CHƯƠNG I: HIEN TRẠNG KHU VỰC ĐN01 - QĐTS 1. Điều kiện tự nhiên QĐTS của Việt Nam nằm về phía Nam Biên Đông, ở trong khoảng từ 6°30’ đến 12°00 độ vĩ Bắc, 111900 đến 117920? độ kinh Đông, cách vịnh Cam Ranh (Khánh Hòa) khoảng 248 hải lý và cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) gần 600 hải lý. Đây là quần thê gồm hơn 100 đảo, bãi ngầm, bãi san hô, trải rộng trên vùng biển khoảng 180.000 km? và án ngữ vùng biển rộng phía Đông Nam nước ta. Căn cứ vào vị trí và khoảng cách giữa các đảo, QDTS được chia thành tam cum: Song Tử, Thi Tứ, Loại Ta, Nam Yết, Sinh Tôn, TS, Thám Hiểm và Bình Nguyên.
Nhìn chung, các đảo thuộc QDTS có diện tích nhỏ (khoảng vài chục héc-ta trở xuống); trong đó, Ba Bình là đảo rộng nhất, có điện tích khoảng 0,6 km”. Về độ cao của các đảo (so với mặt nước biển trung bình) khoảng từ 3 m - 5 m; cao nhất là đảo Song Tử Tây, khoảng từ 4 m - 6 m (lúc thủy triều xuống). Tổng diện tích phần nổi của tất cả các đảo, đá, cồn, bãi ở QDTS chỉ khoảng 3km2 nhỏ hơn tổng diện tích của quan đảo Hoàng Sa (10km?) nhưng lại trải ra trên một vùng biển rộng gấp hơn nhiều lần quan đảo Hoàng Sa. TAUNG QUỐC Hình 1.
1 Ban đồ Việt Nam (bên trai) và QDTS (bên phải) 1. Đặc điểm địa hình địa chat 1. Địa hình QĐTS là một vỉ lục địa bị nhận chìm vào đầu đại Kainozoi do tách giãn lục địa Đông Nam Á, xoay chuyén va truot dan vé phia tay nam. Thêm lục dia TS là một dai địa hình tương đối hẹp, kéo dài tự nhiên của các đảo từ độ sâu 0-200 m quanh đảo, sâu từ 60 đến 80 m.
Thanh phan cấu tạo dai này thường là các mảnh vụn san hô, chủ yếu là hạt thô. Trong khi đó, sườn lục địa TS là một dải bao quanh thêm lục địa, kéo dài từ mép thêm lục địa đến độ sâu 2. Thành phần cấu tạo chủ yếu là từ đá gốc. Các bãi ngầm có bề mặt sườn là các bề mặt đồ dốc từ độ sâu 170 đến 1.
Sườn của các rạn đá ngầm như đá Tây, Vành Khăn, Phan Vinh có sườn dốc gần như thăng đứng. Cả quần đảo bị chia cắt bởi các hệ thống đứt gãy có phương đông bắc - tây nam và tây bắc - đông nam, gồm ba nhóm chính là nhóm đứt gãy đông bắc - tây nam (nổi bật nhất), nhóm đứt gãy tây bắc - đông nam và nhóm đứt gãy hướng kinh tuyến - á vĩ tuyến (lệch so với vĩ tuyến). Ba nhóm này chia QDTS thành ba cum đảo có quy mô khác nhau: - Cụm thứ nhất: tập hợp các thực thé ở phía bắc TS với mật độ phân bé dày và đồng đều, như cặp đảo Song Tử, bãi Dinh Ba, đảo Thi Tứ, Loại Ta, đá Cá Nham, dao Ba Bình, ĐN01, Nam Yết, Sinh Tén và đá Lớn. - Cum thứ hai: tập hợp các thực thé ở phía đông và đông nam TS với mật độ phân bố thưa và đều, như đảo Bình Nguyên, Vĩnh Viễn, đá Vành Khăn, bãi Cỏ Mây, bãi Suối Ngà, đá Suối Ngọc, đá Núi Le, Tốc Tan, Phan Vinh, đá Tiên Nữ và đá Công Đo.
