Nghiên cứu khoa học cấp trường về chế định vật quyền trong pháp luật dân sự Việt Nam hiện đại

Khám phá đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường về chế định vật quyền trong pháp luật dân sự Việt Nam hiện đại, phân tích sâu sắc và cập nhật.

Chuyên ngành

Luật Dân sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

đề tài nghiên cứu khoa học

2016

259
13
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. PHẦN I: BÁO CÁO PHÚC TRÌNH

1.1. MỞ ĐẦU

1.2. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VẬT QUYỀN

1.2.1. Khái niệm và đặc điểm vật quyền

1.2.2. Nguyên tắc chủ yếu của vật quyền

1.2.2.1. Nguyên tắc vật quyền phải được pháp luật quy định
1.2.2.2. Nguyên tắc tuyệt đối
1.2.2.3. Nguyên tắc công khai
1.2.2.4. Nguyên tắc tin cậy (hiệu lực công khai)

1.2.3. Phân loại vật quyền và mối liên hệ giữa các vật quyền

1.2.3.1. Xác lập, thực hiện, chấm dứt vật quyền
1.2.3.2. Xác lập vật quyền
1.2.3.3. Thực hiện vật quyền
1.2.3.4. Chấm dứt vật quyền

1.2.4. Bảo vệ vật quyền

1.2.4.1. Khái niệm bảo vệ vật quyền
1.2.4.2. Đặc điểm phương thức bảo vệ vật quyền
1.2.4.3. Phân loại phương thức bảo vệ vật quyền

1.2.5. Khái quát sự phát triển của chế định vật quyền trong pháp luật dân sự Việt Nam

1.2.5.1. Chế định vật quyền trong pháp luật dân sự Việt Nam thời kỳ phong kiến
1.2.5.2. Chế định vật quyền trong pháp luật dân sự Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc
1.2.5.3. Chế định vật quyền trong pháp luật dân sự Việt Nam từ 1945 đến 1992
1.2.5.4. Chế định vật quyền trong pháp luật dân sự Việt Nam từ 1992 cho đến nay

1.3. CHẾ ĐỊNH VẬT QUYỀN TRONG PHÁP LUẬT DÂN SỰ

1.3.1. Những quy định chung về vật quyền

1.3.2. Về khái niệm và tên gọi vật quyền

1.3.3. Xác lập, thực hiện, chấm dứt vật quyền

1.3.4. Phương thức bảo vệ vật quyền

1.3.5. Các vật quyền cụ thể theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam

1.3.5.1. Quyền sở hữu
1.3.5.2. Quyền địa dịch
1.3.5.3. Quyền hưởng dụng
1.3.5.4. Vật quyền bảo đảm

1.4. KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM

1.4.1. Hoàn thiện quy định chung về vật quyền

1.4.2. Về việc thừa nhận khái niệm vật quyền

1.4.3. Về xác lập, thực hiện, chấm dứt vật quyền

1.4.4. Kiến nghị hoàn thiện quy định về các vật quyền cụ thể

2. PHẦN II: BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ

2.1. Chuyên đề 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về vật quyền

2.2. Chuyên đề 2: Khái quát sự phát triển của chế định vật quyền trong pháp luật dân sự Việt Nam

2.3. Chuyên đề 3: Xác lập, thực hiện, chấm dứt vật quyền

2.4. Chuyên đề 4: Phương thức bảo vệ vật quyền

2.5. Chuyên đề 5: Quyền sở hữu trong pháp luật dân sự

2.6. Chuyên đề 6: Quyền địa dịch trong pháp luật dân sự

2.7. Chuyên đề 7: Quyền hưởng dụng trong pháp luật dân sự

2.8. Chuyên đề 8: Quyền bề mặt trong pháp luật dân sự

2.9. Chuyên đề 9: Vật quyền bảo đảm trong pháp luật dân sự

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khái niệm và đặc điểm của vật quyền

