Chương 1: Giới thiệu đề tài Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Chương 5: Kết luận và các khuyến nghị 7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC SỞ HỮU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Khái niệm cấu trúc sở hữu Gedajlovic và Shapiro (2002), cùng với Perrini và cộng sự (2008), định nghĩa CTSH là tỷ lệ phần trăm của tổng số cổ phần bởi năm cổ đông lớn nhất của các công ty. Wei và cộng sự (2005) phân loại cơ cấu sở hữu của các công ty ở Trung Quốc dựa trên tỷ lệ cổ phần nắm giữ thành ba loại: sở hữu nhà nước, sở hữu nước ngoài và sở hữu tổ chức. Định nghĩa này có nét tương đồng với định nghĩa của Kang và Kim (2012) khi phân loại CTSH của các công ty Trung Quốc thành cổ đông chính phủ, cổ đông doanh nghiệp và cổ đông tư nhân.
Anderson và Reeb (2003) phân loại cơ cấu sở hữu thành hai nhóm: công ty gia đình và công ty ngoài gia đình dựa trên tỷ lệ vốn sở hữu do gia đình nắm giữ và mức độ tham gia của các thành viên gia đình vào ban giám đốc. Họ cũng đề xuất một định nghĩa khác về cơ cấu sở hữu dựa trên mức độ tập trung quyền sở hữu, xem xét tỷ lệ sở hữu của 5 cổ đông lớn nhất. Arosa và cộng sự (2010) cho rằng ở Tây Ban Nha, một công ty được xem là thuộc sở hữu gia đình nếu tỷ lệ vốn sở hữu của gia đình nắm giữ tối thiểu 20%. Fauzi và Locke (2012) lại chia cơ cấu sở hữu thành hai nhóm: sở hữu quản lý và sở hữu cổ đông, được đo lường bởi tỷ lệ cổ phần do các cổ đông là người quản lý và 20 chủ sở hữu cấp cao nhất nắm giữ.2 Phân loại cấu trúc sở hữu Sở hữu nhà nước 8 Nhà nước tham gia vào hoạt động kinh doanh chủ yếu với mục tiêu phát triển.
Sự hiện diện của chính phủ là cần thiết đặc biệt trong trường hợp các doanh nghiệp có vai trò quan trọng về mặt kinh tế, xã hội và chiến lược đối với quốc gia (La Porta & cộng sự, 2002). Đồng thời, ở các quốc gia mà hệ thống tài chính chưa phát triển, việc sở hữu nhà nước cho phép chính phủ đảm bảo sự ổn định tài chính và quản lý rủi ro (Le & Tannous, 2016). Tuy nhiên, có thể xảy ra xung đột lợi ích giữa các loại chủ sở hữu khác nhau. Ví dụ, các ngân hàng thường phải vừa làm nhiệm vụ cho vay vừa là chủ sở hữu, trong khi chính phủ có trách nhiệm vừa quản lý vừa là chủ sở hữu (Kubo & Phan, 2019).
Riêng với mỗi chủ sở hữu, sở thích của họ về chiến lược của công ty có thể tạo ra một sự đánh đổi giữa giá trị của cổ đông và các mục tiêu khác. Dauda và đồng nghiệp (2023) đã nhận thấy rằng sở hữu nhà nước thường không hiệu quả và có mức độ can thiệp cao; Chính phủ thường không có động lực để tích cực theo đuổi mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. Nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra các lập luận phản đối sở hữu nhà nước, bao gồm chính sách giá cả, can thiệp chính trị và thách thức về vốn con người (Lazzarini & Musachio, 2018). Cerdeiro và Ruane (2022) chỉ ra rằng bất chấp những thách thức, sở hữu nhà nước có thể giúp giải quyết các vấn đề thất bại thị trường và có thể hồi phục sức mua.
Sở hữu nước ngoài và trong nước Sở hữu nước ngoài thường gắn liền với dòng vốn nước ngoài (Le & Tannous, 2016). Ở các nước đang phát triển, chủ sở hữu nước ngoài giúp tạo ra hiệu quả hoạt động tích cực vì họ thường có kỹ năng và năng lực kỹ thuật tiên tiến. Ngoài ra, các chủ sở hữu nước ngoài, đặc biệt là những chủ sở hữu từ các nền kinh tế phát triển, có thể đánh giá nguồn vốn cần thiết để thành lập và/hoặc phát triển các doanh nghiệp trong nước (Pham & Pham, 2021). Tuy nhiên, do thiếu thông tin chính xác về hoạt động của nền kinh tế, hệ thống tài chính và các yêu cầu pháp lý địa phương, chủ sở hữu nước ngoài có thể gặp bất lợi (Shrivastav & Kalsie, 2017).
Quyền sở hữu trong nước có thể thuộc về các cổ đông cá nhân, tổ chức và chính phủ. Dunning (1979) chỉ ra rằng có ba lợi thế được xác định đối với chủ sở hữu nước ngoài. Thứ nhất là lợi thế sở hữu xuất phát từ lợi thế cạnh tranh mà doanh nghiệp nước 9 ngoài có được so với doanh nghiệp trong nước. Thứ hai là lợi thế về vị trí nhờ đó các quốc gia hoặc khu vực thay thế sẽ cung cấp thêm giá trị.
Lợi thế nội địa hóa phát sinh từ việc tạo ra và khai thác các năng lực cốt lõi. Lợi ích ròng của việc nội địa hóa thị trường xuyên biên giới càng cao thì công ty càng có nhiều khả năng muốn tham gia vào các liên doanh nước ngoài. Trong đó, lợi thế sở hữu phát sinh từ các tài sản hữu hình và vô hình mà công ty có và có được nhờ khả năng công ty chuyển các tài sản này qua biên giới. Bergström và Rydqvist (1990), Pedersen và Thompson (1997) nhận thấy rằng lợi thế của sở hữu nước ngoài phát sinh từ việc trở thành một phần của mạng lưới các chi nhánh và tăng quy mô.
