Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÈ CHƯƠNG TRÌNH TỌA ĐÀM TRUYÈN HÌNH 1. Một số khái niệm 1. Truyền hình Quan niệm về truyền hình.TS Tạ Ngọc Tan trong cuốn Truyền thông đại chúng: Truyền hình là một loại hình phương tiện thông tin đại chúng chuyền tải thông tin bằng hình ảnh động và âm thanh. Nguyên nghĩa của thuật ngữ vô tuyến truyền hình ( television) bắt nguồn từ, từ tele có nghĩa là ở xa và vision là thấy được.
Television là thay được ở xa.TS Dương Xuân Sơn, thuật ngữ truyền hình (Television) có nguồn gốc từ tiếng tiếng La Tinh va tiếng Hy Lạp. Theo tiếng Hy Lạp “tele” có nghĩa là ở xa, còn “videre” là thấy được. Tiếng La Tinh là xem được từ xa. Ghép hai từ đó được Tele videre có nghĩa là xem được ở xa.
Tiếng Anh là “television”, tiếng pháp là “televison”. Theo Luật Báo chí 2016 “Báo hình là loại hình báo chí sử dụng hình ảnh là chủ yếu, kết hợp tiếng nói, âm thanh, chữ viết, được truyền dẫn, phát sóng trên các hạ tầng kỹ thuật ứng dụng công nghệ khác nhau” (23 tr. Tác giả cho rằng đây là khái niệm phù hợp và cập nhật về truyền hình hiện nay. So với báo in, phát thanh, truyền hình ra đời sau, nhưng có bước phat triển mạnh mẽ và nhanh chóng do kế thừa tất cả những điểm mạnh của các phương tiện truyền thông đại chúng trước nó như: điện ảnh, báo in, phát thanh và đô họa, hội họa.
12 Truyền hình hiện nay, không chỉ được phát sóng trên nền tảng truyền thống mà còn được phát sóng trên các nền tảng công nghệ khác như internet, điện thoại di động vì vậy có khả năng tiếp cận công chúng mọi lúc, mọi nơi. Với truyền hình, công chúng có thể tiếp nhận thông tin thời sự, chính trị, kinh tế- văn hóa, mà còn được thưởng thức các loại hình nghệ thuật khác như điện ảnh, hội họa, ca nhạc. Vì vậy, dù có xuất hiện các loại hình truyền thông mới, truyền hình vẫn là một phương tiện truyền thông thiết yếu đối với con người và xã hội bởi những thế mạnh của mình. Truyền hình cung cấp thông tin cho công chúng dưới hình thức âm thanh- hiển thị về hành động, sự việc.
Tác động đến hai giác quan quan trọng nhất của con người là thị giác và thính giác. Truyền hình có khả năng biểu cảm và tính hấp dẫn cao do đó có khả năng tác động mạnh mẽ vào tình cảm, lý trí của con người. Truyền hình trở thành công cụ sắc bén trên mặt trận tư tưởng, góp phan cung cấp thông tin cho công chúng: góp phan ôn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí, phương tiện giao lưu văn hóa; quảng bá hình ảnh của các quốc gia, dân tộc v. Chương trình tọa đàm truyền hình 1.
Chương trình truyền hình Nhà nghiên cứu Tạ Ngọc Tấn cho rằng: “ Thuật ngữ chương trình truyền hình thường được sử dụng trong hai trường hợp. Trường hợp thứ nhất, người ta dùng chương trình truyền hình dé chỉ toàn bộ nội dung thông tin phát di trong ngày, trong tuần hay trong tháng của mỗi kênh truyền hình hay của cả đài truyền hình. Trường hop thứ hai, chương trình truyền hình dùng dé chỉ một hay nhiều tác phẩm hoàn chỉnh hoặc kết hợp với một số thông tin tài liệu khác được tổ chức theo một chủ dé cụ thé với hình thức tương đối nhất quán, thời lượng ồn định và phát di theo định kỳ” (42tr. 142) Theo Luật Báo chí 2016, “ Chương trình phát thanh, chương trình truyền hình là sản phâm báo chí, bao gồm các chương trình phát thanh, truyền 13 hình được sắp xếp ổn định, liên tục, được phát sóng trong khung giờ nhất định và có dấu hiệu nhận biết” (23tr.
