Tổng quan luận án

Tình trạng vi phạm an toàn giao thông đường bộ là một vấn đề xã hội nan giải mang tính toàn cầu. Theo báo cáo khảo sát toàn diện của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), mỗi năm trên thế giới có hơn 1,2 triệu người chết và 50 triệu người bị thương do tai nạn giao thông, tương đương trung bình khoảng 3.400 người tử vong mỗi ngày. Trong đó, các quốc gia có thu nhập trung bình chiếm 90% tổng số người tử vong vì giao thông đường bộ toàn cầu (với tỷ lệ tử vong cao gấp đôi so với các nước có thu nhập cao); nhóm đối tượng gồm người đi bộ, người đi xe đạp và người điều khiển xe mô tô chiếm một nửa số ca tử vong.

Tại Việt Nam, với quy mô dân số khoảng 95 triệu người, trung bình mỗi năm có hơn 10.000 người thiệt mạng vì tai nạn giao thông. Theo thống kê của Cục Cảnh sát giao thông, riêng năm 2017, toàn quốc đã xảy ra 19.798 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 8.089 người và làm bị thương hơn 16.000 người. Nhằm kiềm chế tình hình, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 18-CT/TW ngày 04/9/2012; Chính phủ ban hành Nghị quyết số 30/2013/NQ-CP ngày 01/3/2013; Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 12/CT-TTg ngày 23/6/2013; Bộ Giao thông Vận tải ban hành Quyết định số 620/QĐ-BGTVT ngày 14/3/2013. Mặc dù số vụ án xâm phạm an toàn giao thông đường bộ có xu hướng giảm nhưng tính chất nguy hiểm và mức độ thiệt hại lại gia tăng.

Về phương diện lập pháp, sau gần 15 năm thi hành Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1999, các quy định pháp luật đã bộc lộ nhiều bất cập trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền, bảo vệ quyền con người, cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế. BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung về nhóm tội phạm này nhưng vẫn còn tồn tại những hạn chế về kỹ thuật lập pháp, các dấu hiệu định tội, định khung hình phạt, tội ghép và khoảng cách giữa các khung hình phạt. Trong thực tiễn của Quân đội nhân dân Việt Nam, các vụ án hình sự liên quan đến an toàn giao thông đường bộ chiếm tỷ lệ cao, gây thiệt hại nghiêm trọng về người, tài sản, cũng như ảnh hưởng đến kỷ luật, uy tín của quân đội. Do đó, việc nghiên cứu chuyên sâu về nhóm tội danh này từ thực tiễn xét xử của hệ thống Tòa án quân sự (TAQS) là yêu cầu cấp thiết.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ theo pháp luật hình sự Việt Nam; đánh giá thực trạng, tìm ra những bất cập, hạn chế trong thực tiễn áp dụng pháp luật thông qua hoạt động xét xử của các TAQS ở Việt Nam; từ đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng.

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án gồm 5 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Làm sáng tỏ khái niệm, đặc trưng pháp lý của các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ; đặc điểm của các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ thuộc thẩm quyền xét xử của các TAQS; quá trình phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay quy định về nhóm tội phạm này.
  2. Phân tích các quy định của BLHS và các văn bản hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền nhằm làm sáng tỏ các dấu hiệu pháp lý của từng tội danh cụ thể xâm phạm an toàn giao thông đường bộ.
  3. Tổng quan kết quả xét xử các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ của các Tòa án quân sự ở Việt Nam; đánh giá về những bất cập, hạn chế trong thực tiễn áp dụng các quy định của BLHS hiện hành và chỉ ra nguyên nhân.
  4. Đánh giá về thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt đối với các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ từ thực tiễn xét xử của các TAQS ở Việt Nam.
  5. Đề xuất hệ thống kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật hiện hành và bảo đảm áp dụng đúng pháp luật về các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam và một số nước trên thế giới về các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ; các quan điểm khoa học pháp lý; thực tiễn áp dụng pháp luật và xét xử về nhóm tội danh này tại các TAQS ở Việt Nam.
  • Phạm vi nội dung: Luận án được tiếp cận dưới góc độ chuyên ngành Luật hình sự.
  • Phạm vi cấp xét xử: Nghiên cứu tập trung vào hai cấp xét xử hình sự là sơ thẩm và phúc thẩm.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập và xử lý số liệu xét xử trong khoảng thời gian 10 năm, từ năm 2008 đến năm 2017.
  • Phạm vi không gian: Thực hiện trên phạm vi hệ thống các Tòa án quân sự ở Việt Nam.
  • Phạm vi tội danh: Các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ quy định từ Điều 260 đến Điều 266, Chương XXI BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tương ứng với các điều từ Điều 202 đến Điều 207, Chương XIX BLHS năm 1999.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Ở nước ngoài, các công trình chủ yếu tập trung nghiên cứu dưới góc độ tội phạm học, xã hội học, dịch tễ học và phòng ngừa tai nạn giao thông:

