CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU CHUNG 1.1 Bối cảnh vấn đề Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế(International Financial Reporting Standards - IFRS) được Hội đồng chuân mực kế toán quốc é (IASB) biên soạn và ban hành nhằm hướng dẫn việc lập và trình bày báo cáo kế toán có tính thống nhất cao và được sử dụng rộng rãi khắp thể giới. Bộ chuẩn mực ra đời nhằm phục vụ mục. đích hướng đến việc thống nhất và đồng bộ về quy chuẩn kế toán trên toàn thế giới. © Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (LFRS) đã và đang được công nhận tại nhiều khu vực và bởi nhiều tổ chức quốc tế.
Được khởi xướng lần đầu vào năm 1998 và thúc đây mạnh mẽ sau sự kiện Liên minh châu Âu (EU) yêu cầu các doanh nghiệp trên thị trường vốn thuộc khối sử dụng. IFRS lam quy chuẩn công bố BCTC. Từ đó đến nay, đã có thêm nhiều nước trên khắp thế giới áp dụng IERS (một phần hoặc toàn bộ). Củng với đó, việc vận dụng IFRS trên phạm vi toàn cầu còn được ủng hộ và hỗ trợ bởi các tô chức có ảnh hưởng đến kinh tế thế giới như Ngân hàng thế giới (WB), Nhóm các nền kinh tế lớn (G20), Quy tiền tệ quốc tế (IMF), Tổ chức quốc tế các Ủy ban chứng khoán (IOSCO), Hội đồng ôn định tài chính quốc tế (FSB).
© Viet Nam đang thể hiện rõ quyết tâm trong việc hội nhập kế toán với chuẩn mực của IFRS Việc vận dụng IFRS có thể mang lại cho các doanh nghiệp Việt Nam vô số lợi ích như: tăng chất lượng công bó, tăng khả năng so sánh của của báo cáo tài chính đặc biệt là đối với nhà đầu tư nước ngoài, thúc đây nhanh hội nhập kinh tế quốc tế, tạo thuận lợi tiếp cận nguồn vốn nước ngoài, gia tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp 'Việt Nam trên thị trường vốn và thương mại quốc tế. Vận dụng IFRS giúp tăng tính so sánh về trạng thái tài chính giữa các doanh nghiệp cùng ngành ở nhiều nước, thông. tin tài chính công bố minh bạch cho nhiều đối tượng sử dụng (Jermakowicz, 2004), mức độ hội nhập thị trường tài chính quốc tế tăng với các quốc gia áp dụng IFRS (Cai & Wong, 2010); cùng với đó là hợp đồng vay với các định chế tài chính nước ngoài (Ormrod & Taylor, 2004; Shima & Yang, 2012). Tại Việt Nam, vấn đề tiền tới đồng nhất giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) va Chuan mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) được đưa ra trong báo cáo “Việt Nam.
2035”, nhằm xây dựng thị trường vốn của Việt Nam theo hướng đáp ứng tiêu chuân quốc tế. Điều này càng có ý nghĩa khi hiện nay Việt Nam đang ngày càng nỗ lực tham. gia sâu vào hội nhập kinh tế quốc tế, thể hiện qua việc Việt Nam đã tham gia nhiều tô chức quốc tế về kinh tế thương mại như Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Duong (TPP), Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC). Bên cạnh đó, chiến lược phát triển công.
tác kế toán - kiểm toán Việt Nam đến năm 2020, tằm nhìn 2030 cũng đã khẳng định: 'Việt Nam “quyết tâm áp dụng IFRS”. 'Ngày 16/3/2020, Bộ Tài chính đã phê duyệt “Để án áp dụng chuẫn mực báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam”. Từ sau năm 2025, toàn bộ doanh nghiệp niêm yết và một số loại hình doanh nghiệp khác theo quy định phải áp dụng chuẩn mực IFRS. “Chiến lược Kế toán Kiểm toán đến năm 2020, tầm nhìn năm 2030” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định 480/2013/QĐ - TTg, đã xác định quan điểm là “Hoàn thiện khuôn khô pháp lý hệ thống chuẩn mực”, “Hòa hợp với thông lệ quốc tế”.
