CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC LƯU VỰC SÔNG NHUỆ - ĐÁY VÀ GIỚI THIỆU LƯU VỰC SÔNG NHUỆ - ĐÁY ĐOẠN CHẢY QUA TỈNH HÀ NAM 1. Tổng quan hiện trạng chất lượng nước lưu vực sông Nhuệ - Đáy Lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy nằm ở hữu ngạn sông Hồng với diện tích tự nhiên 6.965,42 km2, dân số đến năm 2009 là trên 10 triệu người. Lưu vực bao gồm một phần Thủ đô Hà Nội, 3 thành phố, 44 thị xã, thị trấn, 46 quận huyện và hơn 990 xã, phường. Lưu vực có toạ độ địa lý từ 200 – 210,20' vĩ độ Bắc và 1050 – 1060,30' kinh độ Đông, bao gồm địa phận hành chính của 5 tỉnh thành phố: Hoà Bình, Hà Nội, Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình.
Sông Đáy nguyên là một phân lưu lớn đầu tiên ở hữu ngạn sông Hồng, bắt đầu từ cửa Hát Môn chảy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam. Nhưng đến năm 1937, sau khi xây dựng xong đập Đáy nước sông Hồng không thường xuyên vào sông Đáy qua cửa đập Đáy trừ những năm phân lũ, vì vậy phần đầu nguồn sông (từ km 0 đến Ba Thá dài 71 km) sông Đáy coi như đoạn sông chết [10,12]. Hiện tượng bồi lắng và nhân dân lấn đất canh tác cản trở việc thoát lũ mùa mưa. Lượng nước để nuôi sông Đáy chủ yếu là do các sông nhánh, quan trọng nhất là sông Tích, sông Bôi, sông Đào Nam Định, sông Nhuệ.
Sông chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, đổ ra biển tại cửa Đáy. Nguồn nước tự nhiên của sông Đáy kết hợp với điều hòa của hệ thống công trình thủy lợi đã phục vụ đắc lực việc cấp nước cho dân sinh (nước sinh hoạt cấp cho các đô thị lớn như: Hà Đông, Phủ Lý, Nam Định, Ninh Bình.) và phát triển các ngành kinh tế khác như: giao thông thủy, thủy sản, du lịch và đặc biệt là phát triển nông nghiệp - một ngành chính trong lưu vực. Sông Đáy là trục tiêu chính trong mùa lũ, sông Đáy hoàn toàn mang đặc thù của sông đồng bằng. Sông Đáy chảy giữa lưu vực với chiều dài khoảng 247 km, lòng và bãi sông biến đổi mạnh về chiều rộng.
5 Sông Nhuệ lấy nước từ sông Hồng qua cống Liên Mạc để tưới cho hệ thống thủy nông Đan Hoài. Sông Nhuệ còn tiêu nước cho thành phố Hà Nội và chảy vào sông Đáy tại thành phố Phủ Lý. Sông Nhuệ có diện tích lưu vực 1.070 km2 , chiếm 13,95% trong tổng diện tích lưu vực [9]. Trên diện tích đó khu vực ảnh hưởng của thành phố Hà Nội gồm một phần diện tích trên 20 km2 , bao gồm một phần diện tích của huyện Thanh Trì và Từ Liêm.
Nước sông Tô Lịch thường xuyên xả vào sông Nhuệ với một lượng lớn, có khi còn đạt tới 30 m3/s. Nước sông Nhuệ bị ô nhiễm bởi nước thải của thành phố Hà Nội. Đã xuất hiện nhiều sự cố về môi trường trên sông Nhuệ như cá chết hàng loạt do xả nước thải thành phố vào mùa cạn với lưu lượng lớn. Sông Nhuệ - sông Đáy là những phân lưu của sông Hồng, có đặc tính thuỷ chế phụ thuộc vào tổng các nguồn nước cấp ở trong, ngoài phân lưu.
