mở đầu về thời kỳ vàng các nghiên cứu về bọ cạp, các đóng góp lớn phải kể đến các nghiên cứu về phân loại và địa sinh học. Ngoài ra cũng có một số lượng các công trình công bố nhưng ít được biết đến hơn bởi các nhà nghiên cứu như Banks, Pavesi và Penther. Trước khi Kraepelin công bố công trình nghiên cứu của mình, nghiên cứu được thực hiện bởi Laurie đã thoát khỏi cách tiếp cận theo hướng chỉ mô tả hình thái học của bọ cạp [5, 24]. Nhiều tài liệu đã ghi nhận chính thức 16 họ bọ cạp tồn tại trên thế giới (trong đó đã bao gồm một số giống hoặc loài đã tuyệt chủng): Bothriuridae, Buthidae, Chactidae, Chaerilidae, Diplocentridae, Euscorpiidae, Hemiscorpiidae, Heteroscorpionidae, Luridae, Liochelidae, Microcharmidae, Pseudochactidae, Scorpionidae, Superstitioniidae, Troglotayosicidae, và Urodacidae.
Khoảng một thập kỷ trước, trên thế giới chỉ ghi nhận 9 họ bọ cạp nhưng gần đây số lượng các 5 loài ở các bậc phân loại cao hơn được ghi nhận ngày càng tăng (phân họ hoặc cao hơn) [19]. Trong số các họ được ghi nhận mới phải kế đến họ mới hoàn toàn là họ Pseudochactidae [25]; cân bằng với thứ hạng của các phân họ đã tồn tại như Euscorpiinae, Superstitioniinae, Heteroscorpioninae, Hemiscorpiinae, Urodacinae và tạo ra nhóm phân loại mới ở cấp độ họ cho các giống trước đây được đặt trong các họ khác như Microcharmidae và Troglotayosicidae. Do đó, đã dẫn đến những tranh cãi về hiện trạng của các họ Hadogenidae và Lisposomidae. Kjellesvig-Waering đã sửa đổi tất cả các dữ liệu về bọ cạp hóa thạch.
Phần lớn trong số đó thuộc về các loài đã tuyệt chủng ở cấp độ bộ phụ và dưới bộ. Đây là lý do đặc biệt quan trọng bởi những khám phá mới được chỉnh sửa về bọ cạp trong kỷ Phấn Trắng (Cretaceous) ở Brazil, Li - băng, Burma, Pháp. Các nghiên cứu của Prendini và Wheeler đã tóm lược các nghiên cứu về phân loại bọ cạp trong vòng 25 qua. Đầu tiên có 7 họ, số lượng tăng lên 13 họ, sau đó giảm còn 9 họ, tiếp theo là 13 họ và 16 họ bọ cạp, tăng hơn nữa lên 20 họ rồi lại giảm còn 14 họ, tiếp tục tăng lên 18 họ và cuối cùng lại về 13 họ.
Những vấn đề này đã được nghiên cứu và đánh giá một cách toàn diện và chuyên sâu bởi hai ông, giúp cho việc kiểm soát chất lượng trong quá trình phân loại và xuất bản trong tương lai [4, 22]. Tuy nhiên các tác giả Fet và Soleglad đã phản đối kết quả nghiên cứu trên và quay trở lại với hệ thống phân loại trước đó của họ [26]. Cho đến năm 2011, thế giới đã công bố 2.068 loài bọ cạp [4, 9, 27]. Như vậy cho đến hiện tại, do quan điểm khoa học của các nhà khoa học còn nhiều điểm khác nhau nên vẫn tồn tại những hệ thống phân loại bọ cạp khác nhau của một số tác giả, vì vậy số họ bọ cạp theo quan điểm của các tác giả này cũng khác nhau.
Gần đây nhất có thể kể đến các tác giả như Victo Fet phân chia thành 16 họ, Predini phân chia thành18 họ, Lourenco phân chia thành 23 họ [3, 4, 19]. Tình hình nghiên cứu về đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái học của bộ bọ cạp trên thế giới Bọ cạp là một trong những nhóm động vật chân khớp cổ xưa và phong phú về mặt địa sinh học [1]. Bọ cạp là sinh vật nguyên thủy nhất trong lớp hình 6 nhện. Các đặc điểm cơ thể bọ cạp thay đổi rất ít so với khi chúng mới xuất hiện trên trái đất ở kỷ Silur (cách đây 395 triệu năm) [11].
