Luận văn thạc sĩ về cấu trúc nano có kiểm soát thông qua chất xúc tác và khắc bằng ống carbon

Luận văn thạc sĩ phân tích vnu uet tạo dựng cấu trúc nanô có kiểm soát thông qua chất xúc tác với cấu trúc còn giữ lại sử dụng, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải

Trường đại học

Trường Đại Học Công Nghệ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

111
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CÁM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: ỐNG THAN NANO (CARBON NANOTUBES)

1.1. Lịch sử than ống nano

1.2. Chế tạo CNTs bằng phương pháp phóng điện hồ quang (Arc Discharge)

1.3. Chế tạo CNTs bằng phương pháp dùng nguồn laze

1.4. Chế tạo CNTs bằng phương pháp ngưng tụ hơi hóa học CVD

2. CHƯƠNG 2: KÍNH HIỂN VI LỰC NGUYÊN TỬ VÀ PHƯƠNG PHÁP CHẾ TẠO ĐẦU DÒ CNT AFM PROBES

2.1. Lịch sử kính hiển vi lực nguyên tử

2.2. Nguyên lý hoạt động

2.3. Phương pháp chế tạo đầu dò CNT AFM tại trung tâm nghiên cứu triển khai Khu Công Nghệ Cao Tp

3. CHƯƠNG 3: KỸ THUẬT KHẮC ĐẦU DÒ QUÉT SPL_SCANNING PROBE LITHOGRAPHY

3.1. Chế tạo nano bằng dựa trên lực

3.2. Thao tác bằng đầu dò AFM (Nano-manipulation)

3.3. Kỹ thuật khắc nhúng Dip-pen nanolithography (DPN)

3.4. Kỹ thuật ghi cơ nhiệt và kỹ thuật milipede

3.5. Kỹ thuật khắc hỗ trợ áp điện (Bias-assisted AFM nanolithography)

3.6. Sự oxi hóa vật liệu bán dẫn (Oxidation of semiconductors)

3.7. Quá trình oxi hóa bề mặt kim loại (Oxidation of metals)

3.8. Quá trình oxi hóa bề mặt chức năng/ thụ động (Oxidation of molecularly functionalized/passivated surfaces)

4. CHƯƠNG 4: QUY TRÌNH THỰC NGHIỆM

4.1. Hóa chất và thiết bị

4.2. Thiết bị chế tạo

4.3. Các phương pháp phân tích

4.4. Kính hiển vi điện tử quét phát xạ trường (FE SEM)

4.5. Kính hiển vi điện tử truyền qua TEM

4.6. Thiết bị quang phổ Micro Raman (Raman Spectroscope)

4.7. Kính hiển vi lực nguyên tử AFM

4.8. Chế tạo dây Cartridges chứa than ống nano các bon và đầu dò CNT-AFM

4.9. Chế tạo dây Cartridges chứa than ống nano các bon

4.10. Chế tạo đầu dò CNT-AFM

4.11. Quá trình chuẩn bị đế foil và phủ màng chất cảm quang PMMA

4.12. Tổng quát về foil thép không dỉ

4.13. Quá trình oxi hóa và khử bề mặt đế kim loại

4.14. Phủ màng PMMA trên đế kim loại đã được xử lý bề mặt

4.15. Viết và sử dụng chương trình Lithography

4.16. Thực hiện quá trình khắc (SPL- Scanning Probe Lithgraphy)

4.17. Trên HOPG (Highly Ordered Pyrolytic Graphite) là vật liệu

4.18. Trên đế kim loại đã bị oxi hóa

4.19. Trên lớp PMMA phủ trên đế kim loại đã bị oxi hóa

4.20. Quá trình chế tạo than ống các bon hình thành tương ứng với vị trí khắc

5. CHƯƠNG 5: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

5.1. Chế tạo dây Catridges và đầu dò CNT AFM. Kết quả hình ảnh bề mặt mẫu

5.2. Bề mặt mẫu sau khi tiến hành quá trình oxi hóa và khử

5.3. Bề mặt mẫu sau khi tiến hành quá trình phủ chất cảm quang PMMA. Kết quả quá trình khắc SPL

5.4. Sự hình thành than ống nano bằng phương pháp lắng đọng hơi màng hóa học có sự hỗ trợ hơi nước

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu cấu trúc nano có kiểm soát

Nghiên cứu về cấu trúc nano đang trở thành một lĩnh vực quan trọng trong khoa học vật liệu. Việc kiểm soát kích thước và hình dạng của các cấu trúc nano có thể mang lại những tính chất đặc biệt cho vật liệu. Chất xúc tác và quá trình khắc bằng ống carbon là hai yếu tố chính trong việc tạo ra các cấu trúc này. Nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về các tính chất của vật liệu nano mà còn mở ra nhiều ứng dụng tiềm năng trong công nghệ nano.

