Chương 1. Vật liệu quang xúc tác TiO2 1. Vật liệu quang xúc tác bán dẫn Quang xúc tác là quá trình tăng tốc độ phản ứng hóa học khi có mặt chất xúc tác trong điều kiện được chiếu bức xạ thích hợp. Chất xúc tác chỉ làm tăng tốc độ phản ứng hóa học và không bị mất đi trong quá trình phản ứng.
Một chất bán dẫn là vật liệu quang xúc tác tốt cần có những tính chất như có hoạt tính xúc tác quang và khả năng hấp thụ được ánh sáng cao, có độ bền về mặt hóa học, không bị phân hủy khi tiếp xúc lâu dài với ánh sáng, không tạo ra sản phẩm phụ độc hại và giá thành rẻ. Khi chiếu vào chất bán dẫn bức xạ có năng lượng lớn hơn hoặc bằng bề rộng vùng cấm, photon bị hấp thụ và sinh ra cặp điện tử ở vùng dẫn và lỗ trống ở vùng hóa trị. Một số điện tử - lỗ trống di chuyển ra bề mặt chất xúc tác và tham gia phản ứng ôxy hóa khử với các chất hấp phụ trên bề mặt đã có sẵn trong môi trường. Do đó, ngoài bề rộng vùng cấm, vị trí đỉnh vùng hóa trị và đáy vùng dẫn là những yếu tố quyết định đến tính chất xúc tác quang của các chất bán dẫn.1 mô tả các mức biên vùng năng lượng và thế oxi hóa – khử của một số chất bán dẫn trên thang đo điện cực chuẩn hyđrô (NHE - Normal Hydrogen Electrode).
Để quang xúc tác diễn ra thì mức năng lượng của đáy vùng dẫn phải âm hơn thế ôxy hóa khử của chất nhận electron và mức năng lượng của đỉnh vùng hóa trị phải dương hơn thế khử của chất cho electron [13]. Vì vậy, trong các vật liệu quang xúc tác, TiO2 là lựa chọn tối ưu [3]. Vị trí các mức biên vùng năng lượng và thế oxi hóa – khử của một số chất bán dẫn [14]. Cấu trúc vật liệu TiO2 TiO2 có ba dạng cấu trúc tinh thể ph biến gồm anatase, rutile và brookite.
Hai dạng thù hình thường gặp và có nhiều ứng dụng thực tế hơn là anatase và rutile. Trong tinh thể TiO2, mỗi cation Ti4+ phối vị với sáu anion O2- xung quanh hình thành nên khối bát diện TiO6 (Hình 1. Cả ba dạng thù hình của TiO2 đều được xây dựng từ khối bát diện TiO6. So với pha rutile, các khối TiO6 của anatase bị biến dạng hơn nhiều nên tính đối xứng của mỗi khối TiO6 ở pha anatase thấp hơn của pha rutile.
Chiều dài liên kết Ti – Ti trong anatase lớn hơn trong rutile nhưng chiều dài liên kết Ti – O của anatase lại ngắn hơn hơn so với rutile. Sự khác biệt về cấu trúc của TiO2 ở ba pha tinh thể dẫn đến sự khác nhau về các tính chất vật lí và hóa học của vật liệu [15]. Ba dạng cấu trúc tinh thể phổ biến của TiO2: anatase (a), rutile(b), và brookite (c) [16]. Cơ chế xúc tác quang của vật liệu TiO2 Các quá trình chủ yếu xảy ra trong xúc tác quang sử dụng chất xúc tác TiO2 được mô tả như ở Hình 1.
