CHƯƠNG 1: TONG QUAN VE DAP DAT, HIỆN TƯỢNG NƯỚC TRAN DINH DAP VÀ CAC VAN DE VE ON ĐỊNH DAP. Tổng quan về hồ chứa va đập đấtở Việt Nam LLL Tình trạng hỗ chứa ở Việt Nam Hồ chứa nước là công trình tích nước và điều tiết dòng chảy nhằm cung cắp nước cho các ngành kinh tế quốc dân, sin xuất điện năng, cắt giảm lũ cho ving hạ lưu v. Ở Việt Nam theo Báo cáo của Bộ NN&PTNT hiện nay, cả nước có gần 7.000 hồ chứa thuy lợi với tổng dung tích trữ khoảng 11 tỷ m3, trong đó 560 hỗ chứa lớn có dung tích trữ trên 3 triệu m3, 1752 hỗ có dung tích trữ từ 0,2 đến 3 trigu m3, còn lại là 4336 hồ có dung tích nhỏ hơn 0,2 triệu m3.1 Bid đồ lệ phần tram phân loại số lượnghŠ đập theo dung tích trữ Hiện nay ở nước ta có nhiều hồ chứa đã được xây dựng từ 30 - 40 năm trước. Các công tình này phin lớn xây dụng bing phương tiện thô sơ, huy động sức dân.
bộ đội, công nhân nông trường tại địa phương, sử dụng vật liệu đất đá có sẵn tại khu vực, chất lượng vật liệu đắp không được thí nghiệm kiểm định, quy trnh dip không dim bio theo các quy tình quy chuẳn, kiểm định chit lượng vé lớp dip, kỹ thuật dip, vit liệu ip, độ đầm chặt, hàm lượng các tạp chất trong đắt. Chất lượng của nhiều đập đắt không đảm bảo gây m các hiện tượng như thắm, lún nhi làm giảm chiều cao dip, tức giảm hệ số an toàn dap. Hầu hit các hỗ nhỏ từ khi đầu tr xây đựng đến nay không được bảo tr, củi tạo do thiếu nguồn vốn đầu tư, nguồn lực huy động của người dân trong vùng hưởng lợi 4 thường rit, do hẳu như người dân trong vũng đều nằm trong khu vục khó khăn về kinh tế, ha ting xã hội. Ngay cả việc đánh giá các nguy cơ tiém tang, thu thập số liệu ve hoại động cia các hỗ hu như là không có, Việc bảo tì hỗ chủ yếu là don cỏ re, ví ‘iu sat lo từ những người quản lý vận hành.
Anh hưởng tiêu cực do BĐKH: Các hỗ dip vừa và nhỏ không có khả năng điều tiết hoặc khả năng điều tiết kém, việc tích nước và cấp nước theo năm, theo mia và thậm chí là phụ thuộc hoàn toin vio điều kiện tự nhiên của dong chảy đến, nên trong những tháng kiệt thì mực nước trong các hồ xuống thấp trim trọng, có hỗ hoàn toàn không có nước. Trong những thing lũ, các hỗ thưởng không có dung tich phòng lũ, điều tiết là qua tràn tự do bằng hình thức tran đắt hình thức đập tràn đỉnh rộng, hay đập tràn thực. dụng 6 phi xé ốp, rất ít hỗ có điều tết bing cổng thio lũ, giếng tháo lũ, tran tự lit, tràn có điều tí 1. Tổng quan về đập đắt Dip đất là một loại đập được xây dựng bằng các loại vật liệu địa phương sẵn có tại vàng xây dựng như ¡ đắt sét, á sét á ác cấu sỏi, cud.