Vật quyền là một chế định quan trọng trong pháp luật dân sự, đặc biệt là trong Bộ luật Dân sự Việt Nam. Nó bao gồm các quyền như quyền sở hữu, quyền sử dụng, và quyền chiếm hữu. Vật quyền được xác định bởi tính chất tuyệt đối, công khai, và tin cậy. Tính tuyệt đối thể hiện ở việc chủ sở hữu có quyền kiểm soát tài sản mà không bị can thiệp bởi bên thứ ba. Tính công khai đảm bảo rằng quyền này được ghi nhận và công bố rộng rãi. Tính tin cậy giúp bảo vệ quyền lợi của các bên trong giao dịch dân sự.

1.1. Nguyên tắc của vật quyền

Nguyên tắc của vật quyền bao gồm việc phải được pháp luật quy định rõ ràng, đảm bảo tính tuyệt đối và công khai. Nguyên tắc tuyệt đối cho phép chủ sở hữu thực hiện các quyền năng của mình mà không bị hạn chế. Nguyên tắc công khai đòi hỏi việc ghi nhận và công bố quyền sở hữu để tránh tranh chấp. Nguyên tắc tin cậy giúp bảo vệ quyền lợi của các bên trong giao dịch dân sự, đặc biệt là trong các hợp đồng dân sự.

1.2. Phân loại vật quyền

Vật quyền được phân loại thành các loại chính như quyền sở hữu, quyền sử dụng, và quyền chiếm hữu. Quyền sở hữu là quyền cao nhất, bao gồm quyền chiếm hữu, sử dụng, và định đoạt tài sản. Quyền sử dụng cho phép chủ thể sử dụng tài sản mà không cần sở hữu. Quyền chiếm hữu là quyền kiểm soát tài sản một cách thực tế. Các loại vật quyền này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, tạo nên một hệ thống pháp lý hoàn chỉnh.

II. Sự phát triển của chế định vật quyền trong pháp luật dân sự Việt Nam

Chế định vật quyền trong pháp luật dân sự Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển. Từ thời kỳ phong kiến, vật quyền chủ yếu liên quan đến quyền sở hữu đất đai. Trong thời kỳ Pháp thuộc, các quy định về vật quyền được hệ thống hóa hơn. Sau năm 1945, pháp luật dân sự Việt Nam tiếp tục phát triển, đặc biệt là từ năm 1992 đến nay, với việc ban hành Bộ luật Dân sự năm 2015, chế định vật quyền đã được ghi nhận và phát triển thành một chế định trọng tâm.

2.1. Thời kỳ phong kiến và Pháp thuộc

Trong thời kỳ phong kiến, vật quyền chủ yếu liên quan đến quyền sở hữu đất đai. Các quy định này được ghi nhận trong các bộ luật cổ như Hình thưQuốc triều hình luật. Trong thời kỳ Pháp thuộc, pháp luật dân sự Việt Nam chịu ảnh hưởng lớn từ pháp luật Pháp, với việc hệ thống hóa các quy định về vật quyền.

2.2. Từ năm 1945 đến nay

Sau năm 1945, pháp luật dân sự Việt Nam tiếp tục phát triển, đặc biệt là từ năm 1992 đến nay. Bộ luật Dân sự năm 2015 đã ghi nhận và phát triển chế định vật quyền thành một chế định trọng tâm, với các quy định cụ thể về quyền sở hữu, quyền sử dụng, và quyền chiếm hữu. Điều này đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo vệ quyền lợi của các chủ thể trong giao lưu dân sự.

III. Các quy định cụ thể về vật quyền trong Bộ luật Dân sự 2015

Bộ luật Dân sự năm 2015 đã ghi nhận và phát triển chế định vật quyền với các quy định cụ thể về quyền sở hữu, quyền sử dụng, và quyền chiếm hữu. Các quy định này đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo vệ quyền lợi của các chủ thể trong giao lưu dân sự. Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế cần được hoàn thiện, đặc biệt là trong việc xác lập và chấm dứt vật quyền.

