CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CẢNH QUAN PHỤC VỤ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NÔNG LÂM NGHIỆP 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 1. Các công trình nghiên cứu, đánh giá cảnh quan 1. Nghiên cứu lý thuyết về cảnh quan Trên thế giới, từ khi ra đời cho đến nay khoa học cảnh quan (CQ) đã có những bước phát triển mạnh mẽ, có rất nhiều công trình của các tác giả thuộc nhiều trường phái khác nhau.
Đó là những công trình của các nhà cảnh quan học Nga và một số nước thuộc Liên Xô trước đây, tiếp sau là các tác giả theo trường phái cảnh quan của các nước Phương Tây và Bắc Mỹ. Trong những công trình của các nhà cảnh quan học Nga, CQ được xem xét là một nội dung của địa lý tự nhiên. Khái niệm CQ được xem xét ở cả ba khía cạnh: i) CQ là những cá thể địa lý không lặp lại trong không gian, là đơn vị cơ bản của phân vùng địa lý tự nhiên, có nội dung xác định và chỉ tiêu rõ ràng, thể hiện mối quan hệ tương hỗ của các hợp phần tự nhiên trong một lãnh thổ nhất định, được đề cập trong công trình của L. ii) CQ là đơn vị mang tính kiểu loại, là sự thống nhất biện chứng của các hợp phần tự nhiên, như một tổng hợp thể lãnh thổ tự nhiên tương đối đồng nhất, được xem xét không phụ thuộc vào phạm vi phân bố và có sự lặp lại trong không gian, được thể hiện trong các công trình của B.Polưnov, Markov, Perelman, N.Gvozdexki… iii) CQ là một khái niệm chung có thể dùng cho mọi đơn vị phân loại và phân vùng ở bất kỳ lãnh thổ nào, thể hiện trong nghiên cứu của F.
Trong đó, quan điểm cá thể và kiểu loại trong nghiên cứu cảnh quan (NCCQ) đã có những ảnh hưởng lớn đến NCCQ ở Việt Nam. luan an 7 Trong những công trình của các nhà cảnh quan học Phương Tây và Bắc Mỹ, CQ cũng được xem xét nhiều góc độ khác nhau: i) CQ là khái niệm chung, cảnh quan là tổng hợp thể bao gồm tổ hợp giữa đường nét sơn văn của địa hình, lớp phủ mặt đất tạo nên “phong cảnh” và những giá trị tinh thần mà con người cảm nhận được, những giá trị chức năng của cảnh quan [44]. ii) CQ được coi như một hệ thống “sinh thái - xã hội” phức tạp, đòi hỏi có sự tiếp cận liên ngành và đa tỷ lệ. Các công trình nghiên cứu tiêu biểu của Tress Bärbel, Tress Gunther (2001), Wu (2006), Naveh (2007), Wu và Hobbs (2007), Bloemers (2010), Axelsson (2011, 2013), Angelstam (2013)… đều cho rằng tiếp cận liên ngành và phương pháp tích hợp trong NCCQ là hết sức cần thiết, vì nó mang lại những lợi ích to lớn trong việc phát triển bền vững hệ thống “sinh thái - xã hội”, cho phép đưa ra các giải pháp hữu hiệu trong quản lý và sử dụng CQ [26], [47], [46], [45], [50], [67], [72].
Ở Việt Nam, tiếp thu những thành tựu NCCQ của thế giới từ những năm 60 của thế kỷ XX, đến nay nghiên cứu lý thuyết về CQ đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật với các quan niệm chủ yếu về CQ như sau: i) CQ là tổng hợp thể tự nhiên. Quan niệm này được phản ánh trong các công trình nghiên cứu của Vũ Tự Lập, 1976) [23], Nguy n Cao Huần, 1992 [14], Phạm Hoàng Hải, 1997 [8]… ii) CQ là cá thể địa lý. Quan niệm này được thể hiện trong các công trình nghiên cứu cảnh quan địa lý miền Bắc của Vũ Tự Lập (1976) [23], "sau này các nhà cảnh quan học Việt Nam cũng đã "cá thể hóa" các vùng cảnh quan cho lãnh thổ Việt Nam (Phạm Hoàng Hải và nnk, 1997), miền Nam Việt Nam (Trương Quang Hải, 1991), lãnh thổ Thuận Hải (Bình Thuận và Ninh Thuận) (Nguy n Cao Huần, 1992)" [14]. iii) Cảnh quan là đơn vị kiểu loại.