Sông Nhuệ - sông Đáy không chỉ đóng vai trò phân lũ, tiêu thoát nước trong lưu vực mà quan trọng hơn là chức năng cung cấp phù sa tái tạo dinh dưỡng tự nhiên cho đất, cung cấp nước sinh hoạt cho cư dân trong vùng và các hoạt động phát triển kinh tế, phát triển giao thông, và cũng là môi trường nước thuận lợi cho phát triển nuôi trồng thuỷ sản, phát triển du lịch. Môi trường nước sông Nhuệ - sông Đáy thuộc tỉnh Hà Nam đóng vai trò quyết định đến hoạt động sống không chỉ của người dân lao động mà quyết định đến cả chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh Hà Nam. Môi trường nước bị ô nhiễm, sức lao động của người lao động bị ảnh hưởng, sức tái tạo tài nguyên suy giảm, lợi thế về điều kiện địa lý tự nhiên của tỉnh chưa được khai thác hợp lý. Nguồn thải từ các đô thị và khu dân cư tập trung Hiện nay trên lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy có khoảng trên 7,9 triệu dân, trong đó có khoảng 3,5 triệu dân sống trên các triền sông và gần 2,8 triệu dân sống trong khu vực đô thị, tính riêng ở Hà Nội lượng nước thải sinh hoạt thải vào lưu vực khoảng 370.
Lượng nước thải sinh hoạt ở các đô thị trong lưu vực tăng từ 200.000 m3/ngày đêm (năm 1989) lên khoảng 721. 6 Bên cạnh nguồn thải sinh hoạt lớn nhất từ Hà Nội, các nguồn thải sinh hoạt từ các khu đô thị khác chiếm 5 – 17 % lượng thải nằm phân bố khắp lưu vực. Theo tính toán sơ bộ, lượng nước thải sinh hoạt được tính bằng 90% lượng nước cấp cho sinh hoạt (cấp từ tất cả các nguồn: nước mặt, nước ngầm. Hiện tại, chỉ có thành phố Hà Nội là đã xây dựng một số trạm xử lý nước thải sinh hoạt tập trung: nhà máy XLNT Yên Sở (công suất 200.000m3/ngày đêm), trạm XLNT Hồ Tây (công suất 22.800m3/ngày đêm) trạm xử lý nước thải Trúc Bạch (công suất 2.300 m3/ngày đêm), Kim Liên (công suất 3.700 m3/ngày đêm) và Nhà máy Xử lý nước thải Bắc Thăng Long - Vân Trì (thuộc Dự án Phát triển hạ tầng đô thị Bắc Thăng Long - Vân Trì) với công suất 42.000 m3/ngày đêm ; trạm xử lý nước thải khu đô thị Mỹ đình II (công suất 1.
Nguồn nước thải từ các đô thị chứa nhiều chất hữu cơ là nguyên nhân quan trọng gây nên tình trạng ô nhiễm hữu cơ và dinh dưỡng trên hệ thống sông Nhuệ, sông Đáy hiện nay. Nguồn thải từ các cơ sở sản xuất công nghiệp Theo số liệu thống kê của các tỉnh năm 2013, số cơ sở công nghiệp trên lưu vực sông khoảng 2500 cơ sở với qui mô khác nhau, trong đó ở Hà Nội có khoảng 1000 cơ sở, Hà Nam 392 cơ sở, Nam Định 114 cơ sở, Hoà Bình 6 cơ sở và Ninh Bình là 94 cơ sở nằm ngoài khu, cụm công nghiệp. Hoạt động của các cơ sở công nghiệp trên đã tạo ra nhiều nguồn thải (rắn, lỏng, khí) gây ô nhiễm và ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường trên lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy. Tính theo địa phương, thì Hà Nội là địa phương có lượng nước thải công nghiệp đóng góp nhiều nhất: 54.100 m3/ngày đêm chiếm 54% tổng lượng nước thải công nghiệp thải ra lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy, chỉ tính riêng ngành công nghiệp hóa chất của Hà Nội đã đóng góp 24.