3.1. Quyền sở hữu

Quyền sở hữu được quy định tại Điều 158 của Bộ luật Dân sự năm 2015, bao gồm quyền chiếm hữu, sử dụng, và định đoạt tài sản. Tuy nhiên, định nghĩa về quyền sở hữu vẫn còn chung chung, chưa khái quát được bản chất của vật quyền. Điều này dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau trong thực tiễn áp dụng.

3.2. Quyền sử dụng và quyền chiếm hữu

Quyền sử dụngquyền chiếm hữu được quy định tại các Điều 159 và 161 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Tuy nhiên, các quy định này còn chưa làm rõ sự khác biệt giữa quyền sử dụng là một quyền năng của quyền sở hữu với quyền hưởng dụng là một vật quyền khác. Điều này cần được hoàn thiện để tránh nhầm lẫn trong thực tiễn áp dụng.

IV. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vật quyền

Để hoàn thiện pháp luật về vật quyền, cần có các kiến nghị cụ thể về việc thừa nhận khái niệm vật quyền, xác lập, thực hiện, và chấm dứt vật quyền. Các kiến nghị này cần dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn, đảm bảo tính khoa học và hợp lý. Đồng thời, cần hoàn thiện các quy định về quyền sở hữu, quyền địa dịch, và quyền hưởng dụng để tạo nên một hệ thống pháp lý hoàn chỉnh.

4.1. Hoàn thiện quy định chung về vật quyền

Cần thừa nhận khái niệm vật quyền một cách rõ ràng và cụ thể trong pháp luật dân sự. Điều này sẽ giúp tránh nhầm lẫn và tranh chấp trong thực tiễn áp dụng. Đồng thời, cần hoàn thiện các quy định về xác lập, thực hiện, và chấm dứt vật quyền để đảm bảo tính thống nhất và hiệu quả.

4.2. Hoàn thiện quy định về các vật quyền cụ thể

Cần hoàn thiện các quy định về quyền sở hữu, quyền địa dịch, và quyền hưởng dụng để tạo nên một hệ thống pháp lý hoàn chỉnh. Đặc biệt, cần làm rõ sự khác biệt giữa các loại vật quyền để tránh nhầm lẫn trong thực tiễn áp dụng. Điều này sẽ góp phần bảo vệ quyền lợi của các chủ thể trong giao lưu dân sự.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Những van dé lý luận cơ bản về vật quyền Chương 2: Chế định Vật quyền trong pháp luật Dân sự Việt Nam Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện chế định vật quyền trong pháp luật dân sự Việt Nam 17 CHUONG 1 NHUNG VAN DE LY LUAN CO BAN VE VAT QUYEN 1. Khai niệm va đặc điểm vật quyền 1. Khái niệm vật quyên Quyền đối với vat (real right) và quyền yêu cầu hay trái quyền (right under an obligation —or personal right) đã tồn tai từ trong pháp luật La Mã (cách đây hơn 2000 năm). Trên cơ sở các quy định vật quyên, pháp luật đã xác lập thẩm quyên (quyển năng) trực tiếp và thường xuyên của chủ thé - người có quyền sử dụng toàn bộ hay một phần hoặc toàn bộ đồ vật nằm trong các quan hệ vật quyền vì lợi ich của mình!.

Mặc dù các luật gia La Mã không nêu ra định nghĩa cụ thé về vật quyền nhưng khái niệm vật quyên và trái quyền đã tồn tại từ thời kỳ này. Đến thời kỳ cận đại, BLDS đầu tiên và nỗi tiếng trên thế giới (Bộ luật Napoleon — 1804) cũng đã ghi nhận về các loại vật quyền.? Theo thời gian, việc vận dụng lý thuyết vật quyền - trái quyền đem lại lợi ích chung cho tất cả các hệ thống pháp luật dân sự, từ phương diện cấu trúc lập pháp, đến phương diện thực tiễn. Trong quan niệm của người La Mã cô đại, vật quyền (jus in re) được hiểu là quyền được chủ thé (người có quyên) thực hiện trực tiếp và tức thì trên một vật mà không can vai trò trung gian của một người khác?. Quan hệ vật quyền trên nguyên tắc hình thành từ hai yếu tố: chủ thé của quyền (con người) và đối tượng của quyền (vật).

