Luận án tiến sĩ về phát triển nông lâm nghiệp tại hai huyện biên giới Việt - Lào tỉnh Kon Tum

Luận án tiến sĩ nghiên cứu nghiên cứu cảnh quan phục vụ định hướng phát triển nông lâm nghiệp hai huyện biên giới việt lào, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề

Chuyên ngành

Địa lý tự nhiên

Tác giả

Phan Hoàng Linh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

204
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CẢNH QUAN PHỤC VỤ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NÔNG LÂM NGHIỆP

1.1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

1.2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN CHO PHÁT TRIỂN NÔNG, LÂM NGHIỆP

1.3. QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG PHÁP VÀ CÁC BƯỚC NGHIÊN CỨU

1.4. TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CẢNH QUAN HAI HUYỆN BIÊN GIỚI VIỆT - LÀO THUỘC TỈNH KON TUM

2.1. ĐẶC ĐIỂM CÁC NHÂN TỐ THÀNH TẠO CẢNH QUAN

2.2. HỆ THỐNG PHÂN LOẠI VÀ ĐẶC ĐIỂM CÁC ĐƠN VỊ CẢNH QUAN

2.3. CHỨC NĂNG CẢNH QUAN

2.4. ĐỘNG LỰC CẢNH QUAN

2.5. TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN PHỤC VỤ ĐỊNH HƯỚNG KHÔNG GIAN PHÁT TRIỂN NÔNG LÂM NGHIỆP HAI HUYỆN BIÊN GIỚI VIỆT - LÀO THUỘC TỈNH KON TUM

3.1. ĐÁNH GIÁ THÍCH NGHI CẢNH QUAN CHO PHÁT TRIỂN NÔNG LÂM NGHIỆP

3.2. ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN CHO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÙNG CHUYÊN CANH CÂY LÂU NĂM

3.3. TIỂU KẾT CHƯƠNG 3

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu cảnh quan phục vụ định hướng phát triển nông lâm nghiệp là một lĩnh vực quan trọng trong việc khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững. Cảnh quan nông lâm nghiệp không chỉ phản ánh sự đa dạng sinh học mà còn thể hiện mối quan hệ giữa con người và môi trường. Việc đánh giá cảnh quan giúp xác định các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệplâm nghiệp, từ đó đưa ra các giải pháp hợp lý cho việc quản lý và phát triển bền vững. Đặc biệt, trong bối cảnh hai huyện biên giới Việt - Lào thuộc tỉnh Kon Tum, việc nghiên cứu này càng trở nên cấp thiết. Các phương pháp nghiên cứu như phân tích địa lý, khảo sát thực địa và đánh giá sinh thái được áp dụng để thu thập dữ liệu và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến cảnh quan. Những kết quả này sẽ là cơ sở cho việc xây dựng các chính sách phát triển nông lâm nghiệp phù hợp với điều kiện tự nhiên và xã hội của địa phương.

1.1. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu liên quan

Nghiên cứu cảnh quan đã được thực hiện qua nhiều công trình khác nhau, từ lý thuyết đến thực tiễn. Các công trình này không chỉ tập trung vào việc đánh giá cảnh quan mà còn nghiên cứu các yếu tố tác động đến kinh tế nông thônquản lý tài nguyên. Đặc biệt, các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng việc phát triển nông lâm nghiệp cần phải dựa trên cơ sở khoa học vững chắc, nhằm đảm bảo tính bền vững và hiệu quả. Các nghiên cứu này cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hợp tác quốc tế trong việc phát triển nông lâm nghiệp, đặc biệt là giữa Việt Nam và Lào, nhằm tối ưu hóa nguồn lực và bảo vệ môi trường. Những kết quả từ các nghiên cứu này sẽ là nền tảng cho việc xây dựng các chiến lược phát triển nông lâm nghiệp tại hai huyện Đắk Glei và Ngọc Hồi.

