ĐẶT VẤN ĐỀ Cây Keo tai tượng (Acacia mangium Willd.) chủ yếu phân bố tự nhiên ở Australia, Indonesia và PapuaNew Guinea. Đây là loài cây này được trồng rộng rãi tại nhiều quốc giaởvùng nhiệt đới và được nhập nội vào Việt Nam từ những năm1960 - 1970, là cây sinh trưởng và phát triển mạnh, ưa khí hậu nóng ẩm cận nhiệt đới. Theo kết quả tổng kiểm kê rừng toàn quốc năm giai đoạn 2013 – 2015, tính đến hết năm 2015, toàn quốc có 14.856 ha rừng, trong đó: Diện tích rừng tự nhiên là 10.519 ha, rừng trồng 3.337 ha; Diện tích trồng Keo tai tượng chiếm 60% diện tích trồng rừng trong 5 năm (2011-2015) và trên hầu hết các lập địa vùng thấp từ Bắc đến Nam (TheoCục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia). Trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, theo kết quả kiểm kê rừng toàn quốc giai đoạn 2013-2016, toàn tỉnh có 231.546 ha rừng trồng, trong đó diện tích rừng trồng Keo thuần loài chiếm trên 40% tổng diện tích loài cây rừng trồng, diện tích trồng Keo được dự đoán tiếp tục tăng mạnh trong những năm tới.
Thực tế chứng minh cây Keo nói chung và Keo tai tượng nói riêng đã và đang mang lại hiệu quả kinh tế và cải tạo đất rừng, góp phần vào việc đẩy nhanh tỷ lệ che phủ đất trống đồi núi trọc, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân sống ở miền núi, đặc biệt là đồng bào thiểu số sống ở vùng sâu, vùng xa, đồng thời đáp ứng nhu cầu về gỗ cho ngành công nghiệp chế biến gỗ và nguyên liệu giấy. Cùng với các chính sách phát triển lâm nghiệp, diện tích rừng trồng thuần loài ngày càng được mở rộng. Diện tích trồng Keo thuần loài ngày càng nhiều thì khả năng mắc bệnh và hình thành dịch bệnh trên cây Keo ngày càng cao, gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng nếu không được kiểm soát, phòng ngừa kịp thời. Trong những năm gần đây, Keo tai tượng đang mắc nhiều loại bệnh hại như bệnh phấn trắng, bệnh đốm lá, bệnh gỉ sắt, bệnh loét thân cành, bệnh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chết héo….
Tại một số nước trong khu vực, bệnh phấn trắng lá Keo tai tượng (Powdery mildew) đã phát triển thành dịch, ảnh hưởng lớn đến chất lượng và số lượng trồng rừng. Năm 1990, bệnh nấm phấn trắng gây ra đến 75% của cây Keo trong các vườn ươm ở Thái Lan (Chalermpongse 1990), Ryan vàBell (1989). Ở Việt Nam, trên địa bàn huyện Đạ Tẻh (Lâm Đồng) Keo tai tượng trồng thuần loài trên diện tích 400 ha đã có 118,5ha bị bệnh với tỷ lệ từ 7 đến 59% trong đó có một số diện tích bị bệnh khá nặng; trên địa bàn huyện Bầu Bàng, một số dòng Keo lai đã bị mắc bệnh phấn hồng (Pink Disease) với tỷ lệ và mức độ mắc bệnh khá cao gây thiệt hại cho sản xuất, trên địa bàn tỉnh Kon Tum năm 2001, có khoảng 100 ha rừng Keo lai 2 tuổi bị nhiễm bệnh loét thân, thối vỏ và dẫn đến khô ngọn, tỷ lệ nặng nhất là ở Ngọc Tụ, Ngọc Hồi (Kon Tum) lên đến 90% số cây bị chết ngọn. Trong số bệnh hại lá cây Keo có bệnh phấn trắng.