Ở Việt Nam, có rất nhiều nghiên cứu cảnh quan theo quan niệm này và tiến hành xây dựng hệ thống phân loại, chỉ tiêu cho các cấp phân loại trên lãnh thổ cả nước hoặc các vùng lãnh thổ khác nhau, tiêu biểu là các công trình của Phạm Quang Anh và nnk (1985) [1], Trương Quang Hải (1991) [61], Phạm Hoàng Hải và nnk (1997) [8], Nguy n Cao Huần 1992 [14], Nguy n Ngọc Khánh (1992) [22], Phạm Quang Anh (1996) [2], Phạm Quang Tuấn (2003) [30], Nguy n An Thịnh (2007) [35], Đỗ Văn Thanh (2011) [34]… luan an 8 Có thể nhận thấy: Có những quan niệm khác nhau về cảnh quan trong hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, tuy nhiên hầu hết các quan niệm về cảnh quan đều coi cảnh quan là một tổng hợp thể tự nhiên, là một địa hệ thống ở các cấp khác nhau, vừa mang tính cá thể, vừa mang tính kiểu loại. Trong luận án, tác giả đã kế thừa có chọn lọc và vận dụng các quan niệm về CQ khi nghiên cứu CQ áp dụng cho hai huyện biên giới Việt - Lào thuộc tỉnh Kon Tum. Cụ thể, luận án sử dụng quan niệm CQ là đơn vị mang tính kiểu loại khi thành lập bản đồ cảnh quan hai huyện Đắc Glei và Ngọc Hồi tỉnh Kon Tum. Nghiên cứu cảnh quan ứng dụng Để đáp ứng nhu cầu của thực ti n sản xuất, khoa học cảnh quan được ứng dụng ngày càng nhiều trong nhiều lĩnh vực, nhất là các lĩnh vực nông lâm nghiệp, khai thác sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường.
Trên thế giới, các NCCQ ứng dụng thể hiện ở nhiều khía cạnh và thống nhất kết quả của NCCQ chính là cơ sở tin cậy để đưa ra các chính sách phát triển phù hợp cho các lãnh thổ: i) Hướng NCCQ đánh giá tổng hợp các yếu tố cho mục đích phát triển kinh tế ở các lãnh thổ cụ thể, hiện trong các công trình của Bastian (2000) [48], Brown và nnk (2011) [50], Frondoni và nnk (2011) [57], Levin (2007) [64], Veerle Van Eetvelde, Antrop M. (2004) [74]… ii) Hướng NCCQ cho việc sử dụng hợp lý các lưu vực sông, thể hiện trong các công trình của Fujihara M. và nnk (2011) [65]… iv) Hướng NCCQ gắn với quy hoạch không gian và bảo vệ môi trường, thể hiện trong các công trình của Bastian Olaf (2000) [48], Schmid A. (2001) [68], René Tissen - Frank Lekanne Deprez (2008) [72], Carolin Gallera và nnk (2016) [51]… v) Hướng NCCQ ứng dụng tạo cơ sở khoa học cho công tác thiết kế cảnh quan văn hóa.
Tiêu biểu nhất cho hướng nghiên cứu này là các công trình Cảnh quan học ứng luan an 9 dụng của Ixatsenko A. Công trình này đã nêu lên các phương hướng và phương pháp NCCQ ứng dụng trong tổ chức cảnh quan văn hóa; đồng thời chỉ ra những vấn đề phức tạp liên quan đến việc sử dụng hợp lí, bảo vệ và cải thiện môi trường tự nhiên của xã hội loài người. vi) Hướng NCCQ liên vùng, liên quốc gia được thể hiện trong các công trình của Bloemers (2010), Potschin (2012), Angelstam (2013) [47], [46]… vii) Hướng NCCQ liên quan đến vùng chuyên canh. Đây là hướng nghiên cứu nhằm duy trì an ninh năng lượng và lương thực, đảm bảo các mục tiêu môi trường trong khi vẫn duy trì tính bền vững trong quy hoạch sử dụng đất.