* Cụm thứ ba: tập hợp các thực thể ở phía nam và tây nam, phân bố rời rac va rat không đồng đều về mặt kích thước, như đá Lát, đảo TS, đá Tây, đá Đông, đá Châu Viên, đá Chữ Thập, đảo An Bang, đá Thuyền Chài, đá Kỳ Vân, bãi Kiêu Ngựa và bãi Thám Hiểm. Các nhà khoa học Việt Nam đã nghiên cứu một số đảo như Nam Yét, Song Tử Tây, TS và phân chia địa hình tại đây thành ba mực địa hình theo độ cao, gồm 0,5-1,5 m; 2,0-3,5 m và 4,5—6 m, trong đó mực địa hình 4,5—6 m chỉ có ở phía tây dao Song Tử Tây (cao nhất quần đảo). * Dao ĐN0OI Đảo ĐN0I cũng có phần nổi và phan chim. Phần nồi có hình quả đậu.
Theo sé tay chiến sĩ đảo TS và DKI thi đảo DNO1 có chiều dai khoảng 450 m, rộng chừng 130 m, qua thực tế đo đạc được, đảo có chiều đài đạt tới 555 m và chiều rộng chỉ 98 m ở chỗ rộng nhất (theo trắc địa). Độ cao của đảo theo số tay chiến sĩ đảo TS và DKI thì đạt tới 3,5 - 3,8 m lúc triều thấp nhất, nếu so với triều trung bình thì đạt tới 2,5 - 2,8 m. Phan chìm là vành san hô ngầm bao quanh phía Nam ngoài, hình thù dài hình quả đậu và chỗ rộng nhất từ mép đảo nổi ra mép dao chìm là ở đầu mút TB của đảo, có thé đạt trên 1000 m, còn thường rộng từ 300 - 600 m. Phần đảo chìm lúc triều rút xuống mức thấp nhất được lộ ra cao từ 0,2 - 0,6 m.
Địa chất Chất đất trên các đảo chủ yếu là cát san hô, có lẫn các lớp phân chim và mùn cây, dày khoảng 5 - 10 cm. Trên một số đảo có một số túi nước ngọt ngầm ở tang nông, hình thành khi nước mưa ngắm xuống. Tuy nhiên, trữ lượng và chất lượng loại nước này thay đổi theo không gian - thời gian và bị lẫn tạp chất ở tầng đất mặt cũng như lẫn nước biển; tính kiềm yếu là đặc trưng của nguồn nước này. Ngoài ra, diện tích các đảo cũng thay đổi tuỳ theo mùa; vào mùa đông diện tích giảm va tăng vào mùa hè.
Sự sống còn của đảo lệ thuộc vào sự phát triển của san hô; nếu san hô chết sẽ khiến đảo dễ bị sóng và gió bão bảo trụi. Ở đảo DNO1 nếu làm mặt cắt từ mép ngoài của phần đảo chìm đến hết phan đảo nổi, thì có thể thấy rõ như sau: Phần đảo chìm là nền san hô sống và chết, chủ yếu là san hô cành bị dẫm đạp gãy đi nhiều, nhiều nơi "phăng lì" như "sân bóng". Cùng với san hô cảnh có san hô cầu, san hô khối, san hô tán. Cũng như đảo Nam Yết, ở đây rất phong phú các loại sò ốc.
Trên các phần thấp, ranh thấp của phần đảo chìm có rất nhiều cát san hô và vụn sò ốc tram tích. Gần đảo nổi chủ yếu san hô chết, càng ra xa tỷ lệ san hô sống nhiều hơn, nhưng do dẫm đạp san hô chết cũng rất nhiều. Đó cũng là lý do để các xác san hô được sóng 6 tích tụ lại thành bãi xác san hô nổi lên lúc triều rút ở trên vành đai san hô ngầm. Ở phan đảo nổi cau tạo của đảo ĐN0I rất giống với đảo Nam Yết.
Xung quanh đảo nổi ở phần tiếp xúc với đảo chìm, đặc biệt là dọc theo suốt bờ Đông Bắc của đảo lộ ra các lớp cat san két ma nguyên liệu là các vụn cat sạn san hô, các mảnh vụn vỏ so ốc vỡ được gắn kết lại khá rắn chắc, có thế nằm nghiêng 100 đồ về phía Đông Bắc. Thế nằm này phản ánh các lớp trầm tích bãi biển có sóng. Phần trên của đảo nổi ĐN01 là tram tích cát hạt thô bở rời, kích thước hạt trung bình từ 0,1 - 1 mm, mịn hơn so với Nam Yết (ở Nam Yết kích thước hat từ 0,5 - 3 mm). Cát thô này phân bố khắp bề mặt của đảo và qua công trình khai đào làm nhà 2 tầng có chiều dày 3 - 3,5 m thì gặp nền san hô cứng.
