Chương 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1. Một số khái niệm cơ bản về từ điển và từ điển học 1. Vài nét về sự ra đời và phát triển của từ điển và từ điển học Do nhu cầu của xã hội, một trong những loại sách ra đời sớm là từ điển. Quyển từ điển đầu tiên trên thế giới là quyển từ vựng do người Hy Lạp biên soạn thế kỉ V trước Công nguyên; thu thập và giải thích các từ khó trong các tác phẩm thời cổ đại, đặc biệt những tác phẩm của Homer.
Ở Việt Nam, trước đây mấy thế kỉ, chỉ có những từ điển song ngữ đối chiếu như “An Nam – Lustan – La tinh” (“Việt – Bồ - La”) do Alexandre de Rhades biên soạn, xuất bản ở Roma năm 1651; tiếp theo là một số từ điển Hán - Việt cỡ nhỏ như “Tam thiên tự giải âm” do Ngô Thì Nhậm biên soạn, xuất bản năm 1831, “Thiên tự văn giải âm”; và một số quyển từ điển đối chiếu Pháp – Việt như Dictionnaire Franais-Annamite et Annamite-Franais (G.Aubaret, Paris, 1867), Petit Dictionnaire Franais-Annamite (P. Trương Vĩnh Ký, Sài Gòn, 1884). Cuối thế kỉ XIX mới có quyển từ điển giải thích tiếng Việt đầu tiên, Đại Nam Quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Paulus Của (1895) và sau hơn ba mươi năm sau mới có quyển thứ hai, Việt Nam tự điển của Hội Khai trí Tiến Đức (1931). Cuối thế kỉ XX, cùng với sự phát triển của khoa học, kinh tế, giáo dục trên phạm vi toàn cầu, nhu cầu về từ điển của xã hội tăng nhanh, từ điển được biên soạn và xuất bản với số lượng lớn và nhiều chủng loại đa dạng.
Đặc biệt, gần đây, sự bùng nổ của công nghệ tin học đã tạo ra một bước phát triển mới trong z các khâu biên soạn, in ấn từ điển; sản phẩm từ điển không chỉ là những quyển sách bằng giấy mà còn ở dạng từ điển điện tử. Ngược lại với thời điểm ra đời của từ điển, từ điển học lại ra đời rất muộn. Đến những năm bốn mươi của thế kỉ XX, lí thuyết từ điển học mới được khởi xướng bằng bài viết “Thử bàn về lí thuyết đại cương về từ điển học” của L. Đến năm 1971, bộ môn từ điển học đã có bước ngoặt đáng kể với sự ra đời của hai công trình: Giáo trình từ điển học của Ladislav Zgusta, xuất bản ở Praha và Nghiên cứu từ điển hiện đại bằng tiếng Pháp về ngôn ngữ học và kí hiệu học của Josette Rey Debove, xuất bản ở Paris.
Gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của ngôn ngữ học nói chung, của ngữ nghĩa học, từ vựng học nói riêng, từ điển học cũng phát triển mạnh mẽ. Ở Việt Nam, nhiều bài viết có giá trị thể hiện sự quan tâm của các tác giả trong lĩnh vực này, như: Về việc biên soạn một quyển từ điển tiếng Việt mới (Hoàng Phê, 1969); Một vài nhận xét về từ điển giải thích của ta (Vương Lộc, 1969); Một số ý kiến về việc giải thích nghĩa của từ trong từ điển tiếng Việt (Đỗ Hữu Châu, 1969); Về việc giải thích nghĩa của từ nhiều nghĩa trong từ điển tiếng Việt (Nguyễn Văn Tu, 1969); Một số kinh nghiệm biên soạn từ điển ngôn ngữ ở các nước xã hội chủ nghĩa (Bùi Khắc Việt, 1969); Việc chọn và giải thích từ ngữ miền Nam trong một quyển từ điển tiếng Việt loại phổ thông (Nguyễn Quang, 1970); Vấn đề biên soạn hư từ trong việc biên soạn từ điển giải thích (Hồng Dân, 1971);… Các bài viết trên đã đề cập đến nhiều mặt, nhiều vấn đề cần chú ý trong thực tế biên soạn từ điển tiếng Việt. Đến năm 1997, mới có một công trình chuyên đề về từ điển học, Một số vấn đề từ điển học, gồm tập hợp 9 bài viết, đúc kết những kinh nghiệm biên soạn z từ điển ở nước ta và một số vấn đề lí luận từ điển học. Các bài viết trong công trình này đã đi sâu vào một số vấn đề lí luận từ điển, như: những nét khái quát về cấu trúc vĩ mô, cấu trúc vi mô, hệ thống các kiểu chú, phương pháp biên soạn từ điển đồng nghĩa… Tuy nhiên, các vấn đề mà các tác giả đề cập đến trong công trình này đều là những vấn đề trong từ điển giải thích, không có tác giả nào đề cập đến các vấn đề của từ điển bách khoa, nhất là vấn đề về các kiểu định nghĩa.