1.1. Định nghĩa và ứng dụng của cấu trúc nano

Cấu trúc nano được định nghĩa là các vật liệu có kích thước từ 1 đến 100 nanomet. Chúng có thể được sử dụng trong nhiều lĩnh vực như điện tử, y học, và năng lượng. Các vật liệu nano này có tính chất vượt trội so với vật liệu thông thường, nhờ vào tỷ lệ diện tích bề mặt lớn và hiệu ứng lượng tử.

1.2. Vai trò của chất xúc tác trong nghiên cứu nano

Chất xúc tác đóng vai trò quan trọng trong quá trình tổng hợp cấu trúc nano. Chúng giúp kiểm soát kích thước và hình dạng của các ống carbon, từ đó ảnh hưởng đến tính chất của vật liệu. Việc lựa chọn chất xúc tác phù hợp có thể cải thiện đáng kể hiệu suất của quá trình tổng hợp.

II. Thách thức trong việc kiểm soát cấu trúc nano

Mặc dù có nhiều tiến bộ trong nghiên cứu cấu trúc nano, vẫn tồn tại nhiều thách thức cần phải vượt qua. Một trong những vấn đề lớn nhất là việc kiểm soát kích thước và hình dạng của các ống carbon trong quá trình tổng hợp. Sự phân bố không đồng đều của các hạt xúc tác có thể dẫn đến sự biến đổi không mong muốn trong cấu trúc nano.

2.1. Vấn đề phân bố kích thước hạt xúc tác

Sự phân bố kích thước của các hạt xúc tác ảnh hưởng trực tiếp đến đường kính và chiều dài của ống carbon. Nếu kích thước hạt không đồng đều, sẽ dẫn đến sự hình thành các ống carbon có kích thước khác nhau, gây khó khăn trong việc kiểm soát tính chất của vật liệu.

2.2. Ảnh hưởng của nhiệt độ trong quá trình tổng hợp

Nhiệt độ là yếu tố quan trọng trong quá trình tổng hợp cấu trúc nano. Nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp có thể làm thay đổi tính chất của vật liệu, dẫn đến sự hình thành các cấu trúc không mong muốn. Việc tối ưu hóa nhiệt độ là cần thiết để đạt được các ống carbon có tính chất tốt nhất.

III. Phương pháp tổng hợp cấu trúc nano qua chất xúc tác

Có nhiều phương pháp để tổng hợp cấu trúc nano thông qua chất xúc tác. Một trong những phương pháp phổ biến là lắng đọng hơi hóa học (CVD). Phương pháp này cho phép kiểm soát tốt hơn kích thước và hình dạng của các ống carbon. Bên cạnh đó, các kỹ thuật như phún xạ và bốc bay cũng được sử dụng để tạo ra các chất xúc tác hiệu quả.

3.1. Lắng đọng hơi hóa học CVD trong tổng hợp nano

Phương pháp CVD là một trong những kỹ thuật hiệu quả nhất để tổng hợp cấu trúc nano. Quá trình này cho phép tạo ra các ống carbon với độ tinh khiết cao và kiểm soát tốt về kích thước. CVD cũng có thể được điều chỉnh để tạo ra các cấu trúc khác nhau tùy thuộc vào điều kiện phản ứng.

3.2. Kỹ thuật phún xạ trong tổng hợp cấu trúc nano

Phún xạ là một phương pháp khác để tạo ra chất xúc tác cho quá trình tổng hợp cấu trúc nano. Kỹ thuật này cho phép tạo ra các lớp mỏng chất xúc tác với độ dày đồng đều, từ đó cải thiện khả năng kiểm soát kích thước của các ống carbon trong quá trình tổng hợp.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu về cấu trúc nano có kiểm soát qua chất xúc tác và khắc bằng ống carbon đã cho thấy nhiều kết quả khả quan. Các ống carbon được tổng hợp có tính chất điện, nhiệt và cơ học vượt trội, mở ra nhiều ứng dụng trong công nghệ nano. Các ứng dụng này bao gồm cảm biến, linh kiện điện tử và vật liệu composite.

4.1. Tính chất điện của cấu trúc nano

Các ống carbon có khả năng dẫn điện tốt, làm cho chúng trở thành lựa chọn lý tưởng cho các ứng dụng trong lĩnh vực điện tử. Tính chất điện của các ống carbon có thể được điều chỉnh thông qua việc kiểm soát kích thước và hình dạng của chúng.

