CHƯƠNG 1: ĐẶC DIEM SỰ HÌNH THÀNH BỤI VÀ BIEN PHAP XỬ LÝ TRONG QUÁ TRÌNH THỊ CÔNG. Đặc điểm về đào đường him bằng phương pháp khoan ~ nỗ mi 1. Các phương pháp xây dựng đường him 1. Định nghĩa đường ham: Đường ham là kết cấu công trình ngằm, phục vụ những mục đích như bảo.
‘dam vận chuyển trực tiếp hành khách hoặc hàng hóa vượt qua những trở ngại sẵn có; lim đường sit, đường xe cơ giới, đường đi bộ, hoặc đường thủy, đường chuyển nước, đường chứa cáp điện, đường đặt ống khí đốt, đường tiêu nước v. hoặc để tạo ra vận chuyển bên trong các nha máy công nghiệp; được xây dựng bằng những phương pháp thi công công trình ngầm không làm xáo trộn mặt đất. Phân loại đường ham. - Dựa theo mục đích đường him được chia làm 2 nhóm chính: + Nhóm đường hầm giao thông: > Đường him cho đường sắt; >_ Đường him cho xe cơ giới: v Đường him cho người đi bộ; > Đường him cho vận tải thủy; > Đường him cho xe điện ngầm.
- Dựa trên vị trí xây đựng đường him được chia làm 3 loại chính + Đường him qua đắt mềm: Đây là loại đường him đặt nông, dùng vào. mục đích đường xe điện ngằm, hệ thống cổng nước va đường tiêu nước. Do đất là kết trong khi đào phải chống đờ nên phải dùng khiên để phục vụ cho đảo, him không cho đất trin vào khối đảo; Trong trưởng hợp qua đô thị còn được ding phương pháp đảo hở rồi lắp lại (Cut and Cover Tunnel Structures), + Đường him qua đá: Đường him này thường được dùng cho đường sắt hoặc đường cho xe cơ giới xuyên qua núi. Nhiễu năm trước đây buộc phải ding thuốc nổ để phá đá trong lòng núi (phương pháp nỗ min).
Ngày nay dựa vào những thiết bị nghién đá không 16 gọi là máy đào him (Tunnel Boring Machine) để dio him, + Đường him dưới nước: Phương pháp này là một kỳ sảo đặc biệt để tiến hành thi công trong nước. Trước đây người ta dùng phương pháp đảo trong những khoang bịt kín (thủng chim) cổ áp lực để ngăn cách nước ở ngoài không cho vào được, Ngày nay đường him được chế tạo sẵn trên bờ từng đoạn rồi đưa đến vị tri him, được đánh chim vào hào đã dio sẵn ở day sông hoặc ở vịnh, sau 46 ghép lại, bịt kin, bơm nước ra (Immersed tube Tunnels). Phương pháp đào him bằng khoan nỗ. Đặc điểm công tác nổ trong đào him “Công tác này đã được sử dung tử thời cỗ xưa.
Hiện nay phương pháp này vẫn ding rộng rai để dio dất, đã cứng với mặt cắt him có hình dạng bit kỳ và ích thước to nhỏ khác nhau. Trường hợp đảo him có mặt cắt không tròn hoặc có mặt cắt tròn nhưng chiều dài him quá ngắn, hoặc khi gặp phải cấu trúc địa chất nút né nhiều, có đứt gãy hoặc do những điều kiện cụ thể khác như mặt cắt gồm nhiều lớp địa chất khác nhau, đá vò nát, hoặc đá quá cứng (k > 9) thì phương pháp nổ min wu việt hon hẳn so với máy đào TBM. Phương pháp nổ min dé thi công các công trình thuỷ lợi là phương pháp. thi công tiên tiến, có thể tăng nhanh được tốc độ thi công, giảm nhẹ, tiết kiệm sức lao động, giảm bớt việc sử dụng máy móc, thiết bị, công cụ để thi công.