Khi TiO2 được chiếu bởi ánh sáng kích thích có năng lượng lớn hơn hoặc bằng bề rộng vùng cấm (3,2 eV đối với TiO2 pha anatase), vật liệu này sẽ thấp thụ các photon của ánh sáng tới (quá trình I). Mỗi một photon bị hấp thụ kích thích một điện tử (electron) từ vùng hóa trị (VB) lên vùng dẫn (CB), đồng thời tạo ra một lỗ trống (hole) mang điện tích dương ở vùng hóa trị: TiO2 + hν → eCB + h+VB (1.1) Các hạt mang điện này có thể bị bẫy trong vật liệu bởi các khuyết tật Ti3+ hay O hoặc chúng có thể tái hợp với nhau trong vật liệu và trung hòa điện tích tại đó: eCB + h+VB → hν (1.2) Ngoài ra, các hạt mang điện này có thể di chuyển đến bề mặt vật liệu, tham gia vào các phản ứng ôxy hóa – khử với các chất hấp phụ trên bề mặt đó (quá trình II). Các điện tử mang điện tích âm sẽ khử O2 để tạo ra các superoxide – O2 (quá trình III): e 7 O2 + eCB → O2– (1.3) Một số hợp chất hữu cơ có khả năng hấp thụ trực tiếp các điện tử trên vùng dẫn và bị phân hủy (quá trình IV). Quá trình này được gọi là quá trình khử trực tiếp.
Tuy nhiên, quá trình này rất ít được quan sát [17]. Các lỗ trống – mang điện tích dương có thể ôxy hóa nhóm OH hoặc H2O để tạo ra các gốc * OH tự do (quá trình V): * H2O + h+VB → OH + H+ (1.4) * – Gốc OH tự do và các superoxide O2 là các tác nhân ôxy hóa mạnh thường được sử dụng để làm sạch môi trường. Chúng phân hủy mạnh các chất bẩn hữu cơ trong môi trường thành sản phẩm thân thiện với môi trường là CO2 và H2O (quá trình VI). Bên cạnh đó, các lỗ trống còn có khả năng oxi hóa trực tiếp các phân tử hữu cơ (quá trình VII) [18,19].
Trong số các phản ứng này, * phản ứng ôxy hóa gây ra bởi các nhóm OH được xem là phản ứng chính trong sự phân hủy của nhiều hợp chất hữu cơ [20,21]. Các quá trình xảy ra trên bề mặt TiO2 dưới tác dụng của ánh sáng tử ngoại. Giới thiệu chung về tính chất xúc tác quang của vật liệu TiO2 TiO2 là một trong những vật liệu được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi trên thế giới nhờ những đặc điểm n i bật như giá thành rẻ, không độc, bền về mặt hóa học và vật lí, độ bền cơ học cao [1]. Khả năng quang xúc tác của TiO2 được phát hiện bởi Fujishima và Honda năm 1972 [15].
Kể từ đó, TiO2 đã thu hút sự chú ý đáng kể do khả năng ứng dụng trong các lĩnh vực xử lí nước và chuyển hóa năng lượng mặt trời [18,19]. Tuy nhiên, việc ứng dụng TiO2 trong thực tế bị hạn chế bởi hai lí do là bề rộng vùng cấm lớn và quá trình tái hợp của các cặp điện tử - lỗ trống được sinh ra sau quá trình kích thích diễn ra rất nhanh. Các hạn chế này của TiO2 dẫn đến việc ứng dụng vật liệu này trong các lĩnh vực công nghệ và đời sống gặp khó khăn. Do vậy, để khắc phục những nhược điểm trên trong các lĩnh vực xúc tác quang, các vật liệu TiO2 thường được biến tính bằng nhiều các phương pháp khác nhau như pha tạp các ion kim loại hoặc phi kim, lắng đọng các vật liệu ôxít kim loại có bề rộng vùng cấm bé hoặc các vật liệu kim loại trên bề mặt [3,22].
Biến tính bề mặt của TiO2 là một trong những phương pháp nhằm tăng cường hoạt tính xúc tác quang của TiO2. Biến tính bề mặt của TiO2 có thể thực hiện bằng cách lắng đọng các hạt nano của các vật liệu kim loại như Ag, Au, Pt, Pd và Ru hoặc các oxít kim loại (SMO) như CuO, Cu 2O, ZnO, SnO2, Fe2O3, MnOx, NiO và CoO [3]. Do các hạt nano kim loại thường có mức Fermi thấp hơn đáy vùng dẫn của TiO2, khi được kích thích bởi ánh sáng tử ngoại, các điện tích có xu hướng dịch chuyển từ TiO2 sang các hạt nano kim loại, làm giảm sự tái hợp của các cặp điện tử - lỗ trống (Hình 1. Sự dịch chuyển điện tích giữa TiO2 và các hạt nano bạc [23].
