CHƯƠNG 1 – TỔNG QUAN 1.Hiện trạng ứng dụng CNTT trong y tế Được sự quan tâm chỉ đạo của Chính phủ và lãnh đạo ngành y tế, trong những năm gần đây, ứng dụng CNTT trong y tế đã có nhiều khởi sắc. Ứng dụng CNTT trong y tế nói chung và trong quản lý bệnh viện nói riêng đã làm thay đổi cách phục vụ nhân dân theo hướng nhanh, gọn, tiết kiệm thời gian và tiền bạc của bệnh nhân. Người đến khám, chữa bệnh chỉ cần khai báo thông tin hành chính một lần. Khi đến những khoa, phòng khác nhau, bệnh nhân không cần phải khai báo lại vì các thông tin của bệnh nhân đã được lưu trữ trên hệ thống, quản lý thông suốt giữa các khoa phòng.
Việc thanh toán viện phí cũng nhanh và chính xác hơn. Các chi phí của bệnh nhân khi phát sinh sẽ được cập nhật ngay vào hệ thống, có thể biết chính xác chi tiết số tiền bệnh nhân đã sử dụng ở bất kỳ thời điểm nào. Khi bệnh nhân xuất viện mọi chi phí sẽ được hiển thị ngay trên bảng kê thanh toán ra viện. Ứng dụng CNTT trong quy trình khám, chữa bệnh làm giảm thời gian chờ đợi của bệnh nhân, đây là thành quả lớn trong việc nâng cao chất lượng phục vụ.
Đó là chưa nói đến hiệu quả chuyên môn cũng được cải thiện, các bác sĩ có nhiều thời gian để tư vấn cho người bệnh, có thể hội chẩn trực tiếp trên mạng và đưa ra kết quả, hướng điều trị nhanh nhất. Một hệ thống công nghệ thông tin trong bệnh viện đáp ứng các yêu cầu nêu trên bao gồm các thành phần cơ bản sau: - Hệ thống thông tin bệnh viện (Hospital Information System - HIS); - Hệ thống thông tin chẩn đoán hình ảnh (Radiology Information System - RIS); - Hệ thống lưu trữ và truyền ảnh (Picture Archiving and Communication System - PACS); - Hệ thống thông tin quản lý phòng xét nghiệm (Laboratory Information System – LIS) Có thể thấy ứng dụng CNTT trong quản lý bệnh viện đã đem lại hiệu quả rõ rệt, rút ngắn thời gian, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, từ đây đã dần hình thành nguồn cơ sở dữ liệu y tế của bệnh nhân đặt nền móng cho hệ thống bệnh án điện tử. Tuy nhiên, việc ứng dụng CNTT trong quản lý bệnh viện mới chỉ dừng lại ở quy mô riêng lẻ mỗi bệnh viện, để xây dựng được hệ thống bệnh án điện tử dùng 16 chung giữa các bệnh viện còn rất nhiều khó khăn. Việc lưu trữ, tra cứu, khai thác hình ảnh y tế (X-Quang, MRI, CT-Scanner…) cũng là một bài toán khó giải, đòi hỏi không gian bộ nhớ rất lỡn và thiết kế cơ sở dữ liệu phức tạp, do vậy phần lớn các bệnh viện hiện nay chưa ứng dụng hệ thống lưu trữ và truyền hình ảnh (PACS) mà vẫn duy trì lưu trữ hình ảnh y tế bằng phương pháp truyền thống (ảnh chụp, phim âm bản…) Năm 2006, Bộ Y tế đã ban hành bộ tiêu chí khung phần mềm quản lý bệnh viện, bước đầu ngành y tế đã định hình một bộ khung phần mềm theo các module, nhưng quy định này vẫn chưa đưa ra được chuẩn thiết kế xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu.