Trong nguồn nước thải của các cơ sở sản xuất công nghiệp có chứa các thành phần hữu cơ, hoá chất độc hại, các kim loại nặng, dầu mỡ. Tuy vậy, ý thức chấp hành các quy định bảo vệ môi trường của các cơ sở còn thấp, đặc biệt trong việc tuân thủ các quy định về đánh giá tác động môi trường, một phần nguyên nhân là do 7 tiềm lực tài chính của các cơ sở còn hạn chế, không đủ khả năng đầu tư hệ thống xử lý nước thải đồng bộ. Nguồn thải từ làng nghề Trong lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy theo thống kê chưa đầy đủ có 353 làng nghề với các qui mô khác nhau và hơn 100 ngàn cơ sở sản xuất hộ cá thể. Các làng nghề này một mặt góp phần gia tăng sản phẩm xã hội và tạo công ăn việc làm, nhưng hàng ngày, hàng giờ thải nước thải có chứa các chất độc hại vào vào hệ thống mương, sông trong lưu vực làm suy thoái và ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Hầu như tất cả các nguồn thải đều tập trung đổ vào sông Nhuệ – sông Đáy mà không qua hệ thống xử lý nước thải nào. Số lượng các làng nghề của từng tỉnh trên lưu vực xả vào sông Nhuệ - sông Đáy với tỷ lệ như sau: + Hà Nội: chiếm 53% tổng số làng nghề. + Nam Định: chiếm 16% tổng số làng nghề. + Hà Nam: chiếm 14% tổng số làng nghề.
+ Hà Nội: chiếm 8% tổng số làng nghề. + Ninh Bình: chiếm 9% tổng số làng nghề. Hầu hết các làng nghề trong lưu vực đều hình thành tự phát có quy mô nhỏ, phương thức thủ công lạc hậu, lại nằm xen kẽ giữa các khu dân cư nên chưa được quy hoạch tổng thể và xây dựng hệ thống thoát nước và xử lý chất thải hoàn chỉnh. Nguồn thải làng nghề chủ yếu do nước thải và chất thải rắn từ làng nghề nhuộm, dệt vải, nghề mạ kim loại, tái chế phế thải, chế biến nông sản, sản xuất đồ gỗ, đồ gốm.
chảy tự do ra kênh mương rồi đổ ra sông làm ô nhiễm môi trường. 100% các làng nghề này là chưa có hệ thống xử lý nước thải. Nguồn thải từ y tế Chất thải y tế là loại chất thải đặc biệt được sản sinh ra trong quá trình khám và chữa bệnh, nó thuộc loại chất thải nguy hại cần được xử lý triệt để trước khi thải vào nguồn tiếp nhận của môi trường. 8 Trong lưu vực có 104 bệnh viện và hàng trăm trung tâm y tế và các phòng khám, với khoảng 13.000 giường bệnh.
Ở vùng ngoại thành mỗi huyện, thị trấn đều có một bệnh viện đa khoa, không kể các trung tâm y tế, phòng khám và trạm xá tại các phường, xã. Hiện nay chỉ một số bệnh viện có hệ thống thiêu huỷ chất thải rắn đạt tiêu chuẩn quốc gia, số bệnh viện còn lại chất thải rắn và rác mới chỉ dừng lại ở khâu thu gom và chôn lấp mà không có sự kiểm tra, giám sát thường xuyên. Hệ thống xử lý chất thải của một số bệnh viện hoạt động tới mức quá tải do phải đáp ứng cả lượng chất thải của số lượng lớn người nhà bệnh nhân. Các chất thải bệnh viện có ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ cộng đồng nếu như công tác quản lý không được thực hiện đúng yêu cầu vệ sinh.
Các bệnh có nguy cơ lây truyền rất lớn qua rác thải, nước thải bệnh viện là ỉa chảy, viêm gan B, lao phổi,… khi rác thải và nước thải không được xử lý để chảy tự do theo nước mưa, theo cống rãnh vào mương tiếp nhận và cuối cùng chảy vào sông. Tổng lượng nước thải y tế trên lưu vực là khoảng 3000 m3/ngày đêm (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2013) e. Chất thải rắn Cùng với quá trình tăng trưởng của các ngành kinh tế, quá trình đô thị hóa và gia tăng dân số, tổng lượng phát thải chất thải rắn cũng tăng theo, đặc biệt tại các vùng đô thị, các khu dân cư tập trung.