Biến tính vật liệu TiO2 bằng cách lắng đọng các hạt nano SMO đã được nghiên cứu rộng rãi trong thời gian gần đây bởi nhiều nhóm nghiên cứu ở nước ngoài cũng như trong nước [11,24-28]. Do có sự khác nhau về cấu trúc vùng năng lượng, tại lớp tiếp giáp của hai vật liệu xảy ra quá trình dịch chuyển điện tích khi được kích thích. Quá trình dịch chuyển điện tích này làm giảm xác suất tái hợp của các cặp điện tử - lỗ trống nhờ đó làm tăng hiệu suất xúc tác. Quá trình dịch chuyển điện tích phụ thuộc vào sự kết cặp của các chất bán dẫn với nhau và được quyết định bởi vị trí của các mức năng lượng (đỉnh vùng hóa trị và đáy vùng dẫn) so với các mức năng lượng của TiO2 [29].
Chẳng hạn như, khi lắng đọng các hạt nano Cu2O, dưới tác dụng của ánh sáng tử ngoại, các điện tử của TiO2 được kích thích lên vùng dẫn. Do Cu2O có đáy vùng dẫn cao hơn, các điện tử có xu hướng dịch chuyển từ Cu 2O sang TiO2, còn các lỗ trống có xu hướng dịch chuyển theo chiều ngược lại, ngăn cản sự tái hợp của các cặp điện tử - lỗ trống, do đó làm tăng hiệu suất xúc tác quang của vật liệu (Hình 1. Cơ chế dịch chuyển điện tích giữa Cu2O và TiO2 dẫn đến sự tăng cường hoạt tính xúc tác quang của vật liệu [30]. Trong thời gian gần đây, nhiều nguyên tố kim loại khác nhau đã được thử nghiệm pha vào TiO2 nhằm giảm bề rộng vùng cấm và dịch chuyển bờ hấp thụ của vật liệu về vùng ánh sáng khả kiến, tăng cường khả năng xúc tác quang phân hủy các chất hữu cơ, tiêu biểu như Cu, Co, Ni, Cr, Mn, Fe, Au, Ag, Pt, V [3,31].
Tính chất của vật liệu TiO2 pha tạp kim loại phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như loại nguyên tố và hàm lượng tạp chất, điều kiện xử lý nhiệt của các mẫu, phương pháp chế tạo cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến hình thái và cấu trúc của các mẫu [32,33]. Các nghiên cứu này cho thấy việc pha tạp các nguyên tố kim loại vào TiO2 sẽ làm giảm bề rộng vùng cấm, giảm tốc độ tái hợp của của các cặp điện tử - lỗ trống và tăng khả năng hấp phụ các chất hữu cơ của vật liệu. Nguyên nhân làm giảm bề rộng vùng cấm của vật liệu TiO2 pha tạp kim loại được giải thích thông qua sự xuất hiện các mức năng lượng tạp chất trong vùng cấm do sự phân tán của kim loại trong tinh thể TiO2 (Hình 1. Các điện tử có thể bị kích thích để chuyển từ vùng hóa trị của TiO2 lên các mức năng lượng trung gian và từ mức trung gian lên vùng dẫn, do đó cho phép vật e 11 liệu hấp thụ các photon có năng lượng nhỏ hơn bề rộng vùng cấm của TiO2, tức là hấp thụ trong vùng ánh sáng nhìn thấy [3,24,31,34,35].
Mặt khác, sự có mặt của các tạp chất tạo nên các khuyết tật bên trong vật liệu TiO2. Các khuyết tật này đóng vai trò là các bẫy của các điện tử (trong vùng dẫn) hoặc lỗ trống (trong vùng hóa trị). Các bẫy này làm trì hoãn sự tái hợp của các cặp điện tử - lỗ trống, nhờ đó tăng hiệu suất xúc tác quang của vật liệu. Ngoài ra, khả năng hấp phụ chất hữu cơ của vật liệu còn liên quan đến tính chất bề mặt của nó.