Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè trên thế giới Cây chè, phân bố từ 34o vĩ độ nam đến 45o vĩ độ bắc. Hiện nay trên thế giới có 58 nước sản suất chè bao gồm: châu Á 20; châu Phi 21; châu Mỹ 12; châu Đại Dương 3; châu Âu 2; và có 115 nước uống chè gồm: châu Âu 28; châu Mỹ 28; châu Á 29; châu Phi 34; châu Đại Dương 5; như vậy có thể nói cây chè có một thị trường rất rộng lớn [33], [42].
Diện tích, năng suất và sản lượng chè của thế giới 2010 - 2016 Năm Diện tích Năng suất Sản lượng khô (ha) (tạ khô/ha) (tấn) 2010 3.1 cho thấy, từ năm 2010 – 2016 diện tích đất dành cho trồng chè trên thế giới tăng từ 3.230 ha và tăng đều đặn qua các năm. Năng suất chè khô bình quân trên thế giới của cây chè trong giai đoạn này cũng giữ mức trên 14 tạ/ha. Tuy nhiên, tiềm năng năng suất chè còn khá lớn và hoàn toàn có khá năng đột phá trong giai đoạn tiếp theo. Sản lượng trong giai đoạn này cũng tăng đáng kể từ 4.
Với đà tăng trưởng này dự báo những năm tiếp theo các nước xuất khẩu chè sẽ có sự cạnh tranh gay gắt với nhau, như vậy trong cạnh tranh yếu tố chất luan an 6 lượng sẽ được quan tâm. Trên thị trường nông sản thế giới chè cũng là một mặt hàng quan trọng, tình hình xuất khẩu của một số nước xuất khẩu chè lớn trên thế giới năm 2015 – 2016 được trình bày ở bảng 1. Kết quả cho thấy các nước xuất khẩu chè lớn nhất thế giới trong năm 2015 - 2016 lần lượt là Kenya, Srilanka, Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, trong đó Việt Nam đứng thứ 5 về xuất khẩu trên thế giới. Các sản phẩm xuất khẩu chủ yếu vẫn là chè đen và chè xanh.
Các nước xuất khẩu chè lớn nhất thế giới Năm 2015 Năm 2016 Sản Lượng Giá trị Giá bán Lượng Giá trị Giá bán phẩm (tấn) (1.000 bình quân TT Tên nước chè chủ USD) (1000USD USD) (1000USD yếu /tấn) /tấn) 1 Kenya 396.232 2,081 Chè đen 2 Srilanka 318.982 4,345 Chè đen 3 Trung Quốc 299.062 3,021 Chè xanh 4 Ấn Độ 203.125 3,858 Chè đen Chè xanh, 5 Việt Nam 104.000 1,729 đen (Nguồn: Hiệp hội chè Việt Nam, 2017) Sản lượng xuất khẩu của năm 2016 đều có xu hướng tăng hơn năm 2015. Một số nước có sản lượng xuất khẩu chè cao, nhưng giá bán lại không cao. Trong 5 nước thì Srilanka có giá bán chè trung bình cao nhất (năm 2016 – 4,345 nghìn USD/tấn), các nước đều có giá bán chè trung bình trên 2 nghìn USD/tấn, Việt Nam có giá bán thấp nhất luôn dưới 2 nghìn USD/tấn (năm 2016 – 1,729 nghìn USD/ tấn). luan an 7 Hiện nay trên thế giới có trên 140 nước nhập khẩu chè, bình quân 2,2 triệu tấn/năm.
Theo Eurostat (2017) nước Anh hiện đang tiêu thụ 4% tổng sản lượng chè trên toàn thế giới. Anh là nước tiêu thụ chè lớn nhất tại châu Âu chiếm 51%, theo sau là Đức 12% và Pháp 7%. Tây Ban Nha là nước có mức tiêu thụ tăng cao nhất trong vòng 5 năm qua với mức trung bình 37%/năm trong khi mức tiêu thụ của Ba Lan giảm trung bình 21%/năm. Các mặt hàng như chè xanh, chè đen sợi và chè thảo dược ngày càng được ưa chuộng [31].