Quan hệ ấy vận hành mà không cần đến vai trò của một chủ thể khác, đặc biệt là không cần sự hợp tác hoặc trợ lực của chủ thé khác. Moi chủ thé khác đều phải tôn trong quyền nay‘. Tính chat trực tiếp va tức thi của vật quyền được thể hiện trong cách thức tác động bằng hành vi vật chất và cả hành vi pháp ly của chủ thé lên đối tượng của quyền. Chang han, chủ sở hữu một chiếc xe có thê tự mình đi xe hoặc đem cho mượn, cho thuê mà không cân sự đông ý của ! Nguyễn Ngọc Đào (2000), Luậi La Mã, Nxb Tổng hợp Đồng Nai, Đồng Nai, tr.

2 BLDS Phap da quy dinh về quyền sở hữu, quyền hưởng hoa lợi, lợi tức, quyền sử dụng, quyền cư dụng va quyền địa dịch. Terré va Ph. Théry, Droit civil- Les biens, Dalloz, Paris, 1992, tr. Malaurie va Laurent Aynés, Droit civil-Les biens, Cujas, Paris, 1998, tr 87.

4 Chang hạn như chủ sở hữu tài sản có quyền kiện đòi lại tài san của minh đang nằm trong tay người khác; chủ nợ nhận thé chấp có quyền kê biên tài sản thé chap dé bán và ưu tiên thu tiền trừ nợ mà chủ sở hữu cũng như bat kỳ ai khác không có quyền phản đối. 18 người nào khác. Tương tự, người có quyền hưởng dụng được hưởng hoa lợi từ tai sản (ví dụ: hái quả, lây g6,.) mà không ai có quyên can thiệp”. Như vậy, theo cách hiểu trên thì khái niệm vật quyền được dùng theo cách của người La Mã cô đại có nghĩa hẹp - là quyền được thực hiện trực tiếp trên một vật chất cụ thé và xác định khái niệm vật (res) sẽ không bao ham tài sản như cổ tức, trái phiếu, chứng khoán, quyền ưu tiên, quyền tương lai, quyền đối với tài sản cầm có, thế chap.

Tuy nhiên, có thé thay răng một số loại tài sản như giấy tờ có giá, quyền tài sản không được đề cập đến trong pháp luật La Mã là bởi chúng chưa xuất hiện và tồn tại trong đời sống kinh tế của La Mã cô dai. Hơn nữa, khi nghiên cứu về khái niệm vật quyền trong pháp luật La Mã, tác giả Edinburgh cho rằng: “Mot thứ gi do (thing) được nhìn nhận là vat (res) trong luật La Ma là thứ mà người La Mã dùng để chỉ tài sản thuộc sở hữu của một người nào đó (person s property). Vat (res) trong luật La Ma không chỉ là vật với nghĩa “vat chat” và “hữu hình” mà còn bao gôm cả những thứ “phi vật chat” và “vô hình” giống như quyên đối với tài sản. Nói cách khác, vật (res) trong luật La Mã dùng để chỉ tất cả những thứ mà có thể là đối tượng của một quyên hoặc thông qua nó dé các quyền được thực hiện bởi các chủ thể, bao gom các đổi tượng vật chat (vat) và tai sản vô hình (quyên) như quyên thừa kế, dich quyén,.° Trong quan niệm của các nước theo văn hoá pháp lý Romano-Germanic, cũng như trong khoa học pháp lý hiện đại ngày nay, đối tượng của vật quyền không chỉ được hình dung là một yậz cụ thể, mà vật quyền được hiểu là quyền của một chủ thể đối với một tai sdn’, cho phép chủ thé trực tiếp thực hiện các quyền năng được pháp luật thừa nhận đối với một tdi sadn’.