Chính vì vậy, việc cơ quan quản lý sớm ban hành một chuẩn chung về phần mềm quản lý bệnh viện, cấu trúc bệnh án điện tử là một nhu cầu cấp thiết, để các đơn vị xây dựng phần mềm quản lý bệnh viện nghiên cứu thiết kế hệ thống của mình theo hướng dùng chung được trong toàn ngành y tế.Các hệ thống ứng dụng CNTT trong bệnh viện 1. Hệ thống thông tin quản lý bệnh viện (Hospital Information S stem-HIS) HIS có thể quản lý thông tin về: nhân sự, tài chính, cơ sở vật chất, nhưng quan trọng hơn cả là HIS quản lý thông tin về bệnh nhân, lấy bệnh nhân làm trung tâm, các thông tin hành chính của người bệnh, quá trình điều trị, các y lệnh, các kết quả lâm sang, xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh…. Tất cả những thông tin này sẽ được chứa đựng trong HIS. Khi cơ sở dữ liệu của HIS tuân thủ đúng chuẩn chung thì có thể dùng HIS để trao đổi thông tin hai chiều giữa các khoa/phòng trong bệnh viện và giữa các bệnh viện với nhau.
Cho đến nay, HIS chỉ cho phép quản lý các thông tin y tế dạng text nhưng HIS đã phát huy hiệu quả rất tốt, đặc biệt đối với đặc điểm ngành y tế Việt Nam, do vậy hầu hết các bệnh viện quy mô vừa và lớn đã triển khai hệ thống này. Hệ thống thông tin chẩn đoán hình ảnh (RIS): RIS hỗ trợ các công việc quản trị dữ liệu kết quả lâm sàng trong chẩn đoán hình ảnh, chia sẻ thông tin phục vụ chẩn đoán và điều trị. Dữ liệu chẩn đoán hình ảnh vừa nhiều lại vừa có tính đặc thù cao (mỗi thiết bị chẩn đoán hình ảnh lại có chuẩn lưu trữ 17 khác nhau), nên RIS ra đời để hỗ trợ công tác quản lý dữ liệu bệnh viện trong tin chẩn đoán hình ảnh. RIS quản lý cả dữ liệu về hình ảnh và văn bản chứ không đơn thuần là quản lý văn bản dạng text như trong HIS.
Dữ liệu ảnh thu nhận được từ các thiết bị như X- quang, CT-Scan, MRI, siêu âm. sẽ được lưu giữ lại dưới dạng tập các ảnh số hóa. Đây chính là tập cơ sở dữ liệu mà RIS quản lý. Nhiệm vụ chính của RIS là: - Tạo định dạng và lưu trữ kết quả chẩn đoán hình ảnh theo ID bệnh nhân; - Thao tác với các bản ghi tương ứng với ID bệnh nhân; - Hồi cứu các kết quả chẩn đoán hình ảnh của bệnh nhân; - Hỗ trợ chẩn đoán và điều trị.
Hệ thống lưu trữ và truyền ảnh (PACS): Việc tra cứu, khai thác kết quả chẩn đoán hình ảnh trong quy mô nội bộ bệnh viện thì RIS cơ bản đáp ứng được. Tuy nhiên, khi phát sinh nhu cầu lớn hơn về lưu trữ, phân phối và truyền hình ảnh thì RIS trở nên khó đáp ứng được. Do vậy cần phải có Hệ thống lưu trữ và truyền ảnh (Picture archiving and Communication System - PACS) để đáp ứng yêu cầu lưu trữ, xử lý, truyền tải thông tin một cách có hệ thống, nhanh chóng, chính xác, nâng cao chất lượng chẩn đoán và truyền hình ảnh để chẩn đoán hình ảnh từ xa 1. Hệ thống thông tin quản lý phòng xét nghiệm (Laboratory Information System – LIS) LIS nhận các kết quả xét nghiệm số hóa một cách tự động bằng việc tạo kết nối với các thiết bị y tế khác nhau và truyền đưa các thông tin hoàn toàn tự động.
