CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Bối cảnh nghiên cứu và tính cấp thiết của đề tài 1.1 Xuất phát từ tính tất yếu của sự phát triển Phương thức đào tạo kết hợp (Blended Learning) ám chỉ phương pháp học tập kết hợp giữa giảng dạy trực tiếp (face-to-face) và phương pháp học tập trực tuyến (Online Learning hay thường được nhắc tới là E-Learning). Trước sự chuyển biến mạnh mẽ của công nghệ, cùng xu hướng dịch chuyển các ngành dịch vụ lên không gian điện tử và không gian mạng, giáo dục cũng chuyển biến theo con đường tương tự trên toàn thế giới. Sự phát triển của công nghệ thông tin như internet đã thúc đẩy sự phát triển của các chương trình giáo dục trực tuyến, điều này đã làm thay đổi hệ thống giáo dục truyền thống. Trong bối cảnh giáo dục truyền thống, phương pháp học trực tiếp là phương pháp học tập trung: học viên sẽ tham gia các buổi học tại lớp học cố định trên trường học.
Mô hình này tồn tại một số bất lợi cho học viên trong việc di chuyển, hoặc một số trường hợp đặc biệt không thể đến lớp. Ngược lại, phương pháp học tập từ xa là phương pháp giáo dục không yêu cầu sự có mặt của học viên tại trường, lớp mà vẫn có thể tiếp cận được với bài giảng, học liệu. Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin trên nền tảng mạng Internet đã khiến học tập từ xa và cụ thể là phương pháp học tập trực tuyến (Online Learning) trở nên phổ biến. Tốc độ tăng trưởng học viên của các khoá học trực tuyến trong vòng một thập kỷ gần đây ở Hoa Kỳ đã vượt qua tốc độ tăng trưởng của các khoá học theo hình thức giảng dạy trực tiếp (Allen & Seaman, 2013).
Phương pháp học tập hỗn hợp là sự biến đổi liên tục giữa giáo dục truyền thống theo phương pháp trực tiếp (face-to-face) và môi trường học tập phân phối, tích hợp công nghệ (theo Bonk & Graham, 2006; Graham & Dziuban, 2008). Chính vì vậy, trong tuỳ từng bối cảnh và điều kiện, phương pháp học tập hỗn hợp có thể được áp dụng theo những cách thức khác nhau. Việc áp dụng phương pháp học tập hỗn hợp có thể được định nghĩa như một phiên bản của học tập trực tuyến, với 30%-79% nội dung bài học được truyền tải trực tuyến (Allen, Seaman & Garrett, 2007; Means, Toyama, Murphy & Bakia, 2013). Bên cạnh đó cũng có các nghiên cứu giới hạn đào tạo kết hợp trong các 1 mô hình giáo dục mà phương pháp face-to-face chiếm tối thiểu 50% thời lượng học tập (Bernard, Borokhovski, Schimid, Tanim & Abrami, 2014).
Một định nghĩa đào tạo kết hợp khác được đưa ra rằng đây là mô hình ứng dụng các hệ thống lớp học trên nền tảng web, sử dụng hệ thống quản lý học tập (Learning Management System- LMS) để cập nhật giáo trình và liên lạc trong lớp (Bliuc, Goodyear & Ellis, 2007). Nói cách khác, không có một định nghĩa chuẩn mực nào dành cho Phương pháp học tập hỗn hợp. Sau khi tập hợp hơn 20 nghiên cứu khác nhau về mô hình đào tạo kết hợp tại một số các trường đại học trên thế giới, kết luận chung rút ra được là hiệu quả học tập của sinh viên khi học tập bằng phương pháp học tập hỗn hợp tốt hơn so với cả phương pháp học trực tiếp thuần tuý. Tuy nhiên, đào tạo kết hợp vẫn là một chủ đề còn khá mới mẻ ở Việt Nam.2 Xuất phát từ bối cảnh tại Việt Nam Đặt trong bối cảnh ở Việt Nam, khái niệm đào tạo kết hợp vẫn còn tương đối mới.