Đập đắt có cầu tạo đơn giản, vững chc, có khả năng cơ giới hóa cao khi thi công và trong da số trường hợp có giá thành thấp nên đập dit được ứng dụng rộng rã nhất trong hầu hết các nước trên thé giới nói chung và nước Việt Nam nói riêng [4] Dip dit là lại đập không tràn có nhiệm vụ giữ nước và dâng nước rong các hỗ chữa hoặc cùng với các loại đập và công tình khác tham gia ding nước tong các hệ thông thủy lợi hay xây đựng nhằm mục dich chỉnh tị đồng sông Nhờ sử dung các thành quả ngày càng hoàn thiện của các ngành kỹ thuật, lý thuyết thắm, nghiên cứu ứng suất và biến dạng công trình và biện php thi công cơ giới nên hình thức kết cầu đập vừa hợp lý, vừa kinh tế. Thực tạng hiện nay ở nước ta đập đất là loi đập phổ biến nhất khi xây dựng hỗ chứa Những hỗ chứa đã được xây dựng ở trong nước hiu hết là sử dụng vật liệu địa phương, trong đó đập đất chiếm t ệ lớn. Do đặc điểm về địa hình, địa chat, vật bu xây dựng, phương tiện thi công. ta, trong tương lai đập dit còn nhiều triển vọng phát triển rộng rãi hơn nữa.
§ Sở di trong những năm gin đây đập vật liệu địa phương trong đó có đập dit, đang phát triển với một tốc độ nhanh chóng như vậy và hiện đang có xu hướng phát triển nhanh hơn nữa về số lượng cũng như quy mô là do nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân chủ yếu sau đây: = Yêu cầu chất lượng của nén đập đất không cao lắm so với các loại đập khác. Đập đắc hầu như có thi diy dựng được với bắt kỳ điều kiện dia chất, dia hình và khí hậu nào, những ving động đất cũng có thể xây dựng được đập đất ~ Với những thành tựu nghiên cứu trong cơ học đt, lý luận thẩm. trạng thái ứng suất cùng với sự phát tiễn của công nghiệp chit déo làm vật liệu chống thắm, người ta có thể sử dung được tắt cả mọi loại đắc hiện có ở vùng xây dựng để dip đập và mặt cắt đập ngày cùng có khả năng hep li. Do đồ giá thành ngày cảng có khả năng hạ thấp và chỉ cao đập ngày cảng tăng cao.
Sử dụng phương pháp mới để xây dựng nhiing màng chống thắm sâu trong nén thắm nước mạnh. Đặc biệt dùng phương pháp phun các chất dính kết khác nhau như xỉ ming đắt sét vào dit nén, Có khả năng tạo thành những màng chẳng thắm sâu đến 200m. = C6 khả năng cơ giới hoá hoàn toàn các khâu đảo đất, vận chuyển và dip đất với những máy móc có công suất lớn do đồ rút ngắn được thời giân xây dựng, hạ giá thành công trình và hầu như có thể loại hoàn toàn lực lượng lao động thủ công. = Giảm xuống đến mức thấp nhất việc sử dung các loại vat liu hiểm như xi măng, sắt, thép.
à từ đó giảm nhẹ được các hệ thống giao thông mới và phương tiện giao thông = Do những thành tu về nghiên cứu và kinh nghiệm xây dựng các loi công tinh tháo nước, đặc biệt là do phát triển việc xây dựng đường him mà giải quyết được vin đề tháo nước ngoài thân đập với lưu lượng lớn. Dip dit được xây dưng bằng vật liệu địa phương nên trong quả tinh khai thác đập đất mang những đặc tính sau = Đập đắt có khối lượng lớn và chịu tác dụng các ngoại lực khá phức tạp cho nên thân và nền đập cin dim bảo điều kiện ôn định chống trượt của 2 mái dốc trong mọi trường Do tác dụng của gió, sóng trong hồ chứa tác dụng lên dập gây hư hồng mái dốc thượng lưu. Vì vậy đổi với mái thượng lưu đập cần phải ding những hình thức gia cổ. chắc chin để chống lại sự phá hoại đó.Mưa và sự thay đổi của nhiệt độ cũng gây nên hur hỏng mái dốc hạ lưu cho nên cũng cần thiết phải có những biện pháp bảo vệ mái đốc hạ lưu = Đo nước thắm qua thân dip, nén đập và thắm xung quanh bờ làm mắt nước ở hồ chứa và có ảnh hưởng xấu đến ổn định của đập( xói ngằm và trượt mái dốc ), nên cẳn phải có những biện pháp chống thim khi cin thiết.