+ Ui điểm: - Hoàn thành được công việc nhanh chóng bắt kỹ loại đắt đá nào, ~ Ít bị ảnh hưởng bởi điều kiện khí hậu, thời tiết nên có thể tiến thành trong bắt kỳ thời gian nào. Nhược điểm: ~ Đòi hỏi thợ có chuyên môn tay nại ~ Công tắc an toàn phức tap.2, Tác dụng các loại lỗ min và mang gây nổ trong đào ham. - Lỗ min tạo rãnh : bổ trí giữa gương him nhằm tạo mặt thoáng để hiệu qui nỗ cao. Có nhiều cách bé trí tủy thuộc hướng tạo mặt thoáng min phá: bối tên toàn bộ gương him nhằm phá đá.
= Lỗ min sửa hoặc lỗ min viễn, bổ trí ở chu vi gương him để đảm bảo hình đáng đường viền gương him phù hợp thiết Sử dụng phương pháp nỗ min vỉ sai để dio hằm. Hình 1-3: Cúc dạng lỗ min của nỗ min lỗ nông 3| FEY] | EF po ky Hình 1-4: Các dạng bổ trí lỗ min tao rãnh: C6 2 dạng sơ đồ mạng nỗ: min vi (khi đá quá nỗ min viễn trước 1 nỗ mình rãnh- ni in phá cuối cùng. = Nếu bé trí nỗ min sửa (khi đá cứng, it niet nẻ): nỗ min rãnh trước tiên ~ nỗ min phá- nỗ min sửa cuối cùng 1. NỔ min ví sai trong đảo 1N6 min vi sai là quá trình nỗ giữa các khối thuốc liên tiếp nhau cách nhau.
1 khoảng thời gian nhất định (tinh bing ms) bảo đảm hiệu quả nổ theo yêu cầu xong không gây phá hoại lớp đắt đã xung quanh him. “Trình tự nỗ như sau: — inn líla 2,050) [Fx tin_—— ‘nova invite MS \ 2 2 3 Ỉ ——— L—- > Hie 1-5: Nb min visa Cug độ cực đại của dao động không vượt quả một cắp vi sai. Vận tốc do sóng nô min gây ra v phải nhỏ hơn vận tốc lay động hòn đá Trong đó: Quy: là lượng thuốc nỗ lớn nhất ứng với T ip vi sai (ke) 1 là khoảng cách từ phần từ đắt đá đến lỗ min (m) k: là hệ số phụ thuộc vào điều kiện dat đá. + Dit đá it nứt né: k= 100 ~ 200.
+ Đá rời bão hòa nước: k= 450 ~ 600 a: là hệ số phụ thuộc vào khoảng cách r + Gin điểm nỗ r< 100 thì a=2,5 + Xãđiểm nỗ r > 100 thì a= 1,5 IV] tốc độ lay động hòn đá + Đá nứt né: [v] = 20 emis + Đá Ít nứt nẻ:[v]= 50 emis + Đá tốt [v] = 100 emis Khi hệ thống có nhiều mạng nổ thi có nỗ don và nỗ kép, va giá tri [v] thay. đối theo cá +Gạch: _ Iv]=l4ems=nôđơn IY]=3 cm/s — nổ kếp + Bê tông: [v] = 130 em/s~né don [v] = 50 emis ~ nỗ kép 1. Công tác xúc: 0 Tuy theo kích thước gương ao, dùng các loại thiết bj sau đây: 1, Gương đào nhỏ: Ding xe going nhỏ chạy trên đường ray và đất đá được xúc bởi máy xúc kích thước nhỏ cũng chạy trên đường ray, có loại xúc thẳng đất đã vào toa xe (hit qua thân máy), có loại xúc vào băng tải để truyền đến toa xe, Lo thiết bị này hệ số dy gu rất thấp (35-04), nên năng suất kĩ thuật chi bằng 50% năng suất lí huyết. Năng suất thực tế với năng suất kĩ thuật, n thực tế = n kỹ thuật x K thời gian K thời gia tof ty + Dt) tụ- thời gian xúc thuần tuý cho một toa xe.