  • Nghiên cứu thống kê của Spolander, K. (1994) tại Thụy Điển (Crime records of drunken drivers involved in traffic accidents) khảo sát hồ sơ của 30.000 lái xe liên quan đến tai nạn.
  • Bài viết của Bailey (1993) tại New Zealand (Criminal and traffic histories, blood alcohol and accident characteristics of drivers in fatal road accidents in New Zealand) phân tích đặc điểm nồng độ cồn và lịch sử vi phạm của lái xe gây tai nạn tử vong.
  • Báo cáo dự án của Trung tâm Nghiên cứu Tai nạn Đại học Monash (Australia) (The relationship between crime and road safety) nghiên cứu mối quan hệ giữa hành vi vi phạm giao thông và tiền sử tội phạm.
  • Palk, G. (2005) tại Úc (A comparative analysis of the nature and extent of traffic offences and their relationship to other non-traffic offences) phân tích so sánh giữa vi phạm giao thông và tội phi giao thông.
  • Tại Mỹ: Chương trình phân tích camera an toàn đèn đỏ của bang New Jersey (2013) và nghiên cứu của John Dunham and Associates (2012) về phân tích chi phí - lợi ích của camera giám sát giao thông đối với việc giảm thiểu tai nạn.
  • Tại Pháp: Laurent Etienne Blais (2003) với công trình Accident Analysis and prevention đánh giá chương trình camera giám sát tốc độ; công trình nghiên cứu liên ngành y học - xã hội học của tác giả H. (1971) (The Causes, Ecology and Prevention of Traffic Accidents).
  • Tại Châu Á: Gururaj, G. (Ấn Độ) nghiên cứu về tác hại của rượu bia đối với tai nạn giao thông Nam Á; S. Kumara (Đại học Southampton) và H. Chin (Đại học Quốc gia Singapore) công bố bài viết Study of Fatal Traffic Accidents in Asia Pacific Countries xây dựng mô hình phân tích tai nạn giao thông; nghiên cứu của Gérard Lautrédou (Road safety is no accident) về tình hình an toàn giao thông khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.

Tình hình nghiên cứu trong nước

Tại Việt Nam, các nghiên cứu đã tiếp cận vấn đề theo nhiều cấp độ:

  • Nhóm nghiên cứu lý luận chung về an toàn công cộng và trật tự công cộng: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm) của Học viện Khoa học xã hội do GS. Võ Khánh Vinh chủ biên (2014); Giáo trình của Đại học Luật Hà Nội do GS. Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên (2010, 2015); cùng các công trình của GS. Đỗ Ngọc Quang (2001, 2007), TS. Phạm Văn Beo (2010), TS. Cao Thị Oanh (2010).
  • Nhóm nghiên cứu về trật tự, an toàn giao thông: Sách chuyên khảo của TS. Phạm Minh Tuyên (2014) Các tội xâm phạm trật tự, an toàn giao thông đường bộ - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn xét xử ở Việt Nam.
  • Nhóm sách bình luận khoa học chuyên sâu: Các ấn phẩm của ThS. Đinh Văn Quế (2005), ThS. Hoàng Đình Ban (2008), TS. Trần Minh Hưởng (2002), TS. Nguyễn Đức Mai (2001), PGS.TS. Cao Thị Oanh và Lê Đăng Doanh (2015), PGS.TS. Trần Văn Luyện cùng các tác giả (2018).
  • Nhóm luận án, luận văn chuyên ngành: Luận án tiến sĩ của Bùi Kiến Quốc (2001) về phòng chống tội phạm giao thông tại Hà Nội; Luận văn thạc sĩ của Trần Văn Thảo (2013) tại Bình Phước; Luận văn thạc sĩ của Lê Ngọc Tuấn (2015) về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ tại các TAQS.
  • Nhóm bài báo khoa học chuyên đề: Các bài viết trên Tạp chí Tòa án nhân dân của GS. Võ Khánh Vinh (2003, 2014), ThS. Lê Văn Luật (2005), ThS. Huỳnh Quốc Hùng (2007), Phạm Thái Quý (2008), Đinh Văn Quế (2009), An Văn Khoái (2010), Trần Hữu Tráng (2012), Trình Minh Hùng (2013), Cao Việt Cường (2014), Bùi Huy Trung (2016).