Luật Kế toán 2015 cũng đưa ra một số quy định thê hiện xu hướng hòa hợp với Chuẩn mực BCTC quốc tế IFRS như đưa ra quy định về “giá trị hợp lý”. Đây được xem là động thái rõ ràng thể hiện quyết tâm hội nhập với quy chuẩn kế toán quốc tế theo chuân IFRS của Việt Nam. + Việc áp dụng LFRS tại các doanh nghiệp Việt Nam đi kèm không ít khó khăn Thực tế tại nhiều nước hay thậm chí tại chính một số doanh nghiệp tiên phong áp dụng thử nghiệp tại Việt Nam đã cho thấy việc chuyển đổi ap dung IFRS dé thay thế cho chế độ kế toán bản địa vốn được hình thành và vận hành nhiều năm là việc không phải đơn giản. Hiện nay, việc trình bày và cung cấp thông tin trên BCTC của các doanh nghiệp ở Việt Nam chịu sự chỉ phối bởi Luật Kế toán, chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán áp dụng cho doanh nghiệp.
Chuẩn mực kế toán Việt Nam được ban hành trước đây cũng đã có sự tham khảo từ Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế, tuy nhiên không hoàn toàn đầy đủ và nhiều chuẩn mực hiện không theo kịp sự cập nhật mới của IFRS. Thêm vào đó, Việt Nam cũng thiếu nhiều điều kiện về mặt cơ chế và thị trường để ứng dụng được hoàn toàn các quy định của IFRS, đơn cử như nguyên tắc về xác định giá trị hợp lý. Do vậy, quá trình áp dụng hoàn toàn IFRS tại các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn tồn tại không ít khó khăn, thách thức. Lựa chọn áp dụng IFRS trong việc lập báo cáo tài chính theo đó là quá trình cân bằng giữa lợi ích - khó khăn.
Việc nghiên cứu các nhân tổ tác động mang tính thúc. đây — cản trở đến quá trình lựa chọn áp dung IFRS là việc làm cần thiết trong thời điểm hiện tại, để từ đó đưa ra các giải pháp và kiến nghị chính sách phủ hợp nhằm đây mạnh lợi ích, giảm thiểu cản trở cho quá trình áp dụng IERS tại các doanh nghiệp Việt Nam.2 Khoảng trống nghiên cứu Bởi tính cấp thiết như đã nêu ở trên, đã có không ít nghiên cứu được thực hiện để phân tích về các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng IFRS tại Việt Nam. Phuong pháp nghiên cứu bao gồm 2 loại chính. Tác giả tông hợp tông quan kết quả nghiên cứu đã được thực hiện như bên dưới, từ đó đưa ra khoảng trồng nghiên cứu.
~ Nhóm I: Nghiên cứu dưới dạng phỏng vấn sâu để làm rõ nhận thức của các đối tượng có liên quan về việc áp dụng IFRS tại Việt Nam. Người được phỏng vấn có thể kể đến là chuyên gia, giảng viên đại học và người có kinh nghiệm lâu năm. trong ngành tài chính kế toán. Các nghiên cứu trong nhóm này đã khai thác ý kiến chuyên sâu về ích lợi và những khó khăn thách thức của việc áp dụng IFRS tai Viét Nam.
Các đối tượng phỏng vấn cũng đề xuất về một số giải pháp đề hỗ trợ quá trình áp dung IFRS. Dién hình trong nhóm này có nghiên cứu của Bùi Thị Oanh, Chúc Anh Tú & Lê Thị Tú Oanh (2020), Nguyễn Thị Hải Hà, Đinh Thị Thu Thủy, Trần Thị Hằng, Nguyễn Thị Thùy Trang (2021). Với phương pháp này, tác giả có điều kiện để khai thác và khám phá sâu sắc quan điểm của người được phỏng vấn. Tuy nhiên, điểm trừ là các ý kiến dựa trên phỏng vấn sâu một số đối tượng cụ thê có thể mang tính chủ quan, chưa đánh giá được đúng đắn thực trạng trên diện rộng.