St; - tổng tiêu hao thời gian cho việc di chuyển toa xe vào và ra, di chuyển đầu máy kéo, kể cả thời gian tiến lai của máy xúc. Nhu vậy năng suất thực tế của loại máy trên không vượt quá 40% năng suất ghi trong lý lịch của máy. Sau này đã cải tiến loại máy di chuyển trên xích, có thể xúc đưa vào băng tải hoặc xúc cho cả xe tự đổ, năng suất lý thuyết 180 mÌ/gið, năng suất thực tế 40 m”/giờ (loại chạy trên đường ray năng suất thực tế khoảng 6-9 m`/giờ). Đường ham có tiết điện quá nhỏ phải thi công bằng thủ.
Gương đào lớn (kích thước lớn hơn 6x6.5m), thường dùng máy xúc gầu ngửa và xe tự đổ. Năng suất lý thuyết gàu ngửa tới 90m gi, làm vi trong ương đào có diện tích 40m’, D = 7m; loại lớn hơn có năng suất lý thuyết 180m giờ, làm việc trong gương đào có đường kính D = 10m. Công tắc vận chuyển đá: 1, Xe chạy trên đường ray (có đầu máy kéo), Trong những đường him có tiết điện nhỏ và trung bình (nhỏ hơn 6x6,5 m), máy đào giu xúc không thé làm việc được, do vậy việc vận chuyển đá ra bãi thải và vận chu) n vật liệu, kết cầu vào gương đảo, thưởng do các xe godng loại nhỏ, có đầu máy kéo bằng điện thực hiện, ứng với độ dốc tới 30%. Đường ray với các loại bánh xe 600, 700, và 900 mm; khi đường him có vỏ với chiều rộng lớn hơn 3,5 m có thé làm đường đôi.
“Trong các đường him hẹp có một đường ray, để các đoàn tau có thể tránh nhau được, thì cứ mỗi khoảng cách nhất định (300-400 m) lại có một chỗ mở. rộng ra để chứa các toa xe. Khoảng trồng giữa các toa xe và đầu máy tránh nhau ở giữa 2 đường không nên nhỏ hơn 0,2 m. "Để chuyển các toa xe và các đầu máy tir đường này sang đường kia, người ta phải làm đường rẽ cùng với thiết bị bé ghỉ.
Năng suất của máy xúc đá phụ thuộc vào tốc độ chất tai vào vào toa xe. Vì thé trong công tác tổ chức don đá phải đặc biệt chú ý đến khâu này. Việc kéo dài thêm đường ray ở ngay tại gương đảo để máy xúc có thể di chuyển qua lại và các toa xe vào sát tới lận gương đào được thực hiện bằng các đoạn ray cứng, di chuyển được, dai 5 m, được đặt trên các tà vet kim loại. Khi xúc đá trực tiếp vào toa xe thì yêu cầu đầu tiên là các toa xe phải đưa sát vio máy xúc, và sau khi diy tải thì phải nhanh chóng chuyển đi nơi khác.
Để thực hiện việc này phải dùng các thiết bị khác nhau. Đối với đường đôi áp dung các nhánh cắt nhau 1 và 2 (Hình 1-7), được hàn trên các tắm thép có thể đi chuyển được. Thiết bị này đảm. bảo cho cả 2 máy xúc số 3 làm việc.
Đầu máy kéo choy điện số 8 luôn đứng trong khoang đảo, đấy những toa không tải 4, 5 đang đứng trên đường bên phải theo đường nhánh 1 tiến sit may xúc. Đầu máy kéo chạy điện số 2 kéo những toa đầy tải số 6 thành một đoàn tàu chạy ra ngoài đường him theo đường bên. Theo đường bên phải số 1 đoàn tàu không tải tiến đến, đầu máy kéo của đoàn tàu đó chuyển sang đường bên trái, đầu máy kéo 8 nhờ đường nhánh 2 trở. thành đuôi của các toa xe không tai, tiếp tục đẩy những toa không tải vào sát máy xúc.
“Trong những đường him tiết diện nhỏ, chỉ có một máy xúc hoạt động thì việc chuyển chỗ của toa xe không tải và có tải được thực hiện nhờ một đường rễ, lip tấp trên một tắm thép di chuyển được (nếu chiều rộng đường him cho phép). Trường hợp chiều rộng đường him quá hẹp thì việc đổi chỗ cho các toa xe sẽ tiến hành bằng hằm nhánh H (Hình 1-8).