Tuổi thọ trung bình của bọ cạp từ 2 đến 6 năm. Toàn bộ đời sống của chúng trong tự nhiên về cơ bản là động vật ăn thịt, thức ăn phần lớn là các loài côn trùng, nhện và một vài động vật nhỏ khác. Chúng bắt mồi bằng chân kìm, chân xúc giác, giết con mồi bằng nọc độc và sau đó ăn con mồi [3, 12-15]. Ở bọ cạp cơ quan cảm giác rất phát triển, đặc biệt là cơ quan xúc giác (pectines).
Khả năng nhìn của chúng rất kém, gần như mù [12-15]. Các nghiên cứu về bọ cạp trong những giai đoạn đầu được xuất bản ở nhiều nước như Pháp, Đức, Nga,. Do vậy việc tổng hợp và tham khảo các công trình nghiên cứu này gặp khá nhiều khó khăn trong quá trình tìm hiểu về lịch sử nghiên cứu về bọ cạp. Trong những năm gần đây, tác giả Lourenco (2014) đã tổng hợp về lịch sử nghiên cứu của bọ cạp, công trình đã khái quát một cách toàn diện quá trình phát triển các nghiên cứu về bọ cạp [24].
Qua công trình của Lourenco có thể thấy trong số các nhà khoa học đóng góp lớn cho việc nghiên cứu về bọ cạp phải kể đến Vachon, ông đã có những đóng góp rất lớn cho việc nghiên cứu về hình thái, sinh học của bọ cạp. Trong giai đoạn những năm đầu thế kỷ 20 đến giữa thế kỷ này cũng phải nhắc đến sự tham gia cùng với Vachon là Junqua và Millot. Một số vấn đề được Vachon chú trọng nghiên cứu là đặc điểm giao phối của bọ cạp, một vấn đề không dễ dàng đối với các nhà nghiên cứu. Sau này cũng có một số tác giả đề cập tới vấn đề này như Alexander với các nghiên cứu về bọ cạp Buthid, Williams với một số loài bọ cạp thuộc 4 họ ở Mỹ; G.
Polis nghiên cứu về tập tính và sinh thái học của quá trình tìm bạn giao phối ở bọ cạp, Paruroctonus mesaensis Stahnke (Scorpionida: Vaejovidae). Một tác giả khác cũng có những đóng góp không nhỏ cho việc nghiên cứu bọ cạp là Fabre. Một số tác giả có những đầu tư nghiên cứu về thức ăn bọ cạp như Deoras, Whittemor, Bucherl, Keegan, Cloudsley và Thompson [28-30]. Giai đoạn nửa sau của thế kỷ 20, một số nhà khoa học đã đi sâu nghiên cứu về hình thái, sinh thái, sinh học của các loài bọ cạp như: Adwan Shehab nghiên cứu về sinh học sinh thái của bọ cạp ở Syria [31].
Fred nghiên cứu về ảnh hưởng của một số điều kiện sinh thái như nhiệt độ, độ ẩm tới tỷ lệ sống sót cũng như hoạt động trao đổi chất của bọ cạp Centruroides henzi [10]; Stahnke nghiên cứu về sinh học của bọ cạp Centruroides marx và Centruroides sculpturatus [35]. Bên cạnh đó, nói đến bọ cạp không thể không nói đến sự đóng góp của các nhà nghiên cứu Nga. Ngoài ra các đặc điểm hình thái, sinh học của bọ cạp còn được đề cập đến trong nhiều công trình nghiên cứu khoa học khác của các nhà khoa học Tikader và Bastawade, W R. Trong những năm gần đây cũng đã xuất hiện thêm nhiều các nhà nghiên cứu tiếp tục phát triển lĩnh vực sinh học, sinh thái của bọ cạp.
Đáng kể đến các tác giả như M. Warburg (2011) nghiên cứu về chiến lược sinh sản ở bọ cạp, sự phân bố và tiềm năng sinh sản [38]; Nghiên cứu của Cristiane S. Nghiên cứu của K. Hiện tượng sinh sản lưỡng tính ở ở bọ cạp được phát hiện và mô tả ở nhiều loài.
