Chương 1 TONG QUAN 1. Tình hình chăn nuôi dé sữa va định hướng phát triển chăn nuôi ở khu vực Thành Phố Hồ Chí Minh Do tốc độ nhanh chóng đô thị hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh, chăn nuôi ở khu vực thành phố có khuynh hướng di chuyên đến các huyện ngoại thành như Củ Chi, Hóc Môn, Cần Giờ, Bình Chánh. So với chăn nuôi heo và bò sữa đã dần chuyền hình thức từ chăn nuôi nhỏ lẻ sang trang trại theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa thì chăn nuôi đê vẫn thuộc các nông hộ nhỏ lẻ và phân tán. Về số lượng đàn đê, (http://channuoivietnam.com/), theo số liệu được báo cáo bởi thống kê chăn nuôi năm 2020, tong đàn dê (không phân biệt dê thịt hay dé sữa) có sự gia tăng trong những năm gần đây, sự gia tăng mạnh nhất ở năm 2017 so với năm 2015.
Vùng ngoại 6 Thành Phố Hồ Chí Minh (Củ Chi, Hóc Môn, Cần Giờ) là những nơi có sự phát triển đáng kể về chăn nuôi dê thịt lẫn dê sữa, bên cạnh đó dé còn được nuôi khá phổ biến ở khu vực huyện Bình Chánh. Sau đó chung lại ở năm 2018 và gia tăng không đáng kể vào năm 2020. Tuy nhiên, không có số liệu được ghi nhận vào năm 2019 dé đánh giá rõ những xu hướng thay đôi chăn nuôi dé trong giai đoạn này. Quy hoạch về chăn nuôi gia cầm và gia súc ở địa bàn Tp.HCM trong giai đoạn 2020-2025 là duy trì sự phát triển chăn nuôi tại các huyện ngoại thành; giảm dân chăn nuôi tại các quận ven nội, các khu vực chăn nuôi xen cài trong khu dân cư (http://www.
Phat triển chăn nuôi toàn diện gan với tạo mối liên kết, hợp tác hỗ trợ chăn nuôi nông hộ. Quan điểm phát triển sản phẩm chăn nuôi không chỉ đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn định hướng cho nhu cầu xuất khẩu. Thành phố sẽ tiếp tục giữ vững vai trò là trung tâm cung cấp giống vật nuôi và khai thác hiệu quả nguồn phụ phẩm nông nghiệp làm nguồn thức ăn cho gia súc và gia cầm (Nguồn: Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Thành phố Hồ Chí Minh năm 2011). Do đó, chăn nuôi dê sẽ dần dịch chuyền sang vùng ven của Thành Phố, đây mạnh xu hướng chăn nuôi bền vững từ việc xây dựng con giông và tìm kiêm khâu phân cho năng suat tôi ưu.
4000 3500 3000 Sdlưốêợng 2500 2000 1500 1000 500 0 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019 2020 2021 năm Hình 1. Số lượng đàn đê tại TP. Hồ Chí Minh qua các năm (http://www. Đặc điểm ngoại hình va năng suất các giống dé Bach Thảo va Saanen Mặc dù đặc điểm hệ thống chăn nuôi dé là bước quan trọng dé thiết lập chăn nuôi dê bền vững (Ruiz và cs, 2008), nguồn gen động vật vẫn là yếu tố then chốt vì chúng là cơ sở cho hiệu suất và khả năng thích ứng của hệ thống.
Do đó, việc lai tao dé tim kiếm wu thé lai và xây dựng hệ thống chăn nuôi phù hợp giúp tối ưu hóa hiệu suất trên thú. Dê là nhóm thú nhai lại có khả năng tiêu hóa cellulose tốt và nhờ có môi trên di động chúng có khả năng tìm kiếm thức ăn ở thảm thực vật tốt hơn so với bỏ và cừu. Dê Bách Thảo Giống dé Bách Thảo là giỗng dê kiêm dụng thịt và sữa, được nuôi khá phố biến tại các nông hộ ở Việt Nam do bởi khả năng thích nghỉ tốt với điều khí hậu nóng âm, nhưng năng suất của chúng thấp hơn so với nhóm giống loại chuyên thịt và chuyên sữa. Ở Việt Nam, dé Bách Thảo là giỗng dé kiêm dụng thịt và sữa, có nguồn gốc ở tỉnh Ninh Thuận.