4.2. Ứng dụng trong cảm biến và linh kiện điện tử

Các cấu trúc nano được tổng hợp có thể được sử dụng trong các cảm biến sinh học và linh kiện điện tử. Chúng có khả năng phát hiện các chất hóa học và sinh học với độ nhạy cao, mở ra nhiều cơ hội trong nghiên cứu và phát triển công nghệ mới.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của nghiên cứu

Nghiên cứu về cấu trúc nano có kiểm soát qua chất xúc tác và khắc bằng ống carbon đang mở ra nhiều triển vọng trong tương lai. Việc cải thiện các phương pháp tổng hợp và kiểm soát kích thước sẽ giúp phát triển các vật liệu mới với tính chất vượt trội. Điều này không chỉ có ý nghĩa trong nghiên cứu mà còn trong ứng dụng thực tiễn.

5.1. Triển vọng trong nghiên cứu vật liệu nano

Nghiên cứu về cấu trúc nano sẽ tiếp tục phát triển, với nhiều ứng dụng mới trong các lĩnh vực như y học, năng lượng và công nghệ thông tin. Việc phát triển các phương pháp tổng hợp mới sẽ giúp tạo ra các vật liệu với tính chất tốt hơn.

5.2. Tương lai của công nghệ nano

Công nghệ nano sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển các sản phẩm và công nghệ mới. Các vật liệu nano sẽ được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, từ điện tử đến y học, mang lại nhiều lợi ích cho xã hội.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu uet tạo dựng cấu trúc nanô có kiểm soát thông qua chất xúc tác với cấu trúc còn giữ lại sử dụng quá trình khắc bằng ống các bon nanô luận văn ths vật liệu và linh kiện nanô

Trích đoạn nội dung tài liệu

LỜI MỞ ĐẦU CNTs đã được khảo sát cho những ứng dụng tiềm năng trong điện tử nano, laser, thiết bị phát xạ trường, hiển thị, sensor sinh-hóa, máy dò và rất nhiều thiết bị nano khác. Tuy nhiên, tiềm năng này chưa được hiện thực hóa do thiếu sự kiểm soát kích cỡ ( đường kính, độ cao, định hướng), cũng thể hiện sự thiếu kiểm soát những tính chất ở cấu trúc nano mà đang được khai thác cho những ứng dụng. Cách tiếp cận dựa trên đầu dò CNT- AFM đưa ra biện pháp giải quyết cho tình trạng này, vì thế có khả năng sản xuất linh kiện ở quy mô lớn. Sự phủ hơi hóa học đã được sử dụng thành công để mọc CNTs trên đế.

Chất xúc tác phải là những hạt kích cỡ nano để thuận lợi cho việc mọc CNTs và có mối liên hệ giữa kích cỡ hạt và đường kính ống hay dây tạo thành. Một cách tiếp cận phổ biến để tạo chất xúc tác bằng phương pháp phún xạ hoặc bốc bay kim loại tạo thành màng mỏng dày 1-20 nm. Tại nhiệt độ mọc, màng mỏng vỡ thành những giọt nhỏ mà thỏa mãn như là những tâm mầm. Nhược điểm lớn nhất của màng mỏng đối với cách tiếp cận tạo chất xúc tác là sự phân bố kích cỡ giọt dựa vào độ nóng chảy của màng.

Kết quả là sự phân bố đường kính của CNTs cũng sẽ được phân bố theo đó. Bên cạnh đó, độ nóng chảy màng kim loại dọc trên wafer không đưa đến sự điều chỉnh vị trí của ống hay dây nano. Kết quả điển hình cho cách tiếp cận này là một rừng ống và dây nano mà sự khác biệt đường kính và độ cao là hiển nhiên. Thậm chí cách tiếp cận quang khắc (photolithography) hay chất keo (colloidal approach) được dùng để điều khiển vị trí và/hoặc kích cỡ của sự mọc CNTs, đường kính và độ cao có thể thay đổi do sự thay đổi kích cỡ hạt trong quá trình mọc.