Chương trình tọa đàm truyền hình Thuật ngữ Toa dam theo Đại từ điển Tiếng Việt, 1996 do Nguyễn Như Ý chủ biên có nghĩa là: “họp mặt trao đổi, nói chuyện thân mật với nhau về một vấn dé nào đó”. Tọa đàm có nghĩa gốc là “đối thoại”. Tiếng Hy lap là “dialogos”, có nguồn gốc từ kinh nghiệm của các nhà ngụy bién.1656] Theo cuốn sách Các thé loại báo chí của A. Chertuchonui Nxb Thông tan năm 2004 thì toa dam có nhiều cách gọi, trong đó bắt nguồn từ hai chữ: Talk show (ở Mỹ) hay chat show (ở Anh) là một chương trình phát thanh hoặc truyền hình mà một nhóm người ngôi lại với nhau dé thảo luận một số chủ đề mà người dẫn chương trình đưa ra.
Thông thường các talk show hay chat show có một ban (panel) khách mời hiểu biết rõ hoặc có nhiều kinh nghiệm liên quan đến vấn đề đang được quan tâm thảo luận trong chương trình đó. Nhà nghiên cứu và thực hành báo chí Đinh Thị Thúy Hằng cho rằng: Tọa đàm trên truyền hình có thể là một chương trình và có thể là thể loại. Bà cho rằng tọa đàm trên truyền hình là một chương trình trong thể loại “talk show”. Thé loại “talk show” khác với các thé loại khác như “truyền hình thực tế”, “tin tức thời sự”, “phim tài liệu”.
Thê loại chương trình truyền hình khác nhau về tính chất, cách thức, hình thức thể hiện. Ví dụ thể loại “talk show” luôn có người dẫn và khách mời đến trao đổi, bàn luận, phân tích về các van đề mà công chúng quan tâm. Hoạt động truyền hình luôn sáng tạo, do đó các chương trình tọa đàm có thể được xây dựng khác nhau, có khi là một hai khách, có khi đến bốn, năm khách mời. Có loại chương trình có khán giả, có loại chương trình không có khán giả.
Khi có khán giả tham gia thì gọi là chương trình giao lưu- tọa đàm. 14 PSG,TS Nguyễn Đức Dũng viết trong cuốn Lý luận báo phát thanh: Toa đàm nghĩa là ngồi để trò chuyện. Trên báo chí, hình thức này xuất hiện khi trong cuộc sống có những vấn đề hoặc sự kiện nồi bật nào đó đang thu hút sự quan tâm của đông đảo công chúng, đang cần lời giải đáp. Tuy nhiên, nó không chỉ là một cuộc trò chuyện mà mở rộng ra thành cuộc trao đôi bàn bac, tranh luận giữa những người tham gia.
Trong cuộc tọa đàm thường có những ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau và chính điều đó đã trở thành một trong những lý do tạo ra sự hap dẫn của tọa đàm (7,tr.332] Theo quan điểm của TS. Trần Bảo Khánh, tọa đàm là đàm luận truyền hình, một thé loại mà khi thực hiện các dai truyền hình hay gọi là tọa đàm hay “talk show”. Đề định danh thé loại này cần hiểu rõ tính chất thông tin, vi trí của nhà báo trong thê loại. Về tính chất thông tin; trong đàm luận, người xem chứng kiến các quan điểm, ý kiến khác nhau về một sự kiện hay vấn đề, nhưng đặt trọng tâm vào việc cọ xát lẫn nhau giữa các quan điểm là chủ yếu.
