paris, 1998, tr 87 ? Tuy nhiên, khi dich ra tiếng Việt và trong quy định pháp luật một số nước như Đức, Nhật, từ "things" lại biến thé thành nghĩa “vá?” - được hiểu là cái có hình khối, có thể nhận biết được, điều này làm cho khái niệm "vật quyền" được nhiều người hiểu với phạm vi hẹp hơn rất nhiều nội hàm thuật ngữ quyền đối với tài sản 19 được hiểu là tài sản. Bên cạnh đó, khái niệm “property” (tài sản) được định nghĩa theo nghĩa rộng hơn và tiếp cận ở góc độ pháp lý, là toàn bộ những quyền mà một chủ thể có được đối với một tài sản nhất định và được Nhà nước bảo vệ!?, Với cách hiểu này, khái niệm tài sản được mở ra đối với bat cứ loại quyền và lợi ích có giá tri nào theo không gian đa chiều, bao gồm cả tài sản cố định va tài sản lưu động, hữu hình và vô hình, tài sản đã hình thành hoặc chưa hình thành, vấn đề nhượng quyền, địa dịch. Khái niệm tài sản rộng, có tính khái quát cao nên hệ thống pháp luật của nhiều nước đã phát triển thành quyền tài sản.
“Tai sản không phải là một vật mà là một quyên hoặc một loạt quyên được cưỡng chế thực hiện trong quan hệ với những người khác. Giải thích cách khác, thuật ngữ tài sản có nghĩa là những quan hệ giữa con người liên quan đến các yêu câu đối với những thứ hữu hình va vô hình”!'. Ngày nay, thuật ngữ vật quyền (real right) đang dần được thay thé bởi một thuật ngữ hiện đại hon là quyền đối với tài san (“property right” hoặc “law on property”), được hiểu là "uyên mà một người có đối với tài sản và có tinh doi kháng với người khác `2. Như vậy, cùng với sự phát triển của lý luận và pháp luật, khái niệm vật quyên trong xã hội hiện đại ngày nay có thé được hiểu dưới hai góc độ chủ quan và khách quan.
Theo nghĩa chủ quan vat guyén có thé được hiểu là quyên của một chủ thé bằng hành vi của mình tác động lên tài sản theo ý chí của mình mà không phụ thuộc vào người khác để nhằm thỏa mãn lợi ích của mình. Theo nghĩa này vật quyền là quyền đối vật cho phép chủ thé trực tiếp thực hiện các quyền năng được pháp luật thừa nhận đối với tài sản, khác với trái quyền là quyền của một người yêu cầu một người khác thực hiện hoặc không thực hiện một hành vi nhất định (quyên đối nhân). Theo nghĩa khách quan thì vật quyên là toàn bộ các quy phạm pháp luật quy định về các loại vật quyên và nội dung của từng loại vật quyên, vé căn cứ phát sinh, chấm dứt các loại vật quyên, nguyên tắc thực hiện, bảo vệ vật quyên, về các hạn chê quyên mà người có vật quyên phải tuân thủ khi thực hiện các !9 Black Law Dictionary, Sixth Edition, St Paul, Minn, West Publishing Co. Lê Hồng Hạnh - “Sử dung khái niệm quyền tài sản thay cho vật quyền trong Dự thao Bộ luật Dân sự”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật tháng 04/2015.), Proprietary Rights and Insolvency, Oxford University Press, 2010.
20 quyên năng của mình!3. Theo nghĩa này thì vật quyền được hiểu là một chế định pháp luật điều chỉnh các quan hệ pháp luật về vật quyền được ghi nhận trong pháp luật dân sự dé phan biét voi cac chế định khác như chế định thừa ké, hợp đồng, hoặc bồi thường thiệt hại. Đặc điểm pháp lý của vật quyên Vật quyền với cách hiểu chung nhất là quyền của một người đối với một vật, là quyền chi phối trực tiếp của người đó đối với vật. Vật quyền là quyền tuyệt đôi, áp dụng đối với tất cả mọi người.
Trên cơ sở đó, vật quyền hàm chứa những đặc điểm pháp lý nhất định của nó mà trên nguyên tắc, quyền đối nhân (trái quyền) không có, đó là!*: Tứ nhất, tính đối vật (quyên chỉ phối trực tiếp với vật) Phải khẳng định rằng thông qua vật quyền cho phép chủ thể có quyền được trực tiếp tác động lên tài sản hay là quyền chi phối trực tiếp đối với tài sản đó. Vật quyền thể hiện mối quan hệ trực tiếp giữa người có quyền và tai sản. Tính đối vật của vật quyền thê hiện sự chỉ phối của các chủ thê lên tài sản. Các chủ thé thực hiện vật quyền thông qua hành vi của mình nhằm tác động trực tiếp lên tài sản như năm giữ, khai thác công dụng, sử dụng, bảo quản, giữ gìn tài sản.Tính đối vật trong vật quyền thê hiện mối liên hệ trực tiếp giữa người với vật (tài sản) mà không cần có vai trò của bất kỳ người thứ ba nào khác.
Đồng thời, tính đối vật của vật quyền còn thê hiện thông qua các trường hợp là trực tiếp tác động lên tài sản của mình hoặc trực tiếp tác động lên tài sản của người khác. Quyền sở hữu là một vật quyền thể hiện sự trực tiếp tác động lên tài sản của minh.