Chương 1 TÔNG QUAN 1. Các nghiên cứu trong nước và trên thế giới 1.1 Trong nước Trương T. Thiên va Matthew H. Yap (2012), nghiên cứu này nhằm dé chỉ ra và phân tích nhận thức của người tiêu dùng tiềm năng tại Việt Nam đối với thực phẩm an toàn bằng cách sử dụng phương pháp suy diễn từ nguyên nhân thông qua nghiên cứu khảo sát.
Dữ liệu định lượng đã được thu thập từ 246 người tiêu dùng tiềm năng Việt Nam. Nghiên cứu đã đưa ra giả thuyết rằng giới tính và độ tuổi có ảnh hưởng đến nhận thức và tiềm năng mua thực phẩm an toàn tại Việt Nam. Nghiên cứu cũng cho rằng người tiêu dùng tiềm năng có nhận thức khác và sẵn sàng trả giá cao hơn cho thực phẩm an toàn so với người tiêu dùng không tiềm năng. Và kết quả được tiềm thấy như sau: Độ tuổi có ảnh hưởng đến tiềm năng mua thực phẩm an toàn của người tiêu dùng tiềm năng Việt Nam, nhận thức về sức khỏe và an toàn cũng vậy.
Giới tính không ảnh hưởng đến tiềm năng mua, tuy nhiên người tiêu dùng nữ coi trong giá trị đinh dưỡng hơn. Sự quan tâm tới môi trường không ảnh hưởng đến quyết định mua thực phẩm an toàn. Người Việt Nam không nhạy cảm với giá thực phẩm an toàn vì họ coi trọng chất lượng hơn. Nguyễn Văn Thuận và Võ Thành Danh (2011), phân tích các yếu t6 tác động đến hành vi tiêu dùng rau an toàn tại thành phố Cần Thơ.
Nghiên cứu tiễn hành phỏng vấn trực tiếp 100 người đang tiêu dùng rau sạch. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, tại địa bàn nghiên cứu thì rau sạch chủ yếu được cung cấp cho hệ thống siêu thị, người tiêu dùng rau sạch chủ yêu lả nhóm khách hàng có thu nhập tương đối cao. Có 03 yêu tố chính ảnh hưởng đến quyết định tiêu dùng rau sạch của người dân trên địa bàn nghiên cứu là: Khoảng cách mua hàng, lòng tin khách hàng, tính sẵn có của sản phẩm. Từ đó, đề tài đưa ra các giải pháp dé phát triển sản xuất và tiêu thụ rau sạch tại thành phố Cần Thơ: Phát triển thêm điểm bán hàng, đa dạng hóa hệ thống phân phối, xây dựng thương hiệu thông qua sự liên kết hợp tác giữa các nhà sản xuất và nhà phân phối, tô chức lại hình thức sản xuất theo tổ, nhóm, hợp tác xã.
Nghiên cứu này góp phần nhấn mạnh việc hoàn thiện mô hình chuỗi cung ứng rau sạch thông qua việc chỉ ra rằng xu hướng tiêu dùng rau sạch ngày càng gia tăng, đây là cơ hội cho việc phát triển thị trường sản xuất rau sạch. Bên cạnh cơ hội còn gặp một số thách thức như: Thiếu chuyên môn hóa trong quy trình quản lý sản xuất và cung cấp rau sạch đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Nguyễn Phong Tuấn (2011), nghiên cứu được thực hiện ở hai thành phố lớn của Việt Nam là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh bằng phương pháp nghiên cứu định lượng. Đây là nghiên cứu nhằm mục tiêu tìm hiểu mối quan hệ giữa một số nhân té là thái độ với môi trường, nhận thức về giá trị, sự quan tâm tới sức khỏe, hiểu biết về thực phẩm an toàn, chuẩn mực chủ quan và thái độ đối với thực phẩm an toàn của người Việt Nam tới quyết định mua thực phẩm an toàn của họ.