Bộ phận bị hại trên cây Keo chủ yếu là ở lá nhưng có thể ở cả chồi và cành non. Vật gây bệnh gây bệnh phấn trắng không chỉ làm ảnh hưởng đến khả năng quang hợp của cây con, mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh trưởng, sản lượng và chất lượng cây con, từ đó ảnh hưởng đến công tác trồng rừng. Nếu cây bị bệnh quá nặng có thể làm cho lá sớm rụng, dẫn tới cây bị chết. Tuy nhiên, nghiên cứu về bệnh phấn trắng trên cây Keo trong nước nói chung và trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa nói riêng chưa được tổng kết đầy đủ, tùy theo từng nơi, từng lúc mà bệnh có những biến đổi, nên đề tài: “Nghiên cứu biện pháp phòng trừ bệnh phấn trắng trên cây Keo tai tƣợng (Acacia mangium Willd.) tại vƣờn ƣơm Hạt Kiểm lâm huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa” được đặt ra là hết sức cần thiết, nhằm bổ sung thông tin về đặc tính sinh vật học của vật gây bệnh, biện pháp phòng trừ bệnh cho cây Keo ngay từ giai đoạn gieo ươm để tạo ra những giống Keo có số lượng, chất lượng tốt phục vụ công tác trồng rừng.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1. Nghiên cứu về bệnh cây Bệnh cây được biết đến từ khi con người biết nuôi trồng cây. Tuy nhiên, khi đó họ chưa hiểu rõ về nguyên nhân của bệnh, họ cho rằng cây bị bệnh là do thần thánh (Nữ thần Robigo).
Đến năm 1773, trên thế giới xuất bản cuốn sách đầu tiên về bệnh cây của nhà bác học người Đức Tallinger. Cùng thời gian này, bảng phân loại đầu tiên về nấm cũng được công bố. Ngày nay, nghiên cứu cây bị bệnh đã giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế, với sự phát triển toàn diện của khoa học bệnh cây. Do vậy, khoa học bệnh cây không chỉ xác định vật gây bệnh mà còn dựa vào cơ sở nghiên cứu mối quan hệ giữa vật gây bệnh và thực vật, giữa thực vật với môi trường, giữa môi trường và vật gây bệnh để đưa ra các biện pháp phòng trừ theo quan điểm quản lý vật gây hại tổng hợp (IPM, Intergrated – Pest – Management).
Người đặt nền móng nghiên cứu khoa học bệnh cây rừng là Robert Hartig (1839-1901). Năm 1874 ở châu Âu, ông đã phát hiện ra sợi nấm nằm trong gỗ và công bố nhiều công trình nghiên cứu. Kể từ đó đến nay, trên thế giới đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về bệnh lý cây rừng như G.Hapting, nhà bệnh lý cây rừng người Mỹ, trong 30 năm nghiên cứu bệnh cây (1940-1970), đã đặt nền móng cho công việc điều tra chủng loại và mức độ bị bệnh liên quan tới sinh lý, sinh thái cây chủ và vật gây bệnh. Roger đã nghiên cứu các loại bệnh hại cây rừng được mô tả trong cuốn sách bệnh cây rừng các nước nhiệt đới (Phytopathologie des pays chauds).
Trong cuốn sách đó có một số bệnh hại lá của Thông, Keo, Mỡ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com John Boyce (1961) xuất bản cuốn sách Bệnh cây rừng (Forest pathology), đã mô tả một số bệnh hại cây rừng. Cuốn sách này được xuất bản ở nhiều nước như Anh, Mỹ, Canada. Nghiên cứu về bệnh hại Keo Với tổng số trên dưới 1200 loài, chi Keo Acacia là một chi thực vật quan trọng đối với đời sống xã hội của nhiều nước (Boland, 1989; Boland et al.
Theo các ghi chép của trung tâm giống cây rừng Ôxtrâylia (dẫn từ Maslin và McDonald, 1996) thì các loài Keo Acacia của Ôxtrâylia đã được gây trồng ở trên 70 nước với diện tích khoảng 1.000 ha vào thời điểm đó. Nhiều loài trong số đó đã đáp ứng được các yêu cầu về sử dụng cho các mục tiêu công nghiệp, xã hội và môi trường. Các loài có tiếng về cung cấp nguyên liệu gỗ và bột giấy là Keo lá tràm (A. auriculiformis), Keo lá liềm (A.
crassicarpa), Keo tai tượng (A. mangium), Keo đa thân (A. còn các loài khác như A.tumida lại có tiềm năng cung cấp gỗ củi, chống gió và hạt làm thức ăn cho người ở một số vùng (Cossalter, 1987; House and Harwood, 1992). Keo tai tượng (Acacia mangium Willd) là loài cây thuộc họ Trinh nữ (Mimosaceae), bộ Đậu (Fabales).