Một nét đặc biệt là ở đây chưa phát hiện được tang phân chim. Có thé cũng có ở trên mặt như ở Nam Yết, nhưng do con người làm xáo trộn nhiêu lần nên không còn tôn tại rõ. Do câu tạo đã nêu ở trên và dao qua bé nhỏ nên cũng như đảo Nam Yêt, ở đây không có nước ngọt. Nước mưa thâm xuông gặp phải tang cát sạn kết ran chắc chúng chảy thâm ra biên.
Lớp cát bở rời ở trên quá mỏng không lưu giữ được nước ngọt, nước ngọt ở trên mặt chỉ đủ cho một số cây sinh sống. Vật liệu Trầm tích hiện đại tầng mặt đảo chủ yếu là các trầm tích hạt thô có cấp hạt > 0,5 mm, chiếm phần lớn diện tích đảo nồi. Trầm tích hiện đại tầng mặt đảo được chia thành 5 loại bao gồm cuội, sạn, sạn cát, cát thô, cát trung (ĐT TS02,1997). Nguồn vật liệu ở đây chủ yếu là nguồn vật liệu được cung cấp tại chỗ.
Các sản phẩm này do tác động của các quá trình phong hóa vật lý, quá trình phá hủy của sóng trên thềm bờ ngầm, rồi được dòng chảy dọc bờ, dòng triều đưa lên bồi tụ và lắng đọng. Đặc biệt, hướng di chuyên của dòng bồi tích phụ thuộc chặt chẽ vào chế độ dòng chảy trong mùa đông và mùa hè. Quanh dao, các bãi bôi tụ phía Tây Bắc và Đông Nam thé hiện rõ vai trò của dòng ven bờ mà chủ yếu là dòng của sóng hướng Đông Bắc và Tây Nam. Các bãi bồi tụ theo cơ chế lắng đọng tại chỗ mang tính tạm thời về hình thái và vị trí.
Vật liệu được sinh ra tại chỗ nên trữ lượng là có giới hạn. Vật liệu trầm tích di chuyên theo dòng chảy, gần như vòng theo đường bờ đảo ở hai mặt Đông Bắc và Tây Nam. Chính vì vậy, việc chặn dòng chảy, giữ vật liệu có thé làm phá vỡ sự dịch chuyên cân băng giữa các mùa trong năm. Quan sát cho thấy vị trí xuất hiện và hình dạng các bãi cát quanh đảo tương đối giống nhau qua các năm.
Theo đó tổng lượng vật liệu tram tích quanh đảo trong ngắn hạn có thể nói là tương đối 6n định và có xu hướng tăng theo thời gian, nên khi bị giữ lại, sự di chuyén theo quy luật mùa của vật liệu sé bi hạn chế lại so với trước. Khi bị giữ lại ở mặt Đông Bắc, vật liệu tới bố sung nên bãi đảo ở mặt Tay Nam bị ít đi, dẫn đến có thé sẽ bị xói, hạ thấp cao trình và ngược lại. Dac điểm khí tượng, thủy hải văn 1. Nhiệt độ Tại trạm khí tượng trên đảo TS, nhiệt độ trung bình đo được là 27,7 °C.
Về mùa hè (tháng V đến tháng X), nhiệt độ trung bình đạt 28,2 °C; giá trị cực đại đo được là 29,3 °C vào tháng IX. Về mùa đông (tháng X đến tháng IV), nhiệt độ trung bình là 26,8 °C, trong đó giá tri cực tiểu đo được là 26,4 °C vào tháng II. Nhiệt độ trung bình tháng IV (tháng chuyền tiếp từ mùa đông sang mùa hè) là 28,8 °C, còn nhiệt độ trung bình tháng X (tháng chuyền tiếp từ mùa hè sang mùa đông) là 27,8 °C, gần xấp xi với nhiệt độ trung bình năm. Nhìn chung biên độ dao động của nhiệt độ không khí vùng dao TS không quá 4 °C.