II. Đặc điểm cảnh quan hai huyện biên giới Việt Lào

Hai huyện Đắk Glei và Ngọc Hồi có vị trí địa lý đặc biệt, nằm ở khu vực biên giới Việt - Lào. Địa hình nơi đây đa dạng với nhiều loại hình cảnh quan khác nhau, từ núi cao đến thung lũng. Địa lý nông nghiệp tại đây được hình thành từ nhiều yếu tố tự nhiên như thổ nhưỡng, khí hậu và thảm thực vật. Việc phân tích các yếu tố này giúp xác định được các loại hình nông lâm nghiệp bền vững phù hợp với điều kiện tự nhiên. Hệ thống phân loại cảnh quan được xây dựng dựa trên các yếu tố địa lý và sinh thái, từ đó xác định được các đơn vị cảnh quan có tiềm năng phát triển nông lâm nghiệp. Đặc biệt, việc đánh giá chức năng của cảnh quan trong việc bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế là rất quan trọng. Các chức năng này không chỉ giúp bảo vệ tài nguyên thiên nhiên mà còn tạo ra cơ hội cho sự phát triển kinh tế địa phương.

2.1. Đặc điểm các nhân tố thành tạo cảnh quan

Các nhân tố thành tạo cảnh quan tại hai huyện Đắk Glei và Ngọc Hồi bao gồm vị trí địa lý, địa hình, thổ nhưỡng và thảm thực vật. Vị trí địa lý của khu vực này tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nông lâm nghiệp, đặc biệt là các loại cây trồng lâu năm như cà phê, cao su và bời lời. Địa hình đa dạng với nhiều loại hình như đồi, núi và thung lũng tạo ra các điều kiện sinh thái khác nhau, từ đó hình thành nên các đơn vị cảnh quan khác nhau. Thổ nhưỡng tại đây cũng rất phong phú, với nhiều loại đất phù hợp cho việc trồng trọt. Thảm thực vật phong phú không chỉ cung cấp nguồn tài nguyên cho nông lâm nghiệp mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái. Việc nghiên cứu và đánh giá các nhân tố này là cần thiết để xác định các giải pháp phát triển nông lâm nghiệp bền vững.

III. Đánh giá cảnh quan phục vụ định hướng phát triển nông lâm nghiệp

Đánh giá cảnh quan là một bước quan trọng trong việc xác định các tiềm năng và hạn chế của khu vực nghiên cứu. Việc đánh giá này không chỉ dựa trên các yếu tố tự nhiên mà còn xem xét đến các yếu tố xã hội và kinh tế. Các phương pháp đánh giá thích nghi sinh thái được áp dụng để xác định mức độ phù hợp của các loại hình nông lâm nghiệp với điều kiện tự nhiên của khu vực. Kết quả đánh giá sẽ giúp xác định các vùng ưu tiên phát triển nông lâm nghiệp, từ đó đưa ra các chính sách và giải pháp phù hợp. Đặc biệt, việc đánh giá cảnh quan cho các vùng chuyên canh cây lâu năm là rất cần thiết để đảm bảo tính bền vững trong phát triển nông lâm nghiệp. Những thông tin thu thập được từ đánh giá sẽ là cơ sở cho việc lập quy hoạch sử dụng đất và phát triển kinh tế - xã hội tại hai huyện Đắk Glei và Ngọc Hồi.

3.1. Đánh giá thích nghi cảnh quan cho phát triển nông lâm nghiệp

Đánh giá thích nghi cảnh quan cho phát triển nông lâm nghiệp là một quá trình phức tạp, bao gồm việc phân tích các yếu tố tự nhiên và xã hội. Các yếu tố như thổ nhưỡng, khí hậu, và thảm thực vật được xem xét để xác định mức độ phù hợp cho từng loại cây trồng. Kết quả đánh giá cho thấy rằng khu vực Đắk Glei và Ngọc Hồi có nhiều tiềm năng cho việc phát triển các loại cây lâu năm như cà phê, cao su và bời lời. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý đến các yếu tố như biến đổi khí hậu và áp lực từ hoạt động khai thác tài nguyên. Việc đánh giá này không chỉ giúp xác định các vùng có tiềm năng phát triển mà còn giúp đưa ra các giải pháp bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Các kết quả từ đánh giá sẽ là cơ sở cho việc lập kế hoạch phát triển nông lâm nghiệp trong tương lai.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CẢNH QUAN PHỤC VỤ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NÔNG LÂM NGHIỆP 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 1. Các công trình nghiên cứu, đánh giá cảnh quan 1. Nghiên cứu lý thuyết về cảnh quan Trên thế giới, từ khi ra đời cho đến nay khoa học cảnh quan (CQ) đã có những bước phát triển mạnh mẽ, có rất nhiều công trình của các tác giả thuộc nhiều trường phái khác nhau.