Khoảng trống nghiên cứu của luận án

Các công trình trước đây đa phần nghiên cứu gộp chung nhóm tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ trong nhóm tội trật tự, an toàn giao thông hoặc an toàn công cộng, trật tự công cộng nói chung; hoặc chỉ nghiên cứu một tội danh đơn lẻ dưới góc độ tội phạm học. Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, độc lập và chuyên sâu nhóm các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ theo tinh thần của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) gắn liền với thẩm quyền và thực tiễn xét xử đặc thù của hệ thống Tòa án quân sự trong giai đoạn 10 năm (2008 - 2017).


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và khung khái niệm

Luận án dựa trên lý luận khoa học luật hình sự về tội phạm và cấu thành tội phạm theo Điều 8 BLHS Việt Nam, phân tích 4 yếu tố cấu thành: khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan (hình thức lỗi). Đồng thời, luận án sử dụng lý thuyết định tội danh, lý luận về quyết định hình phạt, các nguyên tắc tổ chức và thẩm quyền tài phán quân sự theo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân và Bộ luật Tố tụng hình sự.

Phương pháp luận

Phương pháp luận nghiên cứu của luận án là phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước về tư pháp hình sự, cải cách tư pháp và đấu tranh phòng chống tội phạm.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể

  • Phương pháp phân tích: Luận giải các vấn đề lý luận về cấu thành tội phạm, định tội danh, khung hình phạt và các yếu tố pháp lý đặc thù của nhóm tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ.
  • Phương pháp hệ thống: Sắp xếp, phân loại hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, học thuyết pháp lý và án văn theo trật tự logic phục vụ thiết kế bố cục nghiên cứu.
  • Phương pháp tổng hợp và thống kê: Thu thập, phân loại, tổng hợp số liệu thực tiễn xét xử các vụ án giao thông đường bộ tại các TAQS giai đoạn 2008 - 2017.
  • Phương pháp lịch sử: Nghiên cứu quá trình lập pháp hình sự Việt Nam qua các thời kỳ từ năm 1945 đến nay đối với nhóm tội giao thông đường bộ.
  • Phương pháp so sánh luật học: So sánh quy định qua các thời kỳ lập pháp (BLHS 1985, 1999, 2015/2017) và đối chiếu với pháp luật hình sự của một số quốc gia.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Dữ liệu sử dụng gồm các văn bản quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay; các văn kiện của Đảng và Nhà nước; số liệu thống kê của Cục Cảnh sát giao thông; số liệu thống kê xét xử, hồ sơ án sơ thẩm, phúc thẩm và báo cáo tổng kết công tác xét xử của các TAQS ở Việt Nam giai đoạn 2008 - 2017.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương này điểm luận có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến an toàn giao thông đường bộ, phân tích các nhóm tài liệu về lý luận an toàn công cộng, trật tự công cộng, và các công trình bình luận pháp luật hình sự. Tác giả đánh giá những thành tựu mà luận án kế thừa, đồng thời xác định rõ 4 nội dung trọng tâm cần tiếp tục giải quyết nhằm bổ khuyết khoảng trống học thuật về định tội danh và áp dụng hình phạt đối với nhóm tội này trong hệ thống TAQS.

Chương 2: Những vấn đề lý luận và pháp luật về các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ

Chương 2 tập trung phân tích bản chất pháp lý, các yếu tố cấu thành tội phạm và lịch sử lập pháp:

+-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------+
|                                    CẤU THÀNH PHÁP LÝ NHÓM TỘI XÂM PHẠM ATGT ĐƯỜNG BỘ                                  |
+-----------------------------------+-----------------------------------------------------------------------------------+
| Yếu tố                            | Nội dung pháp lý cụ thể theo BLHS                                                 |
+-----------------------------------+-----------------------------------------------------------------------------------+
| Khách thể                         | - An toàn hoạt động giao thông vận tải đường bộ.                                  |
|                                   | - Tính mạng, sức khỏe, tài sản của công dân, Nhà nước, Quân đội.                  |
+-----------------------------------+-----------------------------------------------------------------------------------+
| Mặt khách quan                    | - Hành vi hành động (vi phạm quy tắc giao thông, cản trở, tổ chức đua xe...).     |
|                                   | - Hành vi không hành động (không cứu giúp, không chấp hành hiệu lệnh...).          |
|                                   | - Hậu quả: Tổn thương cơ thể >= 61% hoặc tài sản >= 100 triệu đồng.               |
|                                   | - Mối quan hệ nhân quả tất yếu giữa hành vi và hậu quả thiệt hại.                 |
+-----------------------------------+-----------------------------------------------------------------------------------+
| Mặt chủ quan                      | - Lỗi vô ý do quá tự tin hoặc lỗi vô ý do cẩu thả (riêng tổ chức/đua xe là cố ý). |
|                                   | - Không bắt buộc dấu hiệu động cơ, mục đích phạm tội.                             |
+-----------------------------------+-----------------------------------------------------------------------------------+
| Chủ thể                           | - Người từ đủ 16 tuổi trở lên (từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi đối với Điều 265, 266).  |
|                                   | - Người có năng lực trách nhiệm hình sự (áp dụng cả Điều 13 về say rượu bia).    |
+-----------------------------------+-----------------------------------------------------------------------------------+

Đặc thù thuộc thẩm quyền xét xử của các Tòa án quân sự

Hệ thống Tòa án quân sự gồm 3 cấp: TAQS Trung ương, TAQS cấp Quân khu và tương đương, TAQS cấp Khu vực (Điều 50 Luật Tổ chức TAND). Thẩm quyền xét xử các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ mang tính đặc thù:

  • Về chủ thể: Bị cáo là quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra sẵn sàng chiến đấu; dân quân tự vệ phối thuộc; công dân được trưng tập vào phục vụ quân đội.
  • Về khách thể bị xâm phạm: Vụ án do người ngoài quân đội thực hiện nhưng gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự của quân nhân/công nhân viên quốc phòng hoặc tài sản, uy tín của Quân đội nhân dân; hoặc tội phạm xảy ra trong doanh trại, khu vực quân sự do quân đội quản lý, địa bàn thiết quân luật.

Lịch sử phát triển lập pháp hình sự Việt Nam

Tiến trình quy định các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ qua các thời kỳ:

Giai đoạn lịch sử Văn bản quy phạm tiêu biểu Nội dung và đặc điểm lập pháp
1945 - trước 1985 - Luật đi đường bộ 1955 (NĐ 348/NĐ)
- Thông tư 442/TTg (19/01/1955)
- Thông tư 556-TTg (29/6/1955)
- Công văn 949/NCPL (25/11/1968)
- Sắc luật số 03-SL/76 (15/3/1976)
Chưa tách thành tội danh độc lập trong Bộ luật; văn bản chủ yếu xử lý hành vi lái xe gây chết/bị thương. Thông tư 556 bổ sung mức án tù chung thân/tử hình cho tai nạn lớn. Công văn 949 định hình đường lối xét xử lỗi khinh xuất thời chiến. Sắc luật 03-SL/76 quy định tại Điều 9 khung hình phạt từ 3 tháng đến 15 năm tù.
BLHS năm 1985 - Điều 186: Tội vi phạm quy định về an toàn GTVT
- Điều 187: Tội cản trở GTVT
- Điều 188: Tội đưa vào sử dụng phương tiện không an toàn hoặc điều động người không đủ điều kiện
Lần đầu pháp điển hóa thành các tội phạm cụ thể. Bất cập: Gom chung 4 loại hình giao thông (đường bộ, sắt, thủy, không) vào cùng điều luật; ghép 2 hành vi độc lập vào Điều 188; chưa định lượng tỷ lệ thương tật.
BLHS năm 1999 - Chương XIX (Điều 202 đến Điều 207) Tách riêng nhóm tội danh an toàn giao thông đường bộ độc lập khỏi các loại hình giao thông khác.
BLHS năm 2015 (sửa đổi 2017) - Chương XXI (Điều 260 đến Điều 266) Sửa đổi dấu hiệu cấu thành tội phạm, định lượng cụ thể tỷ lệ tổn thương cơ thể (từ 61% trở lên) và giá trị tài sản thiệt hại (từ 100 triệu đồng trở lên); sửa đổi tên gọi hành vi "tham gia giao thông đường bộ".

Chương này cũng phân tích pháp luật hình sự của một số quốc gia trên thế giới nhằm rút ra kinh nghiệm so sánh.