Theo Trung tâm nghiên cứu tập đoàn đa quốc gia SOMO Consumption (2017), 56% tổng sản lượng chè sản xuất trên thế giới được tiêu thụ nội địa. Ví dụ, Ấn Độ và Trung Quốc lần lượt tiêu thụ 81% và 73% sản lượng chè được sản xuất trong nước. Ở các nước như Trung Quôc, Việt Nam, Indonexia người dân ưa dùng chè xanh, do vậy, mặt hàng trên đang thống lĩnh thị trường nội địa [31]. Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè tại Việt Nam Nằm trong vùng nhiệt đới nóng ẩm, với hai phần ba diện tích đất đồi núi, Việt Nam có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho cây chè sinh trưởng, phát triển.
Tuy nhiên, sản xuất chè ở Việt Nam chỉ thực sự bắt đầu sau những năm 1925. Thời kỳ đầu Việt Nam có khoảng 300 ha trồng chè, đến năm 1939 chúng ta có khoảng 13.408 ha với sản lượng 10.900 tấn búp khô, đứng thứ 6 trên thế giới [26]. Trong thười gian chiến tranh 1945 – 1954, do chiến tranh nên diện tích chè suy giảm nghiêm trọng. Sau khi hòa bình được lập lại cây chè được chú trọng phát triển.
Nhiều nông trường chè mới được thành lập và lúc này thị trường chè được mở rộng.330 ha, sản lượng 17.890 tấn chè búp khô. Đến năm 1985 cả nước có 52.047 ha, sản lượng đạt 25.392 tấn chè búp khô [26]. Trong những năm gần đây, ngành chè Việt Nam đã có những bước tiến lớn trong sản xuất, chế biến, xuất khẩu, sản phẩm chè Việt Nam đã có những vị trí nhất định trên thị trường thế giới. Diện tích, năng suất, sản lượng chè Việt Nam giai đoạn 2010 – 2018 được thể hiện qua bảng 1.
luan an 8 Bảng 1. Diện tích, năng suất, sản lượng chè Việt Nam 2010 – 2018 Năm Diện tích Diện tích cho Sản lượng Tỷ lệ diện Năng suất trồng chè thu hoạch búp tươi tích thu bình quân (nghìn ha) (nghìn ha) (nghìn tấn) hoạch (%)* (tấn/ha)** 2010 129,9 113,2 834,6 87,14 7,37 2011 127,8 114,2 878,9 89,36 7,69 2012 128,3 114,5 909,8 89,24 7,94 2013 129,8 114,8 936,3 88,44 8,15 2014 132,6 115,4 981,9 87,03 8,51 2015 133,6 117,8 1.033,6 88,98 8,71 2017 123,0 109,3 972,0 88,86 8,89 Sơ bộ 2018 123,7 109,1 987,3 88,19 9,04 Ghi chú:*= Diện tích cho thu hoạch/ Diện tích trồng chè x 100 Theo Tổng cục thống kê **= Sản lượng búp tươi/ Diện tích cho thu hoạch https://www.vn/ Số liệu cho thấy trong giai đoạn 2010 – 2016 diện tích, năng suất và sản lượng chè tăng mạnh. Năm 2016 diện tích chè cả nước vào khoảng 133,4 nghìn ha, tăng 3500 ha so với năm 2010 (129,9 nghìn ha). Sản lượng chè búp tươi cũng tăng mạnh từ 834,6 nghìn tấn năm 2010 lên 1.
Năng suất búp tươi bình quân cũng tăng từ 7,37 tấn/ha lên 8,71tấn/ ha. Giai đoạn năm 2017 – 2018 diện tích, sản lượng có giảm hơn so với 2016, diện tích xoay quanh khoảng 123 nghìn ha và sản lượng từ 972 – 987,3 nghìn tấn búp tươi. Năng suất bình quân có tăng nhẹ từ 8,89 tấn/ha năm 2017 lên 9,04 tấn/ha năm 2018. Tỷ diện tích cho thu hoạch khá cao đều trên 87,03% và năm 2018 là 88,19%.