Đó là những công trình của các nhà cảnh quan học Nga và một số nước thuộc Liên Xô trước đây, tiếp sau là các tác giả theo trường phái cảnh quan của các nước Phương Tây và Bắc Mỹ. Trong những công trình của các nhà cảnh quan học Nga, CQ được xem xét là một nội dung của địa lý tự nhiên. Khái niệm CQ được xem xét ở cả ba khía cạnh: i) CQ là những cá thể địa lý không lặp lại trong không gian, là đơn vị cơ bản của phân vùng địa lý tự nhiên, có nội dung xác định và chỉ tiêu rõ ràng, thể hiện mối quan hệ tương hỗ của các hợp phần tự nhiên trong một lãnh thổ nhất định, được đề cập trong công trình của L. ii) CQ là đơn vị mang tính kiểu loại, là sự thống nhất biện chứng của các hợp phần tự nhiên, như một tổng hợp thể lãnh thổ tự nhiên tương đối đồng nhất, được xem xét không phụ thuộc vào phạm vi phân bố và có sự lặp lại trong không gian, được thể hiện trong các công trình của B.Polưnov, Markov, Perelman, N.Gvozdexki… iii) CQ là một khái niệm chung có thể dùng cho mọi đơn vị phân loại và phân vùng ở bất kỳ lãnh thổ nào, thể hiện trong nghiên cứu của F.

Trong đó, quan điểm cá thể và kiểu loại trong nghiên cứu cảnh quan (NCCQ) đã có những ảnh hưởng lớn đến NCCQ ở Việt Nam. luan an 7 Trong những công trình của các nhà cảnh quan học Phương Tây và Bắc Mỹ, CQ cũng được xem xét nhiều góc độ khác nhau: i) CQ là khái niệm chung, cảnh quan là tổng hợp thể bao gồm tổ hợp giữa đường nét sơn văn của địa hình, lớp phủ mặt đất tạo nên “phong cảnh” và những giá trị tinh thần mà con người cảm nhận được, những giá trị chức năng của cảnh quan [44]. ii) CQ được coi như một hệ thống “sinh thái - xã hội” phức tạp, đòi hỏi có sự tiếp cận liên ngành và đa tỷ lệ. Các công trình nghiên cứu tiêu biểu của Tress Bärbel, Tress Gunther (2001), Wu (2006), Naveh (2007), Wu và Hobbs (2007), Bloemers (2010), Axelsson (2011, 2013), Angelstam (2013)… đều cho rằng tiếp cận liên ngành và phương pháp tích hợp trong NCCQ là hết sức cần thiết, vì nó mang lại những lợi ích to lớn trong việc phát triển bền vững hệ thống “sinh thái - xã hội”, cho phép đưa ra các giải pháp hữu hiệu trong quản lý và sử dụng CQ [26], [47], [46], [45], [50], [67], [72].

Ở Việt Nam, tiếp thu những thành tựu NCCQ của thế giới từ những năm 60 của thế kỷ XX, đến nay nghiên cứu lý thuyết về CQ đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật với các quan niệm chủ yếu về CQ như sau: i) CQ là tổng hợp thể tự nhiên. Quan niệm này được phản ánh trong các công trình nghiên cứu của Vũ Tự Lập, 1976) [23], Nguy n Cao Huần, 1992 [14], Phạm Hoàng Hải, 1997 [8]… ii) CQ là cá thể địa lý. Quan niệm này được thể hiện trong các công trình nghiên cứu cảnh quan địa lý miền Bắc của Vũ Tự Lập (1976) [23], "sau này các nhà cảnh quan học Việt Nam cũng đã "cá thể hóa" các vùng cảnh quan cho lãnh thổ Việt Nam (Phạm Hoàng Hải và nnk, 1997), miền Nam Việt Nam (Trương Quang Hải, 1991), lãnh thổ Thuận Hải (Bình Thuận và Ninh Thuận) (Nguy n Cao Huần, 1992)" [14]. iii) Cảnh quan là đơn vị kiểu loại.