Tiêu biểu là các công trình của Chunlong Shi và nnk (2011) [53], Yanming Zhang và nnk (2011) [77], David Pimentel và nnk (2012) [55], Erickson và nnk (2013) [54], Kaixian Wu và Bozhi Wu (2014) [63], Niemmanee và nnk (2015) [71], Semporea và nnk (2015) [69], Chiara Vallebona và nnk (2016) [52]. Ở Việt Nam, nhiều công trình đã gắn kết nghiên cứu cơ bản với nghiên cứu ứng dụng CQ trong sử dụng hợp lý TNTN và BVMT: i) Hướng NCCQ ứng dụng chú trọng vào phân tích cấu trúc CQ cho sử dụng hợp lý TNTN và BVMT. Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này có công trình của Phạm Quang Anh (1996) [2], Trương Quang Hải và nnk (2008) [10], [11], Phạm Hoàng Hải và nnk (1997) [8], Nguy n Cao Huần (2005) [17]… ii) Hướng NCCQ, ĐGCQ định hướng phát triển nông lâm nghiệp ở các lãnh thổ. Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này là những công trình của các tác giả: "Nguy n An Thịnh (2007), đã hoàn thành luận án “Phân tích cấu trúc Sinh thái cảnh quan phục vụ phát triển bền vững nông, lâm nghiệp và du lịch huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai”.
Bùi Thị Mai (2010), hoàn thành luận án “Nghiên cứu điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên phục vụ sử dụng hợp lí lãnh thổ lưu vực sông Ba”. Trương Quang Hải (2010), có nghiên cứu “Đánh giá cảnh quan cho mục đích phát triển nông lâm nghiệp và du lịch tại khu vực có núi đá vôi tỉnh Ninh Bình”. Đỗ Văn Thanh (2011), hoàn thành luận án “Đánh giá tổng hợp môi trường sinh thái phục vụ quy hoạch sử dụng đất theo hướng phát triển bền vững tỉnh Bắc Giang”. Trương Thị Tư (2011), hoàn thành luận án “Nghiên cứu cảnh quan phục vụ sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường tỉnh Quảng Bình”.
Trần Anh Tuấn (2013), hoàn thành luận án “Nghiên cứu xác lập cơ sở địa lí phục vụ phát triển kinh tế và sử luan an 10 dụng hợp lí tài nguyên huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình”. Dương Thị Nguyên Hà (2013), hoàn thành luận án “Nghiên cứu đánh giá cảnh quan cho mục đích sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường tỉnh Quảng Ngãi”. Nguy n Minh Nguyệt (2014), hoàn thành luận án “Cơ sở cảnh quan học cho việc sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường trong phát triển nông lâm nghiệp tỉnh Hà Tĩnh”. Nguy n Ánh Hoàng (2016), hoàn thành luận án “Phân tích cấu trúc, chức năng cảnh quan phục vụ mục đích tổ chức lãnh thổ sản xuất nông, lâm nghiệp và du lịch tỉnh Yên Bái”" [29].
iii) Hướng NCCQ liên quan đến vùng chuyên canh. Đây là hướng nghiên cứu được quan tâm trong những năm gần đây. Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học để phát triển sản xuất hàng hóa quy mô lớn, phục vụ tái cơ cấu nông nghiệp, nhằm sử dụng hiệu quả các lợi thế của từng địa phương. Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này là những công trình của các tác giả: Nguy n Cao Huần và nnk (2000, 2004), nghiên cứu “Tiếp cận kinh tế sinh thái trong đánh giá, quy hoạch cảnh quan cây công nghiệp dài ngày” và “Tích hợp ALES - GIS trong đánh giá cảnh quan phục vụ phát triển cây trồng nông, lâm nghiệp huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai” [16].
Phạm Quang Tuấn (2006), nghiên cứu “Đánh giá kinh tế sinh thái cảnh quan đối với các loại hình sử dụng đất trồng cây ăn quả huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn” [30], [31].