Hiện nay, giống dê Bách Thảo hầu như đã được phổ biến nuôi rộng khắp các tỉnh thành, nhất là những nơi có đồi núi. Giống dé Bách Thảo (hft://sotaynongnghiep.com/) Tầm vóc giống dé Bách Thảo khoảng trung bình khi trưởng thành dé đực nặng 55 — 75 kg/con và dê cái nặng 40 — 50 kg/con (Nguyễn Văn Đức, 2017). Theo Trần Trang Nhung va cs (2005) cho biết, ở giai đoạn từ sơ sinh đến 12 tháng tuổi, dé đực đạt mức tăng trọng 1,47 kg/con/thang va dê cái đạt 1,18 kg/con/thang. Trọng lượng lúc phối giống tốt ở con đực là 60 - 70 kg, con cái là 40 - 45 kg.
Tuổi đẻ lứa đầu là 420 - 450 ngày tuổi. Năng suất sinh sản cao: 1.7 con/lứa và 1. Tỷ lệ nuôi sống sau 6 tháng là 82 - 87%. Sản lượng sữa 1.5 lit/ngay, chu kỳ cho sữa là 140 - 160 ngày (Nguyễn Thị Mai, 2000).
Mặc dù đê Bách Thảo có năng suất sinh sản cao, khả năng thích nghi tốt với điều kiện khí hậu và thức ăn tại Việt Nam nhưng sản lượng sữa thấp. Do đó, việc lai tạo dê Bách Thảo với các giống dê chuyên sữa khác là tất yếu trong việc nâng cao năng suất sữa đê. Dê Saanen Dê Saanen là giống dê sữa chuyên dụng của Thuy Sĩ, có năng suất cao, được nuôi nhiều ở Pháp và châu Âu. Giống đê này có độ thuần nhất cao, năng suất sữa cao nhất và thường được các nhà tạo giống sử dụng làm giống dé cải tiến các giống khác vê khả năng cho sữa.
Giống dê Saanen (htt://nhachannuoi.vn/mot-giong-de-hien-co-tai-viet- nam/) Dê Saanen có màu lông trắng tuyên, thỉnh thoảng có con màu xám nhạt, tai nhỏ - vénh, thường có râu ở cằm. Tính nết hiền lành, kết cầu chắc, thanh tú, bầu vú phát triển, ngoại hình đẹp theo hướng sữa. Khối lượng sơ sinh ở dé cái: 3 - 3,5 kg: dê đực: 3,8 - 4,2 kg. Khối lượng trưởng thành ở dé cái khoảng 50 - 60 kg, con đực khoảng 65 - 75 kg.
Khả năng sinh sản tốt 100 đê cái cho ra 180 - 250 đê con/năm. Sản lượng sữa cao 600 - 1200 kg/chu kỳ 290 - 300 ngày vắt, tỷ lệ mỡ sữa 3,8 - 4,5%. Việt Nam đã nhập dé Saanen bằng tinh cong ra và cho phối với dé Bách Thảo cho ra con lai có kết quả tốt. Vào năm 2002, Viện Chăn nuôi quốc gia đã nhập từ Mỹ 40 con dê Saanen và nuôi tại Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây.
Hiện nay đàn dê sinh trưởng, phát triển tốt, đê con sinh ra khoẻ mạnh, đàn dê tỏ ra thích ứng với khí hậu và điều kiện nuôi dưỡng tại Việt Nam. Dê Boer Giống dé này có nguồn gốc ở Nam Phi với đặc điểm nỗi bật là lớn rất nhanh và cho sản lượng thịt nhiều hơn các loại dé thông thường và thịt chứa nhiều chất béo. Một con dé Boer trưởng thành cân nặng khoảng 100 kg và có thé cung cấp hon 40 kg thịt dé, thậm chí có thé đạt cân nặng 109 kg. Giống dé này có hai sắc lông den trắng trên mình, có màu lông nâu, có vòng trang quanh cô.
Lông đen phủ hết trọn phần cổ, lưng, hai bên hông va phần trên đuôi. Còn lông trăng ở mặt dưới của tai, ở hai sọc trên mặt chạy song song từ đầu đến mũi, phần bụng, và bốn khuyu chân trở xuống. Với sắc lông này trông con dé giống con bò Hà Lan. Boer là con vật thuần tính, déo dai, có khả năng phát triển trong những điều kiện khí hậu khác nhau, tính kháng bệnh tốt và ăn tạp, thích chăn thả.