Ở Việt Nam, có rất nhiều nghiên cứu cảnh quan theo quan niệm này và tiến hành xây dựng hệ thống phân loại, chỉ tiêu cho các cấp phân loại trên lãnh thổ cả nước hoặc các vùng lãnh thổ khác nhau, tiêu biểu là các công trình của Phạm Quang Anh và nnk (1985) [1], Trương Quang Hải (1991) [61], Phạm Hoàng Hải và nnk (1997) [8], Nguy n Cao Huần 1992 [14], Nguy n Ngọc Khánh (1992) [22], Phạm Quang Anh (1996) [2], Phạm Quang Tuấn (2003) [30], Nguy n An Thịnh (2007) [35], Đỗ Văn Thanh (2011) [34]… luan an 8 Có thể nhận thấy: Có những quan niệm khác nhau về cảnh quan trong hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, tuy nhiên hầu hết các quan niệm về cảnh quan đều coi cảnh quan là một tổng hợp thể tự nhiên, là một địa hệ thống ở các cấp khác nhau, vừa mang tính cá thể, vừa mang tính kiểu loại. Trong luận án, tác giả đã kế thừa có chọn lọc và vận dụng các quan niệm về CQ khi nghiên cứu CQ áp dụng cho hai huyện biên giới Việt - Lào thuộc tỉnh Kon Tum. Cụ thể, luận án sử dụng quan niệm CQ là đơn vị mang tính kiểu loại khi thành lập bản đồ cảnh quan hai huyện Đắc Glei và Ngọc Hồi tỉnh Kon Tum. Nghiên cứu cảnh quan ứng dụng Để đáp ứng nhu cầu của thực ti n sản xuất, khoa học cảnh quan được ứng dụng ngày càng nhiều trong nhiều lĩnh vực, nhất là các lĩnh vực nông lâm nghiệp, khai thác sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường.

Trên thế giới, các NCCQ ứng dụng thể hiện ở nhiều khía cạnh và thống nhất kết quả của NCCQ chính là cơ sở tin cậy để đưa ra các chính sách phát triển phù hợp cho các lãnh thổ: i) Hướng NCCQ đánh giá tổng hợp các yếu tố cho mục đích phát triển kinh tế ở các lãnh thổ cụ thể, hiện trong các công trình của Bastian (2000) [48], Brown và nnk (2011) [50], Frondoni và nnk (2011) [57], Levin (2007) [64], Veerle Van Eetvelde, Antrop M. (2004) [74]… ii) Hướng NCCQ cho việc sử dụng hợp lý các lưu vực sông, thể hiện trong các công trình của Fujihara M. và nnk (2011) [65]… iv) Hướng NCCQ gắn với quy hoạch không gian và bảo vệ môi trường, thể hiện trong các công trình của Bastian Olaf (2000) [48], Schmid A. (2001) [68], René Tissen - Frank Lekanne Deprez (2008) [72], Carolin Gallera và nnk (2016) [51]… v) Hướng NCCQ ứng dụng tạo cơ sở khoa học cho công tác thiết kế cảnh quan văn hóa.

Tiêu biểu nhất cho hướng nghiên cứu này là các công trình Cảnh quan học ứng luan an 9 dụng của Ixatsenko A. Công trình này đã nêu lên các phương hướng và phương pháp NCCQ ứng dụng trong tổ chức cảnh quan văn hóa; đồng thời chỉ ra những vấn đề phức tạp liên quan đến việc sử dụng hợp lí, bảo vệ và cải thiện môi trường tự nhiên của xã hội loài người. vi) Hướng NCCQ liên vùng, liên quốc gia được thể hiện trong các công trình của Bloemers (2010), Potschin (2012), Angelstam (2013) [47], [46]… vii) Hướng NCCQ liên quan đến vùng chuyên canh. Đây là hướng nghiên cứu nhằm duy trì an ninh năng lượng và lương thực, đảm bảo các mục tiêu môi trường trong khi vẫn duy trì tính bền vững trong quy hoạch sử dụng đất.

Tiêu biểu là các công trình của Chunlong Shi và nnk (2011) [53], Yanming Zhang và nnk (2011) [77], David Pimentel và nnk (2012) [55], Erickson và nnk (2013) [54], Kaixian Wu và Bozhi Wu (2014) [63], Niemmanee và nnk (2015) [71], Semporea và nnk (2015) [69], Chiara Vallebona và nnk (2016) [52]. Ở Việt Nam, nhiều công trình đã gắn kết nghiên cứu cơ bản với nghiên cứu ứng dụng CQ trong sử dụng hợp lý TNTN và BVMT: i) Hướng NCCQ ứng dụng chú trọng vào phân tích cấu trúc CQ cho sử dụng hợp lý TNTN và BVMT. Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này có công trình của Phạm Quang Anh (1996) [2], Trương Quang Hải và nnk (2008) [10], [11], Phạm Hoàng Hải và nnk (1997) [8], Nguy n Cao Huần (2005) [17]… ii) Hướng NCCQ, ĐGCQ định hướng phát triển nông lâm nghiệp ở các lãnh thổ. Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này là những công trình của các tác giả: "Nguy n An Thịnh (2007), đã hoàn thành luận án “Phân tích cấu trúc Sinh thái cảnh quan phục vụ phát triển bền vững nông, lâm nghiệp và du lịch huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai”.