Trong khi đó ở nhện hiện tượng lưỡng hình giới tính rõ ràng (con đực và con cái khác nhau), trái ngược với ở bọ cạp. Nghiên cứu của Uoolbolwan Boonchan về hiện tượng lưỡng hình giới tính ở loài Heterometrus laoticus cho thấy bọ cạp chưa trưởng thành cả con đực và con cái đều giống nhau [42]. Bọ cạp đực trưởng thành phần bụng sau và chân xúc giác có xu hướng lớn hơn, thường nặng hơn, dài hơn, phần bụng sau dày hơn so với con cái. Lược sinh dục của con đực thường lớn hơn và có số răng lược nhiều hơn, kích thước răng cũng lớn hơn.
Lược sinh dục cũng là cơ quan cảm giác chỉ có ở bọ cạp, đóng vai trò quan trọng trong quá trình tìm kiếm thức ăn và thăng bằng. Con đực có thể sử dụng lược sinh dục để tìm kiếm bề mặt 8 phù hợp để đặt túi tinh, quyến rũ con cái và sinh sản, trong khi đó ở con cái, lược sinh dục được sử dụng chúng để thu thập túi tinh [42]. Như vậy có thể thấy các nghiên cứu đã chứng minh các loài bọ cạp khác nhau về kích thước cơ thể, màu sắc, phân bố và các đặc điểm hình thái chi tiết nhưng các cấu trúc thông thường có thể tương đồng nhiều hoặc ít. Màu sắc cơ thể có thể biến đổi và thường tương ứng với môi trường sống, nhưng nhìn chung mặt lưng có màu sắc tối hơn nhiều so với phía mặt bụng.
Một số loài sống trong các vùng rừng rậm nhiệt đới cơ thể thường có màu đen, trong khi các loài sống dưới cát thường có màu sắc cơ thể nghiêng về màu vàng nhạt, một số loài sống trong hang cơ thể có màu trắng hoặc trắng nghiêng về vàng nhạt [13]. Cơ thể bọ cạp dài, hẹp, hẹp theo chiều lưng bụng. Kích thước thay đổi rất khác biệt giữa các loài, có thể dao động từ vài cm đến vài chục cm. Một số bọ cạp có cơ thể dài tới 21 cm, trong khi một số khác có cơ thể khá nhỏ chỉ khoảng 12 mm.
Loài bọ cạp nhỏ như Microbuthus pusiluss chỉ dài khoảng 1,3 cm trong khi bọ cạp có thể dài tới Pandinus imperator dài khoảng 20cm [13]. Ngoài ra bọ cạp còn có những đặc điểm riêng, khác biệt với các nhóm hình nhện khác. Bởi vì rất nhiều bọ cạp sống trong môi trường khô hạn nên cơ thể của chúng thích nghi với việc làm hạn chế ít nhất sự mất nước của cơ thể [6]. Lớp vỏ cơ thể có một phần cấu tạo bởi lớp cutin không thấm nước dựa trên lớp kitin.
Đây là một đặc điểm quang học khác thường. Bọ cạp phát ra ánh sáng huỳnh quang ở khi chiếu các tia UV có bước sóng dài. Đặc điểm này làm cho chúng dễ dàng bị phát hiện vào ban đêm bởi các đèn UV. Ý nghĩa thực sự của đặc điểm này đến nay vẫn chưa rõ ràng.
Một số bọ cạp lột xác không có chất huỳnh quang. Tính phát quang được tạo nên bởi một chất nằm trong lớp màng mỏng của tầng cutin gọi là lớp hyalin. Các chất huỳnh quang có thể là beta-carboline (tryptophan metabolite), một sản phẩm của quá trình xây dựng lớp vỏ giống như lớp vỏ cứng mới. Nếu lớp này được bảo tồn trong hóa thạch thì nó cũng sẽ phát quang.
Khi các bọ cạp được bảo quản trong dung dịch cồn, sau một thời gian dung dịch cồn cũng có thể phát quang [9, 12-15]. Tình hình nghiên cứu liên quan đến phân bố và nơi sống của bộ bọ cạp trên trế giới Cùng với việc tiến hành nghiên cứu về các đặc điểm sinh học, sinh thái của bọ cạp, các nhà khoa học cũng thực hiện nghiên cứu về phân bố của bọ cạp.