Ngày nay, từ điển học đã được coi là một bộ môn ngôn ngữ học ứng dụng quan trọng, với đối tượng nghiên cứu chủ yếu là các loại hình từ điển, cấu trúc vĩ mô, cấu trúc vi mô. Gần đây, giới từ điển học còn chú ý đến hai mặt khác nữa là lịch sử của từ điển và việc áp dụng công nghệ tin học vào công tác biên soạn từ điển. Chức năng và đặc điểm cơ bản của từ điển Khái niệm từ điển: Từ điển là một công cụ đắc lực giúp cho con người nắm vững công cụ ngôn ngữ và sử dụng có hiệu quả trong mọi lĩnh vực hoạt động của mình, đồng thời góp phần chuẩn hoá ngôn ngữ. Theo tác giả Nguyễn Văn Tu, từ điển là “sách tra cứu bao gồm các từ, ngữ được sắp xếp theo một trật tự nhất định, giải thích ý nghĩa của các đơn vị được miêu tả, cung cấp những thông tin khác nhau về chúng hoặc dịch chúng ra một ngôn ngữ khác, hoặc thông báo những kiến thức về các đối tượng do chúng biểu thị” [30, tr.
Trong cuốn Giáo trình từ điển học (1971), L. Zgusta đã dẫn ra một định nghĩa về từ điển của C. Bergl mà ông cho là một trong những định nghĩa tốt nhất: “Một cuốn từ điển là một danh mục được sắp xếp có hệ thống của các hình thức ngôn ngữ đã được xã hội hoá, thu thập từ những thói quen nói năng của một cộng đồng ngôn ngữ nhất định và được người biên soạn chú giải sao cho người đọc có một trình độ nhất định z hiểu được ý nghĩa của từng hình thức ngôn ngữ riêng rẽ và biết được những điều cần yếu về chức năng của nó trong cộng đồng ngôn ngữ ấy” [47, tr. Trong công trình Một số vấn đề lý luận và phương pháp luận cơ bản về từ điển học và bách khoa thư Việt Nam do tác giả Phạm Hùng Việt làm chủ nhiệm, các tác giả cho rằng: “Từ điển là một công trình tra cứu, lưu chứa các từ ngữ tách rời của vốn từ ngữ chung (hay một bộ phận các từ ngữ chuyên biệt) của ngôn ngữ, kèm theo các thông tin (đầy đủ hoặc chỉ một số thông tin) về chính tả, cách phát âm, ý nghĩa, cách dùng, các từ đồng nghĩa, sự phái sinh và lịch sử của các từ ngữ đó.
