Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chương 2: Khung cơ sở lý luận Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận 10 CHƯƠNG 2: KHUNG CƠ SỞ LÝ LUẬN Chương 2 tập trung phân tích khung cơ sở lý luận về chất lượng dịch vụ, sự hài lòng của khách hàng và văn hóa tổ chức. Trên cơ sở các mô hình nghiên cứu đã có, nhóm tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu cho đề tài và phát triển các giả thuyết tương ứng phục vụ cho nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng, tác động của sự hài lòng đến lòng trung thành của khách hàng và vai trò điều tiết của văn hóa tổ chức đối với tác động của chất lượng dịch vụ đến sự hài lòng của khách hàng. Chất lượng dịch vụ 2. Khái niệm Gronroos (1990) định nghĩa dịch vụ là một hoặc một chuỗi các hoạt động ít nhiều có tính chất vô hình, diễn ra trong các mối tương tác giữa nhân viên phục vụ hay các nguồn lực vật chất – hàng hóa hay các hệ thống cung ứng dịch vụ với khách hàng, đem đến cho khách hàng giải pháp nhằm giả quyết nhu cầu của khách hàng.
Quá trình cung cấp dịch vụ là quá trình tương tác giữa khách hàng và nhà cung ứng dịch vụ nhằm mục tiêu nhằm thỏa mãn các nhu cầu và mong đợi của khách hàng. Dịch vụ có các đặc điểm cơ bản như sau: Thứ nhất, dịch vụ có tính vô hình. Shostack (1977) cho rằng hàng hoá có nhiều thuộc tính bao gồm màu sắc, hình dáng, kích thước và thậm chí mùi vị nên người mua có thể tự xem xét và đánh giá liệu rằng nó có phù hợp với nhu cầu của họ hay không trước khi ra quyết định mua nhưng nguời mua dịch vụ lại không thể nhận biết rõ ràng về các đặc điểm của dịch vụ trước khi mua Vì vậy, Parasuraman, Zeithaml, và Berry (1985) kết luận rằng: “Hầu hết các dịch vụ không thể đo, đếm, thống kê, thử nghiệm và chứng nhận trước khi cung cấp để đảm bảo chất lượng dịch vụ”. Thứ hai, quá trình cung cấp và tiêu dùng dịch vụ là không thể tách rời.
Không giống như hàng hóa có quá trình sản xuất, cung cấp và tiêu dùng tách biệt nhau, hầu hêt mọi dịch vụ đều có quá trình cung cấp và tiêu dùng diễn ra đồng thời. Người cung cấp dịch vụ và khách hàng phải tiếp xúc với nhau tại các địa điểm và thời gian phù hợp cho hai bên. Đối với một số các dịch vụ, khách hàng phải có mặt trong suốt quá trình cung 11 cấp dịch vụ. Thứ ba, dịch vụ có tính dị biệt, không đồng đều về chất lượng.
Dịch vụ khó có thể được cung cấp hàng loạt và tập trung như hàng hoá. Do đó, việc kiểm soát chất lượng theo một tiêu chuẩn thống nhất là rất khó. Hơn nữa, sự cảm nhận của mỗi khách hàng về chất lượng dịch vụ có thể khác nhau do có sự ảnh hưởng bởi kỹ năng và thái độ của người cung cấp dịch vụ cũng như cảm nhận chủ quan người sử dụng dịch vụ. Dịch vụ càng cung cấp cho nhiều người thì càng khó đảm bảo tính đồng đều về chất lượng.
Thứ tư, dịch vụ không thể được dự trữ dưới bất kỳ hình thức nào. Dịch vụ chỉ tồn tại vào thời gian mà nó được cung cấp. Vì thế, dịch vụ không thể sản xuất hàng loạt để cất vào kho dự trữ, khi có nhu cầu thị trường thì đem ra bán như hàng hóa. Khi cung ứng dịch vụ, quá trình tương tác sẽ mang lại cho khách hàng các giá trị khác nhau tùy vào cách thức dịch vụ được cung ứng.