ngoài ra thắm còn gây nguy hiểm ở những vùng tiếp xúc của đập đt với những công tình khác bê tông, thép.) hoặc ở vùng đồng thắm ra mái đốc hạ lưu, cũng như đối với trường hợp nước trong hỗ chứa hạ xuống đột ngột 1. Các vấn đề về an toàn đập 1. Tình trạng an toàn hồ đập ở Việt Nam ‘Theo số liệu. Bộ NNPTNT như mục 1.1 đã nêu: cả nước có gin 7.000 hỗ chứa thuỷ lợi với tổng dung tích trữ khoảng 11 tỷ m3, trong đó 560 hồ chứa lớn có dung tích trữ trên 3 triệu m3, 1752 hồ có dung tích trữ từ 0,2 đến 3 triệu m3, còn lại là 4336 hồ có cdung tích nhỏ hơn 0,2 triệu mã, [2] Các công trình hỗ đập được đầu tư với các nguồn vốn khác nhau: ngân sách nhà nước, sác doanh nghiệp tự nhân, các nông trường, hợp tác xã, trong đồ, nguồn vẫn từ ngân sich nhà nước là chủ yễu.
Việc xây dụng nhiễu hồ chứa đã gp phn rit lớn vào phát triển sản xuất nông nghiệp, phát điện, chống lũ, cấp nước sinh hoạt và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên hd chứa cũng gây ra các động iêu cục đến mỗi trường, xã hội Những ôn ại ong thiết é hi công và quân ý hồ chứa cũng như những biển đổi bắt thường về khí hậu làm cho các tác động xấu này trim trọng thêm, đặc biệt có thể dị cđến nguy cơ làm mắt an toàn, làm vỡ đập và gây ra thảm họa cho khu vục hạ du. Mối nguy tiém dn này luôn hiện hữu ở các đập. Những tồn tại này phần lớn nằm ở các hd loại vừa và nh loại công tình này có tiêu chuẩn thiết kế (về lä cũng như an toàn công trình) thấp hơn, đặc biệt đối với các hỗ đập được xây dựng trong những năm 70, 30 của thể kỹ trước mà hầu hết đập ding của các hỗ chứa này được xây dựng bằng vật liệu địa phương (đập đắt, đá) ‘Vé mặt đầu tư, do thiểu kinh phí xây dựng nên các hạng mục công trình không được đầu tư xây đựng diy đủ và có độ kiên cổ cin Một số hồ chứa n xã là không đã năng lục xa, không được xây dựng một cách chắc chin, Một số đập mái thượng lưu không được gia cổ.
Nhiễu hỗ chứa không có đường quản lý, gây khó khăn cho công tác quản lý ng cứu khi hồ có sự cố.Trường hợp này xây ra phổ biến ở các hỗ loại vừa và nhỏ, ‘Ve mặt khảo sát thiết kế, việc hạn chế các tài a về khí tượng thủy văn, địa hình địt cũng như các phương pháp tính toán dẫn đến việc các hồ sơ thiết kế không sit với thực É, chưa dim bio mức độ an toàn đặc biệt là những hỗ nhỏ. Tiêu chuẫn lũ ấp dụng cho thiết kế hỗ chứa được lựa chọn chủ yếu căn cứ vào quy mô đặc điểm của công trình mã chưa xem xét đến đặc điểm khu vực hạ du đập. Về mặt thì công, do thiết bị thi công thiểu, ky thuật thi công lạc hu, ở các hd nhỏ đập được thi công bằng thi công dẫn đến chất lượng th công không bào đảm.