Nhiều nhóm nghiên cứu tiếp cận bằng phương pháp khắc bằng chùm tia electron (electron beam lithography-EBL) tạo lỗ nano có đường kính dưới 50 nm. Quá trình khắc này thì chủ yếu bị giới hạn bởi hiệu ứng gần (proximity effect) phát sinh từ những điện tử tán xạ ngược mà phạm vi (range) của nó là lớn đáng kể so với phạm vi chùm điện tử tới màng chất cảm quang. Kết quả là, kích thước chi tiết được chiếu sáng phụ thuộc phần lớn vào mật độ và kích thước chùm tia cục bộ, dẫn đến sự khác biệt về độ rộng đường (linewidth) không thể chấp nhận trên toàn bộ wafer. Những giới hạn trên có thể được giảm bớt trong trường hợp chiếu sáng bằng quá trình khắc đầu dò quét SPL.

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xv Phương pháp khắc đầu dò quét SPL: đây là phương pháp sử dụng thế điện một chiều áp vào giữa đầu dò (probe) và bề mặt mẫu để biến đổi tính chất vật liệu bề mặt mẫu. Khi thế điện một chiều được áp vào thì vật liệu trên bề mặt mẫu phơi sáng (exposed) bởi điện trường và trải qua quá trình biến đổi hóa-lý. Phương pháp này chủ yếu liên quan đến biến đổi cấu trúc hóa học của những chất hữu cơ thành oxit. Đồng thời chúng tôi sẽ sử dụng phương pháp SPL này biến đổi tính chất lớp PMMA, tạo ra những khuôn mẫu (pattern) và tạo tiền đề cho quá trình hình thành CNT từ những pattern này.

Quá trình khắc đầu dò quét SPL Giáo sư Quate và các công sự tại trường đại học Stanford đã tiếp cận phương pháp SPL dùng đầu dò Si AFM có phủ kim loại (Pt, Au) để tạo ra những đường nét trên màng chất cảm quang Organosilicate methylsilsesquioxane. Trong quá trình này thì một dòng điện khoảng vài nA được áp vào chất cảm quang, để biến Organosilicate thành SiO2 và oxit này dễ dàng bị lấy đi và tạo ra những đường nét có kích cỡ vài chục nm. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xvi Chúng tôi cũng tiếp cận phương pháp SPL nhưng với đầu dò CNT-AFM. Đề tài này chúng tôi dự kiến thực hiện theo các trình tự sau:  Thực hiện chế tạo than ống hình thành trên sợi dây Catridge bằng phương pháp lắng đọng hơi màng hoá học bằng nhiệt, làm nguyên liệu cho quá trình chế tạo đầu dò CNT AFM  Thực hiện chế tạo đầu dò CNT AFM chỉ với 1 sợi than ống độ dài dưới 2 µm, thẳng và độ lệch góc của than ống dao động trong khoảng - 50 đến +50 phục vụ cho quá trình SPL  Nghiên cứu tính chất điện bằng đặc tuyến IV của đầu dò CNT AFM với đế kim loại với các lớp phủ khác nhau, để đưa ra các thông số tối ưu cho quá trình SPL  Thực hiện quá trình SPL để tạo ra các CARs, làm tiền đề cho quá trình hình thành than ống  Thực hiện quá trình hình thành than ống tương ứng với các CARs bằng phương pháp lắng đọng hơi màng hoá học bằng nhiệt có sự hỗ trợ hơi nước Chúng tôi sẽ tiến hành mọc CNT từ những CARs bằng phương pháp lắng đọng hơi màng hoá học bằng nhiệt có sự hỗ trợ hơi nước (WA CVD), nhằm sử dụng những CNT này làm nguồn điện tử phát (e-beam source), ứng dụng trong kính hiển vi điện tử quét (Scanning Electron Microscope-SEM), thiết bị khắc chùm điện tử (E beam Lithography-EBL), trong màn hình hiển thị (Field Emission Display-FED).

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 1 CHƢƠNG 1 ỐNG THAN NANO (CARBON NANOTUBES) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Lịch sử than ống nano Than ống nano thuộc loại vật liệu nano tương đối mới, được nghiên cứu và ứng dụng hơn 20 năm qua. Than ống nano các bon đầu tiên được phát hiện và mô tả vào năm 1952 bởi hai nhà nghiên cứu người Nga là Radush-kevich và Luckyanovich [1] và sau đó vào năm 1976 thì than ống nano đơn thành, đa thành được phát hiện bởi nhà khoa học Oberlin. Lịch sử gần đây thì sự khám phá ra than ống nano các bon được trao cho cho Iijima - nhà khoa học đầu tiên mà mô tả quá trình chế tạo than ống nano đa thành sau một phát hiện tình cờ trong việc kiểm tra phương pháp bốc bay phóng điện hồ quang cho quá trình chế tạo phân tử các bon C60 vào năm 1991.