Helpman và cộng sự (2004) chỉ những thực thể nước ngoài có lợi nhuận mới mua cổ phần trong các công ty nước ngoài, điều này là do việc thâm nhập thị trường nước ngoài đòi hỏi chi phí cố định cao. Vì vậy, sự cải thiện hiệu quả hoạt động của một công ty có vốn nước ngoài phụ thuộc vào tài sản độc quyền của công ty mẹ. Theo Helpman và cộng sự (2004), các nhà đầu tư nước ngoài có thể chuyển giao công nghệ và phương pháp quản lý ưu việt cho các công ty con trong nước, làm tăng phí sở hữu nước ngoài. Theo Bentivogli và Mirenda (2017), hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nước ngoài thường tốt hơn doanh nghiệp trong nước nhờ khả năng kiểm soát doanh nghiệp.
Các chủ sở hữu nước ngoài có khuynh hướng lựa chọn mở rộng hoạt động, điều này càng được cải thiện, dẫn đến sự khác biệt về hiệu quả hoạt động của các công ty do các đơn vị nước ngoài kiểm soát và các công ty do các công ty trong nước kiểm soát. Lập luận này xuất phát từ nghiên cứu của Manne (1965), người đã đưa ra giả thuyết rằng các công ty nước ngoài chọn các công ty hoạt động kém để mua lại, tức là lựa chọn tiêu cực. Thực thể nước ngoài loại bỏ quyền quản lý của công ty trong nước hoạt động kém hiệu quả và áp dụng các biện pháp để khai thác tối đa tiềm năng thu nhập của công ty bị mua lại. Ngoài ra, Manne (1965) cho rằng các cơ hội lựa chọn tiêu cực phát sinh do mức độ bất cân xứng thông tin cao về chất lượng của công ty trong nước được mua lại.
Guadalupe và cộng sự (2012) chỉ ra rằng cũng có những yếu tố lựa chọn tích cực dẫn đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nước ngoài tốt hơn so với doanh nghiệp trong nước. Sự lựa chọn tích cực phát sinh từ sự bổ sung giữa các thực thể nước ngoài và trong nước. Sở hữu tổ chức 10 Chủ sở hữu tổ chức thường đề cập đến các tổ chức như tổ chức tài chính, quỹ hưu trí, quỹ phòng hộ, công ty bảo hiểm, quỹ tương hỗ và các doanh nghiệp quản lý tài sản nhỏ. Thông thường, những tổ chức này mua số lượng lớn cổ phiếu đang lưu hành của công ty với mục đích kiểm soát và có ảnh hưởng đáng kể đến quản lý công ty (Ceylan, 2018; Aguiler & Jackson, 2003).
Pacheco (2022) và Boehmer (2000) đều đưa ra quan điểm rằng chủ sở hữu tổ chức đóng vai trò những người được ủy quyền giám sát, chủ yếu do khả năng họ thu thập thông tin liên quan đến hoạt động của công ty. Sở hữu gia đình Theo Pacheco (2022) và Block (2010), quyền sở hữu gia đình có hai khía cạnh chính, đó là quản lý gia đình và quyền sở hữu gia đình. Khía cạnh quản lý gia đình được biểu thị thông qua việc một thành viên trong gia đình sáng lập công ty giữ vai trò như giám đốc điều hành hoặc chủ tịch. Trong khi đó, khía cạnh quyền sở hữu gia đình được thể hiện qua tỷ lệ cổ phần mà gia đình sáng lập giữ.
Soler và đồng nghiệp (2017), cùng với Astrachan và Jaskiewicz (2008), cho rằng quyền sở hữu gia đình ảnh hưởng đến doanh nghiệp thông qua việc quản lý, sở hữu, và quản trị. Pacheco (2022) và Block (2010) đã chứng minh rằng trong các trường hợp gia đình là chủ sở hữu hoặc người quản lý công ty, mối liên kết với công ty của họ thường mạnh mẽ hơn so với những người không có mối quan hệ gia đình. Sở hữu của nhà quản lý Le và Tannous (2016), Fahlenbrach và Stulz (2009) chỉ ra rằng quyền sở hữu quản lý phát sinh khi các nhà quản lý công ty mua cổ phiếu của công ty. Theo Boshnak (2023), quyền sở hữu của người quản lý hầu hết gắn liền với các công ty chưa trưởng thành; khi các công ty trở nên trưởng thành hơn thì mức độ sở hữu của người quản lý thường giảm đi.
Nguyen (2017) cho rằng quyền sở hữu của ban quản lý đóng vai trò là một chỉ số đánh giá chất lượng của công ty. Các nhà quản lý tăng cổ phần của họ khi công ty có giá trị hơn; cho các nhà đầu tư biết rằng công ty có triển vọng tốt. Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng quyền sở hữu quản lý gây ra nhiều xung đột nhất. Ban quản lý thường điều chỉnh lợi ích của họ, đôi khi gây tranh cãi, với lợi ích của các bên liên quan khác (Ogabo & cộng sự, 11 2021).
Pedersen và Thomsen (2000) khẳng định rằng hiệu quả hoạt động của công ty phụ thuộc vào khả năng quản lý trong việc hiện thực hóa lợi ích của họ.3 Các lý thuyết về cấu trúc sở hữu Lý thuyết đại diện Lý thuyết này được đưa ra bởi Jensen và Meckling (1976). Lý thuyết này giữ một vị trí quan trọng trong việc giải thích tầm ảnh hưởng của quản trị doanh nghiệp.