Nuôi chăn thả trên đồng cỏ nghèo, khô hạn vẫn phát triển tốt. Trọng lượng con cái trưởng thành nặng từ 90-100 kg/con, con đực 100— 160 kg/con. Dê Boer có cơ bắp rất đầy đặn, nhất là phần ngực, đùi, sinh trưởng nhanh dê cho nhiều sữa, nhưng đa số đều có chu kỳ sữa ngắn ngày. Do đó, nhiều người cho giống dé này lai với dé Bách Thao dé năng suất sữa được cao hơn va chu kỳ sữa được dài hơn.
Chúng có thân màu trắng có vành nâu đỏ hoặc đen quanh cổ, hoặc màu đỏ (Boer Đỏ). Trọng lượng lúc trưởng thành dê đực từ 80 — 100 kg, dê cái từ 70 — 80 kg. Tăng trưởng bình quân từ 150 - 200 gr/con/ ngày. Chất lượng thịt tốt, đây là loại thịt dày, cholesterol thấp, protéin cao, thịt mềm, thơm.
Dé Boer tăng trưởng nhanh, chúng dé nuôi, mắn đẻ, nuôi con giỏi. Động đực đầu tiên từ 5-7 tháng tuôi. Tuổi phối giống lần đầu thi dé cái được 15 tháng tuổi đạt trọng lượng từ 30-40 kg, dê đực 45-60 kg. Chu kì động đực từ 18-21 ngày.
Thời gian mang thai từ 145-155 ngày. Dê cái đẻ lần đầu thường là một con, lần 2,3 có thé là 2-3 con/lần đẻ (15 - 20% đàn). Trọng lượng sơ sinh từ 2-3,5 kg. Bình quân 1 dé được quan lý phối giống 25-30 cái.
Là giống ăn tạp, dé nuôi, khả năng kháng bệnh cao sinh sản nhanh. Bên cạnh đặc tính dễ dãi trong ăn uống và thuận lợi trong dọn dẹp vệ sinh chuồng trại, thì chúng còn là con vật dé nhân đàn. Dê Boer dễ nuôi, chuồng trại đơn giản nên mô hình này phù hợp với những hộ ít vốn. Chúng ít bị ốm sức đề kháng cao chăn thả tự kiếm cỏ ngoài đồng không cần thức ăn tinh bô sung nên chăn nuôi không vat va và tốn kém, tuy vậy chúng cũng khá nhạy cảm, dễ bị bệnh, nên khi nuôi cũng cần phải thường xuyên quét dọn chuồng trại, phát hiện, cách ly và chữa trị kịp thời những con đê bị bệnh đề tránh lây nhiễm, gây thiệt hại cho cả đàn.
Dê Boer ăn thức ăn chủ yếu từ cây cỏ tự nhiên. Thức ăn cho chúng rất đa dạng gồm các loại cây bụi, cỏ trồng, cỏ mọc tự nhiên, các loại lá cây như so đũa, mít, chuối, sau dau, keo dau, dâm but, phế phẩm nông nghiệp như rơm, thân cây ngô, ngọn mía, dây đậu, các loại củ quả như khoai lang, bí đỏ, chuối, thức ăn tinh, thức ăn khoáng. Thức ăn thô xanh thường chiếm khoảng 55 — 70% khâu phần ăn của dê. Bên cạnh đó còn có các loại lá gòn, mít, cỏ, rau lang.
Giống dé Boer (https://vi.org/wiki/Dê_Boer/) 1. Một số yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và thành phần sữa dé 1. Nhiệt 4m Chỉ số nhiệt âm THI (Temperature Humidity Index) là thước đo tác động tương quan của nhiệt độ và độ ẩm tương đối của môi trường lên thú dé đánh giá nguy cơ stress nhiệt và ngăn ngừa các tác động chính ảnh hưởng bất lợi. So với nhóm thú nhai lại lớn, dê có khả năng thích ứng tốt với môi trường nhiệt độ cao nhưng chúng có sức chịu đựng kém với việc kết hợp thêm 4m độ cao.
Khi kết hợp cả hai yêu tố bat lợi này, sức khỏe và năng suất của dé sữa bị sụt giảm. Nghiên cứu của Menéndez-Buxadera và cs (2008) cho thấy dê sữa (giống Payoya) có ngưỡng THI từ 13 đến 22 là thích hợp cho môi trường sống nghiên cứu tại Tây Ban Nha và sản xuất.