Mặc dù ông là người đầu tiên công bố kết quả trên tạp chí Nature, thì tại thời điểm này có một công ty nhỏ ở Mỹ có khả năng sản xuất than ống nano các bon bị khuyết tật gọi là sợi các bon (carbon fibrils) sử dụng phương pháp lắng đọng hơi màng hóa học. Năm 1993 hai công việc nghiên cứu độc lập bởi 2 nhà nghiên cứu Ijima và Bethune đều đã mô tả quy trình chế tạo than ố 0,4 đ. Tấm Graphene Than ống nano đơn vách Than ống nano đa vách Hình 1.1: Hình ảnh than ống nano đơn SWNT vách và đa vách MWNTs LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 graphite :  θ = 0o - zag‖,  θ = 30o rmchair‖,  θ = 0o – 30o. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Zíc zắc Kim loại Bán dẫn Ghế bành 1.3 Ống nano cácbon có nhiều tính chất ưu việt mà những vật liệu biết trước đây không có, điều này đã góp phần thu hút các nhà khoa học ở nhiều lĩnh vực khác nhau tập trung nghiên cứu. Tôi tóm lược những tính chất ưu việt của nó. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Phân loại đặc tính dẫn điện của các loại than ống nano Hầu hế 10-4 Ω. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6  ,ố ứu do có độ .2: Một số tính chất cơ bản của hai loại ống than nano  Ống nano cácbon tương đối trơ về mặt hóa học, do đó để tăng hoạt tính hóa học của CNTs ta phải tạo ra các defect trên bề mặt của ống, gắn kết với các phân tử hoạt động khác.

 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Ống nano các bon có độ dẫn nhiệt rất cao. Ở nhiệt độ phòng, độ dẫn nhiệt khoảng 3 x 104 W/m.K và đạt giá trị cao nhất 4 x 104 W/m.  Tính chất phát xạ điện tử trường: Sự phát xạ trường là quá trình phát xạ điện tử từ bề mặt của một pha rắn vào chân không, dưới tác dụng của một điện trường tĩnh (khoảng 108 V/cm).

Khi áp một điện trường đủ lớn, các điện tử tại bề mặt xuyên hầm qua hàng rào thế và thoát ra ngoài. Với CNTs, do tỷ lệ chiều dài/đường kính lớn (hơn 1000 lần), cấu trúc dạng tip, độ ổn định hóa, độ dẫn nhiệt, dẫn điện cũng rất cao nên khả năng phát xạ điện tử là rất cao, ngay ở điện thế thấp. V E= R Với E ≈ 108V/cm, R ≈ 1nm, α ≈ 10 (hệ số) thì V ≈ 10 V. Tức là, với điện thế khoảng 10 V thì các ống CNTs đã có thể phát xạ điện tử.

Với dạng tip như CNT với điện thế khoảng 25V/4m thì các ống CNTs đã có thể phát xạ dòng điện tử lên tới 204A. Đây là một thuận lợi lớn của vật liệu CNTs, do vậy chúng được ứng dụng trong các thiết bị phát xạ điện tử. Ứng dụng quan trọng nhất của than ống nano các bon dựa trên tính chất cơ như là sự gia cường trong vật liệu composit. Những tính chất ưu việt của than ống nano các bon là: - Ứng suất Young của SWCNT vào khoảng 1 TPa trong khi của MWCNT là 1.28 TPa [4,5] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 - Độ bền kéo khá lớn vào khoảng 50 GPa [3] Ố (polyvinyl acetate (polyvinyl pyrrolidone .4: Mô hình màn hình hiển thị sử dụng than ống nano làm nguồn phát điện tử LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đầu dò AFM Do có tính đàn hồi và khả năng dẫn điện tốt nên CNTs được dùng làm đầu dò quét trong thiết bị AFM, STM. Đầu dò CNT-AFM này cho độ phân giải cao hơn và tuổi thọ sử dụng đầu tip này khoảng 6 tháng so với các tip Si hay các tip kim loại mà không phá hủy mẫu.5: Đầu dò CNT-AFM Đầu dò Si AFM được chế tạo bởi công nghệ vi chế tạo (microfabricated) và trên đỉnh kim tự tháp của đầu dò được phủ 1 lớp kim loại Ni. Đồng thời chúng tôi cũng chế tạo dây cartridge có chứa các ống nano cácbon bằng phương pháp lắng đọng hơi hóa học (CVD-Chemical Vapor Deposition).

Chúng tôi sẽ trình bày chi tiết quá trình chế tạo ở chương 3. (arc discharge (laser ablation (chemical vapour deposition. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