- Nhóm 2: phân tích mô hình dựa trên khảo sát diện rộng. Các tác giả đề xuất các nhân tố và thang đo cho mỗi nhân tó, từ đó tiến hành khảo sát, thực hiện kiểm. định và áp dụng mô hình để đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng IFRS. Đỗ Khánh Ly (2020) sử dụng Lý thuyết đẳng cấu, tiến hành trên 220 mẫu khảo sát (thu về 200 phiếu) bao gồm lãnh đạo doanh nghiệp, giám đốc điều hành, CFO và kế toán trưởng của các doanh nghiệp cả nước thuộc nhiều thành phần, phân tích bằng mô hình cấu trúc tuyến tính-SEM dựa trên bình phương tối thiểu từng phần (PLS- SEM).
Nguyễn Thị Ngọc Diệp (2021) với Lý thuyết hành vi có kế hoạch, tiến hành lấy thông tin từ 273 doanh nghiệp sau đó phân tích hồi quy tuyến tính bội. Đoàn Thị Dung, Nguyễn Thị Ngọc Lan và Phan Thanh Hải (2020) tiến hành phỏng vấn sâu hơn 500 nhà quản lý và kiểm toán viên, sau đó phân tích bằng mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM). Nguyễn Lê Vân Khanh (2018) nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến sự tự nguyện áp dụng IFRS tại các doanh nghiệp vận dụng Lý thuyết đăng cấu, phân tích Crosstabs, Chi-squares và Fisher exact test để đánh giá mối liên hệ, phân tích logictis nhị phân đề kiểm định giả thuyết mô hình và đánh giá mức độ tác động của từng nhân tố đối với biến phụ thuộc. Tổng hợp lại, liên quan đến những nghiên cứu đã công bố về các nhân 6 anh hưởng đến việc áp dụng IFRS, tác giả xác định những khe hỏng và định hướng nghiên cứu như sau: - Những nghiên cứu đã công bố hầu như chỉ sử dụng lý thuyết nền đơn giản, các tác giả thiếu sự kết hợp các lý thuyết nền đề tạo nên cơ sở lý thuyết thật sự chặt chẽ và bao quát.
Do vậy với bài luận văn này này, tác giả chọn kết hợp 2 lý thuyết nền là Lý thuyết đăng cấu và Lý thuyết hành vi dự định (TBP) làm cốt lõi, sau đó tiếp tục củng có giả thuyết bằng các lý thuyết khác bổ trợ. ~ Các mẫu nghiên cứu chủ yếu lựa chọn theo phương pháp thuận tiện nên tinh đại diện chưa cao. Trong nghiên cứu này, tác giả quyết định khảo sát trên một nhóm. ngành cụ thê là ngành sản xuất tại Việt Nam.
Đây là nhóm ngành dẫn đầu về thu hút nguồn vốn FDI tại Việt Nam (tông vốn đầu tư đạt hơn 8,46 tỷ USD, chiếm gần 63% tông vốn đầu tư đăng ký trong 6 tháng đầu năm 2023), với hoạt động kinh tế quốc tế phát triển ngày càng mạnh mẽ được kỳ vọng sẽ tạo môi trường phủ hợp thúc đầy các doanh nghiệp lựa chọn áp dụng Chuẩn mực BCTC quốc tế. Nhiều nghiên cứu cũng đã chứng minh các doanh nghiệp sản xuất có khả năng áp dụng IFRS cao hơn các. Như vậy, xuất phát từ thực tế bối cảnh vần đề, yêu cầu hội nhập kế toán quốc tế, từ kết quả các nghiên cứu đã công bó, tác giả quyết định chọn đề tài “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng chuẩn mực BCTC quốc tế cho các doanh nghiệp sản xuất ở Việt Nam” cho luận văn này.2 Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu chung của đề tài là đánh giá những nhân tổ tác động đến việc áp dụng Chuan mực báo cáo tài chính quốc tế (IERS) ở các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành sản xuất tại Việt Nam, dựa vào đó đưa ra các giải pháp nhằm đây mạnh việc áp dung IFRS.