Chương 3: Thực tiễn áp dụng quy định của Bộ luật hình sự hiện hành về các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ tại các Tòa án quân sự ở Việt Nam

Nội dung chương 3 đi sâu tổng kết thực tiễn áp dụng pháp luật tại các TAQS giai đoạn 2008 - 2017:

  • Tổng quan kết quả xét xử: Thống kê số lượng vụ án, bị cáo, cơ cấu tội danh, tỷ lệ các loại hình phạt được áp dụng tại các cấp TAQS.
  • Những hạn chế, sai lầm trong thực tiễn: Phân tích các sai sót cụ thể trong quá trình định tội danh (nhầm lẫn giữa các tội danh liên quan, xác định sai yếu tố lỗi vô ý/cố ý, đánh giá không đúng mối quan hệ nhân quả); vướng mắc khi áp dụng tình tiết định khung tăng nặng; sai lầm trong việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và quyết định mức hình phạt chưa tương xứng với tính chất nguy hiểm của hành vi.
  • Nguyên nhân của hạn chế, sai lầm: Chỉ ra các nguyên nhân từ phía quy định pháp luật (kỹ thuật lập pháp chưa chuẩn xác, thiếu hướng dẫn áp dụng đồng bộ, chậm ban hành văn bản giải thích), nguyên nhân từ năng lực, nhận thức của người tiến hành tố tụng và công tác phối hợp giám định kỹ thuật, thiệt hại.

Chương 4: Các yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng đúng pháp luật về các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ

Chương 4 xác định các định hướng và nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả xét xử:

  • Các yêu cầu bảo đảm áp dụng đúng pháp luật: Tuân thủ nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tính công minh, có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và nâng cao kỷ luật quân đội.
  • Các giải pháp cụ thể:
    1. Hoàn thiện quy định pháp luật hình sự: Kiến nghị sửa đổi, bổ sung các điều luật từ Điều 260 đến Điều 266 BLHS năm 2015; chuẩn hóa các yếu tố định tội, định khung; xử lý bất cập giữa phần chung và phần các tội phạm.
    2. Ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng: Đề xuất Hội đồng Thẩm phán TANDTC sớm ban hành Nghị quyết hướng dẫn áp dụng thống nhất các tình tiết định lượng thiệt hại, xác định lỗi hỗn hợp, trách nhiệm bồi thường dân sự trong vụ án giao thông.
    3. Nâng cao năng lực xét xử của hệ thống TAQS: Tăng cường đào tạo, tập huấn nghiệp vụ định tội danh và quyết định hình phạt cho Thẩm phán, Hội thẩm quân nhân; hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa cơ quan điều tra, viện kiểm sát và tòa án quân sự.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về khoa học và lý luận

  • Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống đầu tiên về các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ dưới góc độ luật hình sự gắn liền với thẩm quyền xét xử của hệ thống Tòa án quân sự Việt Nam trong bối cảnh thi hành BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Tiếp cận nghiên cứu liên ngành đa chiều: kết hợp khoa học luật hình sự với triết học pháp luật, xã hội học pháp luật và tâm lý học pháp luật để giải quyết các vấn đề lý luận về lỗi, hành vi nguy hiểm và trách nhiệm hình sự.
  • Phân định ranh giới lý luận rõ ràng giữa nhóm tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ với các tội phạm xâm phạm trật tự công cộng hoặc các loại hình an toàn giao thông khác; làm rõ bản chất đặc thù về chủ thể và khách thể trong các vụ án thuộc thẩm quyền tài phán quân sự.