Bên cạnh đó tác giả đã so sánh sự khác nhau về ảnh hưởng của các nhân tô đó đối với người tiêu dùng miền Nam và miền Bắc Việt Nam. Tác giả đã nghiên cứu 201 người tiêu dùng miền Bắc và 201 người tiêu dùng Miền Nam. Có tat cả 23 giả thuyết nghiên cứu được chia ra làm ba nhóm. Nhóm đầu tiên là các giả thuyết về ảnh hưởng của các biến độc lập tới quyết định mua thực phẩm an toàn tại miền Bắc Việt Nam.
Nhóm thứ hai xem xét ảnh hưởng của các biến đó tới quyết định mua thực phâm an toàn tại miền Nam và nhóm giả thuyết thứ ba so sánh anh hưởng của các nhân tô đó giữa hai miền Nam và Bắc Việt Nam. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra ảnh hưởng của các nhân tô thái độ với môi trưởng, nhận thức về giá trị, sự quan tâm tới sức khỏe, hiểu biết về thực phẩm an toàn và chuẩn mực chủ quan có quan hệ rõ ràng với quyết định mua thực phẩm an toàn của người tiêu dùng cả hai miền Nam và Bắc. Nghiên cứu cũng tìm ra có sự khác nhau trong ảnh hưởng của sự quan tâm đến sức khỏe, chuẩn mực chủ quan tới quyết định mua thực phẩm an toàn của người tiêu dùng miền Nam và miền Bắc Việt Nam. Và điều này được giải thích là do sự khác nhau giữa thời tiết, văn hóa của hai vùng miền khác nhau.
Nghiên cứu còn hạn chế là tác giả mới chỉ kết luận có sự ảnh hưởng và có sự khác nhau nhưng chưa chỉ ra mức độ ảnh hưởng và chiều hướng ảnh hưởng của các nhân tổ cùng mức độ khác nhau của ảnh hưởng này giữa hai vùng miền. Nguyễn Thanh Hương (2012), đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua của người tiêu dùng, trường hợp nghiên cứu đối với rau an toàn tại thành phố Hồ Chí Minh. Trong mô hình nghiên cứu tác giả đề cập đến các khái niệm nghiên cứu là sự tin tưởng, giá cả cảm nhận và sự xuất hiện của rau an toàn. Hai yếu tố nhân khẩu được xem xét là tuổi và thu nhập.
Kết quả nghiên cứu cho thấy sự tin tưởng và giá cả là hai yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến quyết định mua rau an toản của người tiêu dùng. Phạm Thị Hồng Đào (2014), đã nghiên cứu các yếu tố tác động đến quyết định mua rau an toàn của người tiêu dùng thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu cho thấy có ba yếu tố có tương quan dương với quyết định mua rau an toản: Sự tin tưởng rau an toàn và các nhà phân phối, mối quan tâm đến sức khỏe và môi trường, ý kiến của nhóm tham khảo. Riêng yếu tô cảm nhận về chi phí có tương quan âm với quyết định mua và có ảnh hưởng ít nhất trong bốn nhân tố.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy rằng không có sự khác biệt về quyết định mua rau an toàn giữa các nhóm tuổi khác nhau nhưng lại có sự khác biệt có ý nghĩa về quyết định mua rau an toàn giữa các nhóm thu nhập khác nhau. Văn Thị Khánh Nhi (2015), đã nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua rau an toàn của người tiêu dùng tại thành phố Đà Nẵng. Trong mô hình nghiên cứu tác giả đề cập đến các khái niệm nghiên cứu là: Niềm tin, nhận thức về giá, hình thức của rau an toàn, ý thức sức khỏe, chất lượng cảm nhận, mỗi quan tâm về an toàn thực phẩm, yếu tố cá nhân (tuổi, giới tính, thu nhập). Kết quả nghiên cứu cho thấy yếu tố ý thức sức khỏe, yêu tô niềm tin, yếu tố giá và yêu tô hình thức rau an toàn có tương quan đáng kể với quyết định mua rau an toàn.