Phần lớn bộ phận học sinh, sinh viên, phụ huynh mới chỉ quen với việc phân biệt giữa giáo dục đào tạo chính quy (Phương pháp giáo dục trực tiếp face-to-face) và đào tạo từ xa (Phương pháp học trực tuyến). Đầu năm 2020, đại dịch COVID-19 bắt nguồn từ Trung Quốc lây lan tới hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, trước mối hiểm hoạ lớn cho sức khoẻ cộng đồng, theo chỉ đạo của Nhà nước, Bộ GD&ĐT đã ra cho các trường không học tập trung mà chuyển sang hình thức học qua mạng. Trong hoàn cảnh này, khái niệm đào tạo kết hợp mới nổi lên và thu hút sự chú ý của học sinh, sinh viên và các nhà giáo dục… Theo xu hướng tất yếu của đà phát triển, nhiều trường đại học đã có chủ trương xây dựng, chuẩn bị triển khai phương thức đào tạo kết hợp, với nhiều lợi ích kể đến như tự chủ thời gian, địa điểm cho sinh viên, đồng thời cắt giảm một số chi phí không cần thiết về quản lý. Cụ thể, tại trường Đại học Kinh tế Quốc dân, một số thầy cô ở Viện Công Nghệ Thông Tin và Kinh tế số đã sử dụng một số hệ thống như lms.
làm kênh phân phối tài liệu môn học hoặc kênh liên lạc từ trước đó. Tuy nhiên, hoàn cảnh áp dụng các hệ thống học hỗn hợp được áp dụng ở các trường Đại học Việt Nam khác hoàn toàn so với bối cảnh các hệ thống học hỗn hợp được áp dụng tại các quốc gia khác. 2 Thứ nhất, bối cảnh ở Việt Nam tại thời điểm triển khai phương pháp đào tạo kết hợp khác biệt so với các quốc gia được thực hiện nghiên cứu trước đây. Ví dụ cụ thể, tại Vương Quốc Anh, phương pháp ngày được triển khai vào năm 2020, cùng thời điểm với Việt Nam; ở Trung Quốc, đào tạo kết hợp được triển khai năm 2019, Hoa Kỳ 2010.
Có thể nhận thấy, đa số các nghiên cứu được thực hiện tại các quốc gia phát triển, có đầy đủ cơ sở hạ tầng kỹ thuật - kinh tế, đi kèm với tỷ lệ phổ cập sử dụng công nghệ cao, có thời gian thử nghiệm, xây dựng và cải thiện hệ thống, phương pháp dài. Các quốc gia phát triển đã bắt đầu đầu tư cho công nghệ trong giáo dụng từ những năm 1990. Cụ thể, Chính phủ Hoa Kỳ ban hành chỉ thị quốc gia về Công nghệ thông tin, trong đó: 1. Tất cả học sinh, sinh viên đều có khả năng tiếp cận Công nghệ thông tin tại lớp học, trường và tại nhà.
Tất cả giáo viên, giảng viên phải có khả năng tận dụng Công nghệ thông tin hiệu quả trong giáo dục và đào tạo 3. Tất cả học sinh, sinh viên đều phải có kỹ năng sử dụng và tiếp nhận thông tin thông qua hệ thống Công nghệ thông tin. Các quốc gia đang phát triển cần phải học tập từ kinh nghiệm của các quốc gia phát triển và xây dựng chiến thuật phát triển song song so với họ, do khoảng cách về công nghệ, kỹ thuật giữa các nước đang phát triển và phát triển (Hamidi, Rezaee, Ghorbandordinejad & Jafari, 2011). Đặt trong bối cảnh giáo dục bậc đại học ở Việt Nam, các sinh viên và học viên tới từ nhiều khu vực, vùng miền khác nhau.