Như vậy có thể thấy trong những năm gần đây diện tích trồng chè có giảm nhẹ, nhưng sản lượng vẫn ổn định, năng suất búp trung bình vẫn tăng, tỷ lệ diện tích cho thu hoạch vẫn ổn định. Điều này cho thấy ngành chè chúng ta vẫn đang trên đà phát triển, người sản xuất đã chú trọng đầu tư để nâng cao năng suất. luan an 9 Sản lượng xuất khẩu và giá bán là 2 yếu tố quyết định đến giá trị xuất khẩu.4 Ghi lại sản lượng và giá trị xuất khẩu chè Việt Nam qua một số năm từ 2010 – 2019. Sản lượng và giá trị xuất khẩu chè Việt Nam qua một số năm 2010 – 2019 Năm Sản lượng xuất Giá trị xuất khẩu Giá bán bình quân khẩu (Tấn) (1000 USD) (1000USD/tấn) 2010 137000 201000 1,4672 2012 147000 225000 1,5306 2014 132000 228120 1,7282 2017 149000 233000 1,5636 Sơ bộ 2018 127338 217834 1,7107 Sơ bộ 2019 137102 236431 1,7245 Theo Tổng cục thống kê- https://www.vn/ Kết quả bảng 1.4 cho thấy sản lượng xuất khẩu qua một số năm từ 2010 – 2017 (132000 - 149000 tấn) có xu hướng cao hơn giai đoạn năm 2018 – 2019 (127338 –137102 tấn).
Năm 2019 sản lượng xuất khẩu sơ bộ là 137102 tấn, giá bán bình quân cao nhất 1,7245 nghìn USD/tấn và giá trị thu về cao nhất đạt 236431 nghìn USD. Như vậy trong những năm gần đây sản lượng xuất khẩu không ổn định so với 2017 có xu hướng giảm, tuy nhiên giá bán có tăng nhẹ nên giá trị thu về không có biến động lớn. Theo hiệp hội chè Việt Nam, năm 2019 thị trường Pakistan và Afganistan, Đài Loan, Nga, Indonesia và Trung Quốc vẫn tiếp tục là 5 thị trường lớn nhất của chè Việt Nam, chiếm 73% tổng số lượng và 75% giá trị xuất khẩu [68]. Top 5 thị trường đứng đầu năm 2019, thị trường Pakistan và Afganistan với gần 50 ngàn tấn chiếm gần 35%, về lượng và 40 % về giá trị, so năm 2018 tăng 28% về lượng và 18% về trị giá; Thị trường Đài Loan với 20 ngàn tấn chiếm 14% về lượng và 12% về giá trị, so năm 2018 tăng 4% về lượng và trị giá; Nga với gần 15 ngàn tấn chiếm 11% về lượng và 9 % về trị giá, so năm 2018 tăng 8% về lượng và 6% về trị giá; Indonexia với 10 ngàn tấn trị giá 11 triệu USD chiếm 7% về lượng và 4% về trị giá, so năm 2018 tăng 16% về lượng và trị giá; Trung Quốc với gần 9 luan an 10 ngàn tấn với gần 24 triệu USD chiếm 6% về lượng và 10% về trị giá, so năm 2018 lượng giảm 16% nhưng trị giá tăng 21% [68].
Top 5 thị trường đứng đầu nhập khẩu chè Việt Nam 2019 STT Tên nước Tỷ lệ sản lượng (%) Tỷ lệ giá trị (%) 1 Pakistan và Afganistan 35 40 2 Taiwan 14 12 3 Nga 11 9 4 Indonesia 7 4 5 Trung Quốc 6 10 Hiệp hội chè Việt Nam Ngoài 5 thị trường lớn còn một số thị trường xuất khẩu khác. Mỹ với gần 6 ngàn tấn trị giá trên 7 triệu USD, so năm 2018 giảm 7% về lượng và 4% về trị giá; Malayxia với 4 ngàn tấn trị giá trên 3 triệu USD, so năm 2018 tăng 3% cả lượng và trị giá; Các Tiểu vương quốc ả rập thống nhất với trên 3 ngàn tấn trị giá trên 5 triệu USD, so năm 2018 tăng 50% về lượng và trị giá; Iraq với 3 ngàn tấn trị giá gần 5 triệu USD, so năm 2018 giảm 8% về lượng và trị giá; Ả Rập xê út với trên 2 ngàn tấn trị giá trên 5 triệu USD, so năm 2018 giảm nhẹ cả về số lượng và trị giá [68]. Như vậy ngoài những thị trường truyền thống thì chúng ta đã bước đầu tiếp cận một số thị trường khó tính như Mỹ, tuy nhiên để phát triển hơn ở một số thị trường như Mỹ, EU, Nhật Bản… để nâng cao giá trị sản phẩm chè của chúng ta thì ngoài việc quan tâm đến chất lượng, sự an toàn sản phẩm phải được đặt lên hàng đầu vì những thị trường này có hàng rào kỹ thuật rất khắt khe.