Keo tai tượng có nguồn gốc từ Australia, Papua New Guinea và Indonesia rồi đã trở thành một loài cây được trồng phổ biến ở vùng nhiệt đới. Từ những năm 1980, các lô hạt giống thu hái ở vùng nguyên sản đã được gửi tới 90 nước trên thế giới, trong đó có Philippin, Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Ấn Độ, Trung Quốc và Việt Nam. Năm 1961 – 1968 John Buyce, nhà bệnh cây rừng người Mỹ đã mô tả một số bệnh cây rừng, trong đó có bệnh hại cây Keo. Năm 1953 Roger đã nghiên cứu một số bệnh hại trên cây Mỡ và cây Keo.
Brown (người Anh, 1968) cũng đề cập đến một số bệnh hại Keo. Cây Keo có hiện tượng bị khô héo, rụng lá và tàn lụi từ trên xuống dưới (chết ngược) do loài nấm hại lá Glomerlla cingulata (giai đoạn vô tính là nấm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Colletrichum gleosporioides.), đó là nguyên nhân chủ yếu của gây hại đối với loài Keo(A. mangium)trong vườn giống ở Papua New Guinea và Ấn Độ (FAO, 1981). Theo nghiên cứu của Lee và Goh, năm 1989 loài nấm này còn gây hại ở các loài Keo (Acacia sp.
Trong điều kiện khí hậu ẩm ướt, lá và thân cây Keocòn bị loài nấm Cylindrocladium quinqueseptatumgây hại (theo nghiên cứu của Mohaman và Shaama 1988). Nhiều nhà nghiên cứu của Ấn Độ, Malaysia, Philipin, Trung Quốc cũng được công bố nhiều loại nấm bệnh gây hại các loài Keo như các công trình của Vannhin, L. Tại hội nghị lần thứ III nhóm tư vấn nghiên cứu và phát triển của các loài Acacia, họp tại Đài Loan cuối tháng 6 năm 1964 nhiều đại biểu kể cả các tổ chức Quốc tế như CIFOR (Trung tâm nghiên cứu Lâm nghiệp Quốc tế) cũng đã đề cập đến các vấn đề sâu bệnh hại các loài Acacia. (Ấn Độ) nghiên cứu vùng trồng Keo lá tràm ở Kalyani nadia, đã phát hiện nấm Bào tử bột (Oidium sp.) gây hại trên cây con.J và cộng sựthuộc viện Nghiên cứu Lâm nghiệp Kerela Ấn Độ, đã phát hiện ra bệnh phấn hồng do nấm Corticium salmonicolor gây hại trên vùng trồng Keo (A.
auricuformis) bang Kerela, tỷ lệ cây chết 10%. Các nghiên cứu về bệnh hại trên cây Keo cũng đã được tập hợp khá đầy đủ trong cuốn sách: “Cẩm nang bệnh hại trên cây Keoở Ôxtrâylia, Đông Nam Á và Ấn Độ”, trong đó có các bệnh khá quen thuộc đã từng có ở nước ta như bệnh phấn trắng, bệnh đốm lá, bệnh phấn hồng và rỗng ruột (Ken old et al, 2000). Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 1. Nghiên cứu về bệnh cây Việt Nam là một quốc gia có khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, nên rất thuận lợi cho cho nhiều vật gây bệnh trên thực vật, phát sinh và gây hại, các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cây trồng ít nhiều đều bị bệnh.
Song khoa học bệnh hại thực vật nói chung và khoa học bệnh cây rừng ở nước ta được bắt đầu nghiên cứu muộn hơn so với thế giới. Môn khoa học bệnh cây rừng được phát triển từ những năm đầu của thập kỷ 60 (Trần Văn Mão, 2003). Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm mưa nhiều, đã đưa đến không ít những thuận lợi nhưng cùng với đó là những khó khăn, làm cản trở hoặc phá hoại cơ sở vật chất và thành quả của sản xuất lâm nghiệp.