Trong đó, vẫn còn các khu vực chưa được phủ sóng mạng di động hoặc tín hiệu đường truyền không đảm bảo (theo bảo đồ phủ sóng mạng 4G được Viettel công bố). Sự không đồng đều về điều kiện kinh tế, hoàn cảnh gia đình của các sinh viên cũng là một yếu tố ảnh hưởng tới mức độ đồng bộ công nghệ. Kỹ năng sử dụng các thiết bị công nghệ, tương tác với các hệ thống hay khả năng ngôn ngữ cũng có thể là rào cản đối với sinh viên, do có thể phải tương tác với hệ thống thiết kế đặc thù hoặc xây dựng trên nền tảng của hệ thống nước ngoài. Thứ hai, hoàn cảnh tức thời.
Việc triển khai đào tạo kết hợp có sự khác biệt rất lớn so với việc triển khai đã từng được nghiên cứu trước đây. Trước tình hình dịch bệnh 3 bùng phát đầu tháng 2/2021 tại Việt Nam, kế hoạch giảng dạy và thời gian quay lại trường học tập trung bị điều chỉnh bất ngờ là điều nhà trường và giảng viên đều không dự đoán trước được. Đa số các hệ thống đào tạo kết hợp ở các trường Đại học ở Việt Nam đều đi vào hoạt động với thời gian chuẩn bị bị rút ngắn đáng kể so với kế hoạch. Tại trường Đại học Kinh tế Quốc dân, nhà trường phải gấp rút đưa hệ thống vào hoạt động, với thời gian chuẩn bị và tập huấn giáo viên diễn ra trong vòng 1 tuần.
Thứ ba, bối cảnh về quy định, xã hội. Sinh viên và phụ huynh vẫn chưa quen với khái niệm đào tạo kết hợp. Phần lớn vẫn có quan niệm tách biệt về giáo dục hệ chính quy (thuần tuý theo phương pháp giáo dục trực tiếp) và giáo dục hệ đào tạo từ xa (thuần tuý theo phương pháp học trực tuyến). Phần đông thành phần xã hội vẫn quan niệm ưu tiên đào tạo trực tiếp so với đào tạo từ xa.
Mặc dù đã được áp dụng từ lâu, phương pháp giáo dục từ xa vẫn phải đối mặt với định kiến rằng đây là biện pháp giáo dục ít cá nhân hoá, và chủ yếu dành cho người đi làm hay những nhóm người thiểu số bị cô lập bởi khoảng cách địa lý hoặc thời gian (Moore & Kearsley, 2011). Về mặt quy định, các lớp học chính quy yêu cầu giảng viên phải dạy đủ số tiết trên lớp theo lịch học và yêu cầu sinh viên bắt buộc phải có mặt theo một số lượng thời gian nhất định. Trong khi đó, tại các trường đại học được chọn thực hiện nghiên cứu, phương pháp học đào tạo kết hợp đã được phổ biến rộng rãi. Các bối cảnh về quy định, điều lệ và tâm lý xã hội có thể ảnh hưởng tới thái độ và việc sử dụng hệ thống của sinh viên và giảng viên.
Nhận thấy sự cấp thiết và tính hữu ích của đề tài trong bối cảnh hiện tại, tác giả quyết định chọn đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng của phương thức đào tạo kết hợp tại một số Trường Đại học khu vực Hà Nội“ 1.2 Mục tiêu nghiên cứu Mặc dù nhiều nghiên cứu đã được thực hiện về phương pháp học tập trực tuyến, các nghiên cứu cụ thể về phương pháp đào tạo kết hợp vẫn còn khan hiếm (Arbaugh, 2014). Trong bối cảnh đặc thù của việc triển khai hệ thống đào tạo kết hợp tại các trường đại học Việt Nam, nghiên cứu được đặt ra nhằm đánh giá các nhân tố tác động đến chất lượng của mô hình đào tạo kết hợp tại trường Đại học Kinh tế Quốc dân và so sánh với một số trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội. Cụ thể, với các mục công việc sau: 4 Cơ sở lý luận về đào tạo kết hợp, hệ thống các nghiên cứu về đào tạo kết hợp. Khám phá, đo lường các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả áp dụng phương thức đào tạo kết hợp.