Theo tiếng Anh, thuật ngữ “things” với thuật ngữ property (tài sản) có nội hàm về cơ bản là giông nhau”. "Things” được hiệu là những đôi tượng của sự chiêm hữu hoặc 5 Xem: PGS,TS. Nguyễn Ngọc Điện. “Lợi ích của việc xây dựng chế định vật quyên đối với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật tài sản” tại website: http://danang.vn/portal/page/portal/tandtc/Baiviet?p page id=&p_cateid=1751909&article_details=1 &item_id=6180489 5 R.

Mellville, A manual of the priciples of Roman Law relating to persons, property and obligation, nhà xuất ban W. Green & Son, Edinburgh, 1915, trang 197.) (ed), Goode on Legal Problems of Credit and Security, Sweet & Maxwell, 4" edn, 2008, paras. 1- 06 and 107 and 1-17 and seq. Terré va Ph.

Théry, Droit civil- Les biens, Dalloz, Paris, 1992, tr. Malaurie va Laurent Aynés, Droit civil-Les biens, Cujas, Paris, 1998, tr 87 ? Tuy nhiên, khi dich ra tiếng Việt và trong quy định pháp luật một số nước như Đức, Nhật, từ "things" lại biến thé thành nghĩa “vá?” - được hiểu là cái có hình khối, có thể nhận biết được, điều này làm cho khái niệm "vật quyền" được nhiều người hiểu với phạm vi hẹp hơn rất nhiều nội hàm thuật ngữ quyền đối với tài sản 19 được hiểu là tài sản. Bên cạnh đó, khái niệm “property” (tài sản) được định nghĩa theo nghĩa rộng hơn và tiếp cận ở góc độ pháp lý, là toàn bộ những quyền mà một chủ thể có được đối với một tài sản nhất định và được Nhà nước bảo vệ!?, Với cách hiểu này, khái niệm tài sản được mở ra đối với bat cứ loại quyền và lợi ích có giá tri nào theo không gian đa chiều, bao gồm cả tài sản cố định va tài sản lưu động, hữu hình và vô hình, tài sản đã hình thành hoặc chưa hình thành, vấn đề nhượng quyền, địa dịch. Khái niệm tài sản rộng, có tính khái quát cao nên hệ thống pháp luật của nhiều nước đã phát triển thành quyền tài sản.

“Tai sản không phải là một vật mà là một quyên hoặc một loạt quyên được cưỡng chế thực hiện trong quan hệ với những người khác. Giải thích cách khác, thuật ngữ tài sản có nghĩa là những quan hệ giữa con người liên quan đến các yêu câu đối với những thứ hữu hình va vô hình”!'. Ngày nay, thuật ngữ vật quyền (real right) đang dần được thay thé bởi một thuật ngữ hiện đại hon là quyền đối với tài san (“property right” hoặc “law on property”), được hiểu là "uyên mà một người có đối với tài sản và có tinh doi kháng với người khác `2. Như vậy, cùng với sự phát triển của lý luận và pháp luật, khái niệm vật quyên trong xã hội hiện đại ngày nay có thé được hiểu dưới hai góc độ chủ quan và khách quan.