Để tiện tra cứu, ở phần lớn các từ điển, các từ ngữ được sắp xếp theo trật tự bảng chữ cái; các thông tin được minh hoạ bằng những trích dẫn từ các tác phẩm văn học” [46, tr. 9] Từ những định nghĩa và sự tường giải về từ điển, có thể thấy một số đặc tính chung trong từ điển như sau: - Từ điển là loại công trình dùng để tra cứu, giúp cho người đọc tìm kiếm những thông tin qua các từ ngữ được tập hợp và trình bày (các đầu mục từ). - Các đầu mục từ được sắp xếp theo một trật tự nhất định, có thể đi kèm là các thông tin phụ liên quan đến đầu mục này. - Trong mỗi mục từ, được trình bày có hệ thống là các nội dung thông tin (tri thức) – phần còn lại ngoài các đầu mục từ, có vai trò giải thích nội dung của đầu mục từ hoặc cung cấp các thông tin về đối tượng đã được nêu trong đầu mục từ.
Chức năng của từ điển: 1. Từ điển có chức năng cung cấp thông tin. Đây là chức năng cơ bản của từ điển và chi phối các chức năng khác. Bằng cách diễn đạt tri thức ngắn gọn, cô đọng nhất, từ điển là một phương tiện hữu hiệu để tàng trữ và cung cấp thông tin.
z các thông tin do từ điển cung cấp có thể là các thông tin về ngôn ngữ, văn hoá, xã hội, kinh tế, khoa học… 2. Từ điển giúp giải thích, cung cấp và hướng dẫn cách sử dụng từ ngữ của một ngôn ngữ, do đó, từ điển còn có chức năng nữa là chức năng phục vụ giao tiếp, giúp cho việc giao tiếp trong nội bộ một dân tộc cùng sử dụng chung một ngôn ngữ hay giữa các dân tộc sử dụng các ngôn ngữ khác nhau. Từ điển có chức năng hướng dẫn, giáo dục ngôn ngữ. Từ điển là công cụ đắc lực trong việc dạy và học ngôn ngữ.
Người sử dụng từ điển thường coi từ điển là người thầy không lời, là trọng tài trong các cuộc tranh luận về từ ngữ. Từ điển có chức năng chuẩn hoá ngôn ngữ. Ngôn ngữ rất đa dạng và luôn luôn vận động phát triển. Hiện tượng một chuẩn mới hình thành bên cạnh một chuẩn cũ luôn luôn tồn tại, nhất là trong lĩnh vực từ vựng.
Cái mới và cái cũ song song tồn tại trong một thời gian, thường là cuối cùng cái cũ nhường chỗ cho cái mới, nhưng không phải bao giờ cũng vậy. Từ điển phải thường xuyên được cập nhật, giới thiệu chuẩn ngôn ngữ trong sự biến đổi, phát triển nên từ điển đóng vai trò quan trọng trong việc chuẩn hoá ngôn ngữ. Ngoài các chức năng trên, từ điển còn có thêm chức năng phục vụ nghiên cứu. Qua từ điển người ta có thể rút ra được những nguyên tắc, lí luận về từ điển học, đồng thời cũng có thể lấy từ điển làm tư liệu nghiên cứu nhiều lĩnh vực khác của ngôn ngữ học.
Đặc điểm của từ điển: Để thực hiện các chức năng nêu trên, từ điển có những đặc điểm riêng khác biệt với tất cả các loại sách khác. Là một loại sách phục vụ nghiên cứu giáo dục, từ điển có tính khoa học. Tính khoa học được thể hiện ở nhiều mặt, từ việc xác định nguyên tắc biên soạn, phạm vi thu thập từ ngữ đến cách thức định nghĩa, cung cấp các thông tin mở rộng. Đối với từ điển bách khoa, độ chính xác là thước đo của tính khoa học.
Từ điển thu thập và giải thích các từ ngữ được dùng trong đời sống của con người, cũng có nghĩa là nó đề cập đến mọi khía cạnh của đời sống hiện thực, dù muốn hay không muốn, nó phản ánh một sự lí giải và một cách đánh giá về các vấn đề văn hoá, khoa học, chính trị, xã hội. Theo Hoàng Phê, từ điển phản ánh thế giới quan, quan điểm, lập trường của người biên soạn, dù rằng người biên soạn có đầy đủ ý thức hay không về việc đó.