Như vậy, tính chất thông tin của cuộc đàm luận không phải là sự kiện vấn đề mà là quan điểm và sự cọ xát quan điểm về sự kiện, vấn đề.Tọa đàm (đàm luận) là thể loại nhưng cũng có thé là một chương trình nếu nó được xây dựng thành format, nghĩa là có một hình thức, một chủ đề xuyên suốt toàn bộ nội dung. Thực tế, dù gọi là thể loại tọa đàm hay chương trình tọa đàm hoặc đàm luận thì bản chất của nó vẫn là cuộc trò chuyện nhằm trao đồi, tranh luận về một vẫn đề, một sự kiện, hiện tượng nảy sinh trong cuộc sống được nhiều người quan tâm và có ảnh hưởng đến nhiều người. Từ những quan điểm trên, tác giả luận văn cho răng hiện nay gọi chương trình tọa đàm truyền hình là phù hợp với thực tiễn sự vận động và phát triển của truyền hình, làm phong phú hơn nội dung và hình thức chuyên tải thông tin trên sóng truyền hình. 15 Căn cứ vào nội dung, người ta có thể phân chia các chương trình tọa đàm theo các lĩnh vực của đời sống xã hội như: chương trình tọa đàm chính tri, kinh tẾ, văn hóa, giáo dục, y té.
Căn cứ về phương thức tô chức có thé phân chia: chương trình toa đàm trực tiếp tại trường quay, chương trình tọa đàm có hậu kỳ, chương trình tọa đàm truyền hình online, chương trình truyền hình tọa đàm kết hợp trực tiếp và online. Đối với những người làm báo cần nắm chắc quy trình tô chức sản xuất chương trình tọa đàm phù hợp với nội dung và phương thức thực hiện. Một chương trình thực sự đúng, trúng, hay khi đảm bảo sự nhất quán về nội dung và hình thức thé hiện, vi thé khả năng tác động của chương trình sẽ tăng lên. Đối với báo chí truyền hình, khi xây dựng tác phẩm, chương trình, nếu nhà báo thực hiện tốt các yêu cầu của thể loại, chương trình một cách khoa học, logic thì người xem sẽ cảm thấy tiếp nhận thông tin đó dé dang và hứng thú.
Chất lượng chương trình tọa đàm truyền hình 1. Chất lượng Theo quan điểm của Triết học Mác — Lénin, Chất hượng là hai mặt có mối quan hệ biện chứng của mỗi sự vật, hiện tượng. “Chat” là tính qui định vốn có của các sự vật hiện tượng, là sự thống nhất hữu cơ những thuộc tính, những yếu tố cau thành sự vật, nói lên sự vật đó là gì, phân biệt nó với sự vật và hiện tượng khác. “Luong” là tính quy định cua sự vật và hiện tượng về mặt quy mô, trình độ phát triển của nó, biểu thị con số các thuộc tính, các yếu tố cau thành nó.
Quá trình thay đôi về lượng tạo điều kiện cho chất đôi va ngược lại là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật. Quy luật này nói lên cách thức của sự vận động và phát triển của sự vật và hiện tượng. Theo nhà nghiên cứu Tạ Ngọc Tan : “một chương trình gọi là có chất lượng khi nó thu hút được sự quan tâm của người xem và thể hiện được tính mục đích của người sáng tạo. Mặt khác, bất cứ chương trình truyền hình nào cũng hàm chứa những giá trị tư tưởng, văn hóa đặc thù của mỗi dân tộc, quốc 16 gia, mỗi giai cấp, tầng lớp xã hội cụ thé.
Những giá trị này không những được chuyền tải qua nội dung mà còn biểu hiện cả trong phương pháp sáng tạo và hình thức thé hiện của các tác phẩm, tài liệu cũng như cách tổ chức xây dựng chương trình” (42, tr. Nguyễn Van Dững quan niệm: tác phẩm báo chí có chất lượng là tác phẩm cập nhật được sự kiện, vấn đề bức xúc, nóng hồi; tác phẩm được cấu thành, được xây dựng từ những chỉ tiết sống động, tin cậy bằng mắt thấy, tai nghe; là cách thức diễn đạt, trình bày sáng tỏ, cuốn hút.