Khi bác sĩ đưa ra yêu cầu kiểm tra, bệnh học lâm sàng hướng dẫn các kiểm tra y tế theo các yêu cầu của bác sĩ và sau đó sẽ chuyển các kết quả kiểm tra lại cho bác sĩ bằng cách nhập dữ liệu vào hồ sơ bệnh án. Bởi vì các kết quả xét nghiệm được kiểm tra bằng mắt thường và sau đó được ghi chép lại trong hồ sơ kết quả bằng phương pháp thủ công, vì thế tỷ lệ sai sót thường là rất cao. Bên cạnh đó, các kết quả xét nghiệm thường được chuyển liên tục đến bộ phận điều trị và điều dưỡng cho nên mất rất nhiều thời gian. 18 Khi LIS được đưa vào sử dụng, các kết quả xét nghiệm từ mạng của phòng xét nghiệm tự động gửi dữ liệu và lưu vào mục xét nghiệm trong hệ thống đăng ký bệnh nhân.
Trong khoảng thời gian này, bác sĩ có thể kiểm tra ngay lập tức kết quả xét nghiệm thông qua các thiết bị đầu cuối. Trong hầu hết các bệnh viện, các mục cần xét nghiệm sẽ được đưa ra theo yêu cầu của bác sĩ, các khoa không trực tiếp điều trị cho bệnh nhân như bệnh học lâm sàng và phân tích X-Quang sẽ không biết được các vấn đề của bệnh nhân. Như vậy, cứ mỗi phòng xét nghiệm, các bác sĩ có thể đọc hồ sơ bệnh nhân thông qua thiết bị kết nối đầu cuối và xem xét các yêu cầu của kết quả để chẩn đoán.Vấn đề trao đổi dữ liệu Bệnh án điện tử Dễ nhận thấy, việc trao đổi thông tin bệnh án giữa các cơ sở khám, chữa bệnh giúp nâng cao chất lượng phục vụ người bệnh bởi lẽ, thông tin về sức khỏe, lịch sử điều trị và các thông tin trong quá trình khám, chữa bệnh của bệnh nhân được chia sẻ, trợ giúp tích cực cho bác sỹ điều trị có thể chẩn đoán chính xác, kịp thời và từ đó tăng khả năng điều trị khỏi bệnh cho bệnh nhân. Dưới góc độ hệ thống, để có thể trao đổi được các dữ liệu này, tất cả các bệnh nhân cần có một định danh duy nhất, từ đó, các bệnh viện và các cơ sở khámchữa bệnh có thể xác định chính xác các thông tin về người bệnh.
Đi kèm với hệ thống định danh dùng chung cho tất cả người bệnh, hệ thống các danh mục tham chiếu dùng chung, như ICD-10, NDC. trợ giúp cho việc diễn giải các EMR một cách thuận tiện cũng góp phần vào việc nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh. Tuy nhiên, hiện nay việc trao đổi thông tin hồ sơ bệnh án điện tử chưa thực hiện được do các nguyên nhân chủ yếu sau: - Vấn đề pháp lý: luật khám, chữa bệnh không cho phép các bệnh viện, cơ sở khám, chữa bệnh cung cấp toàn bộ thông tin về sức khỏe của mình cho bên thứ ba. - Việc sử dụng hệ thống ID dùng chung trên toàn quốc hiện không thể thực hiện do chưa được tổ chức một cách thống nhất.
- Vấn đề chuẩn hóa trong việc sử dụng các danh mục tham chiếu dùng chung tại các bệnh viện và các cơ sở khám, chữa bệnh hiện chưa có. Các đơn vị 19 vẫn tổ chức, sử dụng hệ thống mã hóa cho các danh mục tham chiếu một cách tự phát. - Các cơ sở khám chữa bệnh không muốn “mở cửa” hệ thống do lo ngại về an ninh và các yếu tố về quyền bí mật các thông tin cá nhân. Để thực hiện việc trao đổi thông tin hồ sơ bệnh án, theo kinh nghiệm của các nước phát triển trong các hệ thống thông tin y tế, khi có yêu cầu của bệnh nhân, các đơn vị có thể cung cấp hồ sơ bệnh án giấy hoặc điện tử để bệnh nhân tự bảo quản và cung cấp cho bên thứ ba khi có nhu cầu.
Dĩ nhiên, cách tiếp cận này không linh hoạt, kịp thời, và thường thì bệnh nhân không muốn luôn luôn mang theo hồ sơ bệnh án bên người. Như vậy, việc bảo quản hồ sơ bệnh án, theo luật định, vẫn do các cơ sở khám, chữa bệnh thực hiện.