Đóng góp mới về thực tiễn và giải pháp

  • Đánh giá bức tranh toàn diện thực trạng xét xử các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ của các TAQS trong giai đoạn 10 năm (2008 - 2017), chỉ rõ các sai lầm, vướng mắc điển hình trong định tội và lượng hình.
  • Xây dựng hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động xét xử của Thẩm phán, Hội đồng xét xử tại các Tòa án quân sự, phục vụ trực tiếp công tác cải cách tư pháp trong Quân đội.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi khảo sát số liệu thực tiễn trong mốc thời gian 10 năm (2008 - 2017) tại các Tòa án quân sự, do đó các số liệu xét xử sau năm 2017 theo thực tế áp dụng toàn diện BLHS năm 2015 sửa đổi chưa được cập nhật đầy đủ trong công trình này.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh thực tiễn xét xử giữa hệ thống Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự; tiếp tục theo dõi, đánh giá hiệu quả áp dụng các quy định mới của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) trong giai đoạn thi hành dài hạn.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo thiết thực đối với nhiều đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên luật: Cung cấp nguồn tư liệu học thuật hệ thống về lịch sử lập pháp và lý luận định tội danh đối với nhóm tội giao thông đường bộ.
  • Cơ quan lập pháp và cơ quan hướng dẫn áp dụng pháp luật: Cung cấp luận cứ thực tiễn để sửa đổi, bổ sung BLHS và ban hành Nghị quyết hướng dẫn thi hành của Hội đồng Thẩm phán TANDTC.
  • Thẩm phán, Hội thẩm quân nhân, Kiểm sát viên, Điều tra viên trong Quân đội: Là tài liệu nghiệp vụ tham khảo trực tiếp giúp nhận diện các lỗi sai phổ biến, nâng cao độ chính xác khi định tội danh và quyết định hình phạt trong các vụ án giao thông.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án nghiên cứu nhóm tội danh nào trong Bộ luật Hình sự hiện hành?

Luận án tập trung nghiên cứu 7 tội danh xâm phạm an toàn giao thông đường bộ quy định từ Điều 260 đến Điều 266 Chương XXI BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), bao gồm:

  • Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Điều 260);
  • Tội cản trở giao thông đường bộ (Điều 261);
  • Tội đưa vào sử dụng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, xe máy chuyên dùng không bảo đảm an toàn (Điều 262);
  • Tội điều động người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ (Điều 263);
  • Tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ (Điều 264);
  • Tội tổ chức đua xe trái phép (Điều 265);
  • Tội đua xe trái phép (Điều 266).

2. Tòa án quân sự có thẩm quyền xét xử đối với những vụ án vi phạm an toàn giao thông nào?

Theo quy định pháp luật và phân tích trong luận án, TAQS có thẩm quyền xét xử:

  • Vụ án mà bị cáo là quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian huấn luyện/sẵn sàng chiến đấu, dân quân tự vệ phối thuộc hoặc người được điều động phục vụ trong quân đội.
  • Vụ án mà bị cáo là người ngoài quân đội nhưng hành vi phạm tội gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự của quân nhân/công nhân viên quốc phòng hoặc gây thiệt hại tài sản, uy tín của Quân đội, hoặc hành vi xảy ra trong doanh trại, khu vực quân sự do quân đội quản lý, bảo vệ.

3. Dấu hiệu định lượng thiệt hại cơ bản để truy cứu trách nhiệm hình sự theo BLHS 2015 đối với tội vi phạm tham gia giao thông đường bộ là gì?

Hành vi vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ cấu thành tội phạm theo Khoản 1 Điều 260 BLHS khi gây ra thiệt hại: làm chết người; gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho 1 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên; gây tổn hại sức khỏe cho 2 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% đến 121%; hoặc gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

4. Quy định về tội phạm an toàn giao thông trong BLHS 1985 có những điểm hạn chế lớn nào?

BLHS năm 1985 quy định các tội danh tại Điều 186, 187, 188 có 3 hạn chế căn bản:

  • Gộp chung 4 loại hình giao thông (đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không) vào cùng một tội danh, trong khi tính chất nguy hiểm của mỗi loại hình rất khác nhau.
  • Ghép hai hành vi phạm tội độc lập vào cùng một điều luật (hành vi đưa phương tiện không bảo đảm an toàn vào sử dụng và hành vi điều động người không đủ điều kiện tại Điều 188).
  • Không định lượng cụ thể tỷ lệ phần trăm thương tật đối với sức khỏe của nạn nhân mà chỉ dùng cụm từ chung chung "gây thiệt hại đến sức khoẻ".

Kết luận

Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Hoàng Đạt Nam là công trình nghiên cứu chuyên sâu về các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ theo pháp luật hình sự Việt Nam từ góc độ thực tiễn xét xử của các Tòa án quân sự giai đoạn 2008 - 2017. Tác giả đã hệ thống hóa lịch sử lập pháp từ năm 1945, làm rõ các yếu tố cấu thành pháp lý và đặc thù thẩm quyền tài phán quân sự. Các kết quả nghiên cứu và đề xuất trong luận án đóng góp cơ sở lý luận, thực tiễn quan trọng cho việc hoàn thiện pháp luật hình sự và nâng cao chất lượng xét xử của hệ thống Tòa án quân sự trong giai đoạn cải cách tư pháp.