Tuy nhiên, yếu tố chất lượng cảm nhận, yếu tổ mối quan tâm về an toàn thực phâm có tương quan yếu với quyết định mua rau an toan. Ngô Minh Hải và Vũ Quỳnh Hoa (2016), nghiên cứu sự lựa chọn của người mua rau tại chợ và siêu thị trên địa bàn thành phố Hà Nội. Nghiên cứu đặt giả thuyết rằng những yếu tô quan trọng ảnh hưởng tới nhận thức người tiêu dùng về thực phẩm hữu cơ bao gồm sự quan tâm về nhãn hiệu, nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm, đánh giá của người tiêu dùng về mức độ an toàn thực phẩm, độ tuôi, giới tính, học vấn, nghề nghiệp và thu nhập. Kết quả ảnh hưởng giới tính, thu nhập tới nhận thức về thực phẩm hữu cơ không được phát hiện trong nghiên cứu này.
Sự quan tâm tới nguồn gốc, nhãn hiệu và những đánh giá về tình hình an toàn thực phẩm của người tiêu dùng đóng vai trò quan trọng trong nhận thức về thực phẩm hữu cơ. Ảnh hưởng của trình độ học van và tuổi là tỉ lệ thuận với nhận thức về sản phẩm hữu cơ. Những người làm việc trong cơ quan nhà nước hay giáo viên, nghiên cứu viên có nhận thức tốt hơn về thực phẩm hữu cơ. Trên thế giới Tarkiainen và Sundqvist (2005), nghiên cứu được thực hiện ở Phần Lan với mục đích kiểm nghiệm việc áp dụng lý thuyết hành vi dự định trong bối cảnh mua thực phẩm an toàn bằng cách xem xét mối quan hệ giữa sự quan tâm đến sức khỏe, thái độ đối với thực phẩm an toàn, chuẩn mực chủ quan, nhận thức về giá bán và nhận thức về sự sẵn có của sản phẩm tới quyết định mua thực phẩm an toàn, từ đó ảnh hưởng đến mức độ thường xuyên mua thực phẩm an toàn.
Mô hình với những nhân tố mới bô sung này được khang định là dự đoán về quyết định mua thực phẩm an toàn tốt hơn mô hình hành vi dự định gốc. Ở mô hình nay, chuẩn mực chủ quan va sự quan tâm tới sức khỏe tác động gián tiếp tới quyết định mua thực phẩm an toàn thông qua thái độ với thực phẩm an toàn. Nghiên cứu cũng đưa ra hai giả thuyết rằng giá và sự sẵn có của sản phẩm ảnh hưởng tới quyết định mua thực phẩm an toàn. Kết quả nghiên cứu khang định rằng quyết định mua thực phẩm an toàn có thể được dự đoán bằng thái độ của người tiêu ding với thực phầm an toàn.
Và thái độ của người tiêu dùng với sản phâm nay lại phụ thuộc vào chuan mực chủ quan của mỗi người. Ngoài ra, nghiên cứu không tìm thấy sự ảnh hưởng của sự quan tâm đến sức khỏe tới thái độ cũng như sự ảnh hưởng của nhận thức về giá bán và nhận thức về sự sẵn có của sản phẩm tới quyết định mua thực phẩm an toàn. Robin Robert (2007), nghiên cứu được thực hiện ở Trung Quốc trên mẫu gồm 136 người trong 66 gian hang của hai siêu thị lớn nhằm tìm ra những đặc điểm trong hành vi mua thực phẩm an toàn của họ. Cụ thể là tìm ra họ là ai, họ mua loại thực phẩm an toàn nào và mua như thé nào.
Nghiên cứu được thực hiện bằng kỹ thuật quan sát. Kết luận cho thấy người tiêu dùng thường đi mua theo nhóm và ảnh hưởng của sự tham khảo lẫn nhau trong nhóm là đáng kể. Người tiêu dùng thường đọc kỹ nhãn hiệu trước khi mua nhưng họ lại ít quan tâm đến những tờ quãng cáo. Đây là một nghiên cứu đặc biệt khi đưa ra kết luận về ảnh hưởng của nhóm tham khảo và truyền thông đại chúng, những nhân tố ít được quan tâm ở những nghiên cứu khác.