Bùi Thị Mai (2010), hoàn thành luận án “Nghiên cứu điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên phục vụ sử dụng hợp lí lãnh thổ lưu vực sông Ba”. Trương Quang Hải (2010), có nghiên cứu “Đánh giá cảnh quan cho mục đích phát triển nông lâm nghiệp và du lịch tại khu vực có núi đá vôi tỉnh Ninh Bình”. Đỗ Văn Thanh (2011), hoàn thành luận án “Đánh giá tổng hợp môi trường sinh thái phục vụ quy hoạch sử dụng đất theo hướng phát triển bền vững tỉnh Bắc Giang”. Trương Thị Tư (2011), hoàn thành luận án “Nghiên cứu cảnh quan phục vụ sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường tỉnh Quảng Bình”.

Trần Anh Tuấn (2013), hoàn thành luận án “Nghiên cứu xác lập cơ sở địa lí phục vụ phát triển kinh tế và sử luan an 10 dụng hợp lí tài nguyên huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình”. Dương Thị Nguyên Hà (2013), hoàn thành luận án “Nghiên cứu đánh giá cảnh quan cho mục đích sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường tỉnh Quảng Ngãi”. Nguy n Minh Nguyệt (2014), hoàn thành luận án “Cơ sở cảnh quan học cho việc sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường trong phát triển nông lâm nghiệp tỉnh Hà Tĩnh”. Nguy n Ánh Hoàng (2016), hoàn thành luận án “Phân tích cấu trúc, chức năng cảnh quan phục vụ mục đích tổ chức lãnh thổ sản xuất nông, lâm nghiệp và du lịch tỉnh Yên Bái”" [29].

iii) Hướng NCCQ liên quan đến vùng chuyên canh. Đây là hướng nghiên cứu được quan tâm trong những năm gần đây. Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học để phát triển sản xuất hàng hóa quy mô lớn, phục vụ tái cơ cấu nông nghiệp, nhằm sử dụng hiệu quả các lợi thế của từng địa phương. Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này là những công trình của các tác giả: Nguy n Cao Huần và nnk (2000, 2004), nghiên cứu “Tiếp cận kinh tế sinh thái trong đánh giá, quy hoạch cảnh quan cây công nghiệp dài ngày” và “Tích hợp ALES - GIS trong đánh giá cảnh quan phục vụ phát triển cây trồng nông, lâm nghiệp huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai” [16].

Phạm Quang Tuấn (2006), nghiên cứu “Đánh giá kinh tế sinh thái cảnh quan đối với các loại hình sử dụng đất trồng cây ăn quả huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn” [30], [31].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Luận án tiến sĩ về phát triển nông lâm nghiệp tại hai huyện biên giới Việt - Lào tỉnh Kon Tum" của tác giả Phan Hoàng Linh, dưới sự hướng dẫn của PGS. Lại Vĩnh Cẩm, được thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội vào năm 2019. Bài luận án này tập trung nghiên cứu cảnh quan phát triển nông lâm nghiệp tại hai huyện biên giới Việt - Lào, tỉnh Kon Tum, nhằm đánh giá tiềm năng và thách thức trong việc phát triển nông lâm nghiệp bền vững tại khu vực này. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về các yếu tố tự nhiên, kinh tế và xã hội ảnh hưởng đến sự phát triển nông lâm nghiệp, từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn tại các vùng biên giới khác.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Giáo trình hướng dẫn tổ chức công tác khuyến nông hiệu quả, nơi cung cấp những phương pháp tổ chức và quản lý trong lĩnh vực khuyến nông, hay Sử dụng Đất Nông Nghiệp ở Nông Cống, Thanh Hóa (2014-2019): Hiện Trạng và Phân Tích, giúp bạn hiểu rõ hơn về tình hình sử dụng đất nông nghiệp tại một địa phương cụ thể. Cuối cùng, Giải pháp tiếp tục xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu tại thị xã Đông Triều, Quảng Ninh sẽ cung cấp những giải pháp thiết thực cho việc phát triển nông thôn bền vững. Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức mà còn mở ra nhiều góc nhìn mới cho bạn trong lĩnh vực nông lâm nghiệp.