Vì vậy, các dịch vụ được cung ứng bởi những cá nhân, doanh nghiệp khác nhau sẽ mang lại cho khách hàng những cảm nhận khác nhau và đó là sự khác biệt về chất lượng dịch vụ. Lewis và Booms (1983) cho rằng chất lượng là cách thức đo lường mức độ mà dịch vụ đã thỏa mãn mong đợi của khách hàng như thế nào và dịch vụ có chất lượng tức là mang đến cho khách hàng một trải nghiệm tốt. Theo Parasuraman và cộng sự (1988) chất lượng dịch vụ là đánh giá chung của khách hàng về một dịch vụ dựa trên tính ưu việt của dịch vụ đó. Sự đánh giá của khách hàng có thể ảnh hưởng tiêu cực hay tích cực đến những hành vi của họ trong tương lai (E.
Anderson và cộng sự, 1994). Việc cung cấp chất lượng dịch vụ tốt là đóng vai trò đặc biệt quan trọng, có liên quan đến sự hình thành thói quen tiêu dùng và giúp cho doanh nghiệp năng cao năng lực cạnh tranh so với các doanh nghiệp khác trong ngành. Chất lượng dịch vụ được xem là yếu tố quan trọng cho sự thành công và sống còn trong môi trường cạnh tranh khắc nghiệt và nó có ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng trong quá trình ra quyết định cũng như tác động đến mối quan hệ giữa người tiêu dùng và doanh nghiệp, ảnh hưởng mức độ trung thành của khách hàng. Chất lượng dịch vụ là nguồn gốc tạo nên sự hài lòng của khách hàng (Cronin Jr & Taylor, 1992).
Các mô hình nghiên cứu về chất lượng dịch vụ 2. Mô hình chất lượng dịch vụ kỹ thuật – chức năng của Grönroos 12 (1984) Grönroos (1984) cho rằng một doanh nghiệp muốn làm cho khách hàng hài lòng thì người phụ trách vận hành kinh doanh phải hiểu rõ cảm nhận của khách hàng về dịch vụ mình cung cấp. Quản trị chất lượng dịch vụ nghĩa là kết nối giá trị cảm nhận với giá trị kỳ vọng của khách hàng; đồng thời, thu hẹp khoảng cách giữa hai giá trị này càng hẹp càng tốt. Grönroos (1984) cho rằng có hai thành tố chính cấu tạo nên chất lượng dịch vụ: Chất lượng dịch vụ kỹ thuật (Kết quả): Là các giá trị mà khách hàng nhận được qua quá trình tương tác với người cung ứng dịch vụ.
Chất lượng dịch vụ chức năng (Quy trình): Là quy trình mà trong đó khách hàng trải nghiệm dịch vụ được cung ứng bởi nhà cung ứng dịch vụ. Quy trình dịch vụ đóng có vai trò quyết định đến sự đánh giá của khách hàng về chất lượng dịch vụ mà họ đã trải nghiệm. Mô hình nghiên cứu chất lượng dịch vụ kỹ thuật – chức năng của Gronroos (1984) Nguồn: Grönroos (1984) Trong mô hình của Grönroos (1984), chất lượng dịch vụ được đánh giá bằng cách so sánh giữa giá trị mong đợi của khách hàng trước khi sử dụng dịch vụ và giá trị khách hàng nhận được sau khi đã sử dụng dịch vụ. Ngoài ra, tác giả cũng cho rằng những yếu tố như hoạt động marketing truyền thống (quảng cáo, chính sách giá, quan hệ công chúng), tư tưởng, truyền thống và quảng cáo truyền miệng 13 cũng có ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ nhưng ít quan trọng hơn.