Theo nghĩa chủ quan vat guyén có thé được hiểu là quyên của một chủ thé bằng hành vi của mình tác động lên tài sản theo ý chí của mình mà không phụ thuộc vào người khác để nhằm thỏa mãn lợi ích của mình. Theo nghĩa này vật quyền là quyền đối vật cho phép chủ thé trực tiếp thực hiện các quyền năng được pháp luật thừa nhận đối với tài sản, khác với trái quyền là quyền của một người yêu cầu một người khác thực hiện hoặc không thực hiện một hành vi nhất định (quyên đối nhân). Theo nghĩa khách quan thì vật quyên là toàn bộ các quy phạm pháp luật quy định về các loại vật quyên và nội dung của từng loại vật quyên, vé căn cứ phát sinh, chấm dứt các loại vật quyên, nguyên tắc thực hiện, bảo vệ vật quyên, về các hạn chê quyên mà người có vật quyên phải tuân thủ khi thực hiện các !9 Black Law Dictionary, Sixth Edition, St Paul, Minn, West Publishing Co. Lê Hồng Hạnh - “Sử dung khái niệm quyền tài sản thay cho vật quyền trong Dự thao Bộ luật Dân sự”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật tháng 04/2015.), Proprietary Rights and Insolvency, Oxford University Press, 2010.

20 quyên năng của mình!3. Theo nghĩa này thì vật quyền được hiểu là một chế định pháp luật điều chỉnh các quan hệ pháp luật về vật quyền được ghi nhận trong pháp luật dân sự dé phan biét voi cac chế định khác như chế định thừa ké, hợp đồng, hoặc bồi thường thiệt hại. Đặc điểm pháp lý của vật quyên Vật quyền với cách hiểu chung nhất là quyền của một người đối với một vật, là quyền chi phối trực tiếp của người đó đối với vật. Vật quyền là quyền tuyệt đôi, áp dụng đối với tất cả mọi người.

Trên cơ sở đó, vật quyền hàm chứa những đặc điểm pháp lý nhất định của nó mà trên nguyên tắc, quyền đối nhân (trái quyền) không có, đó là!*: Tứ nhất, tính đối vật (quyên chỉ phối trực tiếp với vật) Phải khẳng định rằng thông qua vật quyền cho phép chủ thể có quyền được trực tiếp tác động lên tài sản hay là quyền chi phối trực tiếp đối với tài sản đó. Vật quyền thể hiện mối quan hệ trực tiếp giữa người có quyền và tai sản. Tính đối vật của vật quyền thê hiện sự chỉ phối của các chủ thê lên tài sản. Các chủ thé thực hiện vật quyền thông qua hành vi của mình nhằm tác động trực tiếp lên tài sản như năm giữ, khai thác công dụng, sử dụng, bảo quản, giữ gìn tài sản.Tính đối vật trong vật quyền thê hiện mối liên hệ trực tiếp giữa người với vật (tài sản) mà không cần có vai trò của bất kỳ người thứ ba nào khác.

Đồng thời, tính đối vật của vật quyền còn thê hiện thông qua các trường hợp là trực tiếp tác động lên tài sản của mình hoặc trực tiếp tác động lên tài sản của người khác. Quyền sở hữu là một vật quyền thể hiện sự trực tiếp tác động lên tài sản của minh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu chế định vật quyền trong pháp luật dân sự Việt Nam hiện đại là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc phân tích và làm rõ các quy định về vật quyền trong hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam. Tài liệu này không chỉ cung cấp cái nhìn toàn diện về lý luận vật quyền mà còn đánh giá thực tiễn áp dụng, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật. Đây là nguồn tham khảo quý giá cho các nhà nghiên cứu, luật sư và sinh viên luật muốn hiểu sâu về chế định này.

Để mở rộng kiến thức về các chủ đề liên quan, bạn có thể khám phá thêm Luận án tiến sĩ lý luận về vật quyền và sự vận dụng trong xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự việt nam, Luận văn thạc sĩ luật học cầm cố và xử lý tài sản cầm cố theo quy định của bộ luật dân sự năm 2015, và Luận văn thạc sĩ luật học bảo lãnh theo quy định của bộ luật dân sự năm 2015. Những tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các khía cạnh khác của pháp luật dân sự, từ đó nâng cao kiến thức chuyên môn.