Mô hình chất lượng dịch vụ dựa trên khoảng cách của Parasuraman và cộng sự (1985) Theo Parasuraman và cộng sự (1985), chất lượng dịch vụ đơn thuần là khoảng cách giữa những gì khách hàng mong đợi đạt được và cảm nhận thực tế của họ khi đã sử dụng dịch vụ. Ở mô hình này, Parasuraman và cộng sự đã chỉ ra 5 khoảng cách chất lượng dịch vụ tác động đến sự hài lòng của khách hàng. Khoảng cách 1 là sự chênh lệch giữa kỳ vọng của khách hàng và nhận thức của nhà cung cấp dịch vụ về những gì khách hàng kỳ vọng. Khoảng cách 2 là sự chênh lệch giữa cảm nhận của nhà cung cấp dịch vụ về những gì khách hàng kỳ vọng và tiêu chí chất lượng của dịch vụ.
Khoảng cách 3 là sự chênh lệch giữa tiêu chí chất lượng của dịch vụ với dịch vụ thực tế được cung cấp. Khoảng cách này xuất hiện khi dịch vụ được cung cấp cho khách hàng không phù hợp với các tiêu chí chất lượng dịch vụ đã được thiết lập. Khoảng cách 4 là chênh lệch giữa dịch vụ thực tế được cung cấp và thông tin mà khách hàng nhận được. Khoảng cách 5 là sự chênh lệch giữa các giá trị cảm nhận của khách hàng sau khi khách hàng đã sử dụng dịch vụ và những giá trị kỳ vọng của khách hàng trước họ sử dụng dịch vụ.
Để thu hẹp khoảng cách 5 hay nâng cao chất lượng dịch vụ thì nhà cung cấp dịch vụ cần nỗ lực thu hẹp các khoảng cách từ 1 đến 4. Mô hình chất lượng dịch vụ dựa trên khoảng cách của Parasuraman và cộng sự (1985) Khoảng cách 1 Nguồn: Parasuraman và cộng sự (1985) 2. Mô hình SERVQUAL của Parasuraman và cộng sự (1988, 1991) Parasuraman và cộng sự (1988) đã tiếp tục phát triển mô hình chất lượng dịch vụ dựa trên khái niệm khoảng cách đã đề xướng năm 1985 để đưa ra mô hình đo lường chất lượng dịch vụ gọi tắt là SERVQUAL với 10 thành tố: - Sự tin cậy: Khả năng cung cấp dịch vụ phù hợp và đúng thời hạn ngay từ đầu. 15 - Sự phản hồi: Mức độ sẵn sàng và mong muốn phục vụ khách hàng của nhân viên trực tiếp cung cấp dịch vụ.
- Năng lực phục vụ: Trình độ, năng lực chuyên môn của nhân viên trực tiếp cung cấp dịch vụ. - Sự tiếp cận: Mức độ khách hàng được tạo điều kiện để tiếp cận dịch vụ dễ dàng như thời gian chờ đợi được rút ngắn, giờ mở cửa và bố trí địa điểm phục vụ hướng đến sự thuận tiện cho khách hàng. - Sự lịch thiệp: Sự phục vụ niềm nở, cởi mở và thái độ tôn trọng khách hàng của nhân viên cung cấp dịch vụ. - Giao tiếp: Khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ làm cho khách hàng dễ hiểu và tích cực lắng nghe những vấn đề liên quan mà khách hàng trình bày như thắc mắc, khiếu nại.
- Sự tín nhiệm: Khả năng làm cho khách hàng tin tưởng, cảm thấy yên tâm khi sử dụng dịch vụ. - Sự an toàn: Khả năng đảm bảo cho khách hàng có được sự an toàn cả về mặt vật chất, tài chính và thông tin cá nhân. - Hiểu biết khách hàng: Mức độ hiểu biết, nắm bắt rõ ràng nhu cầu của khách hàng và khả năng phát hiện khách hàng trung thành. - Phương tiện hữu hình: Những biểu hiện bên ngoài của dịch vụ như cơ sở vật chất, trang phục của nhân viên và các máy móc, trang thiết bị được sử dụng trong quá trình cung cấp dịch vụ.
Mặc dù mô hình của Parasuraman và cộng sự (1988) thể hiện được tính bao quát nhiều khía cạnh khác nhau của chất lượng dịch vụ với 10 thành tố nhưng mô hình này có nhược điểm là phức tạp và chưa đạt được giá trị phân biệt.