Đặt vấn đề Cây lúa (Oryza sativa L) là cây trồng có từ lâu đời và gắn liền với quá trình phát triển của loài ngƣời. Từ buổi đầu của nền văn minh, cây lúa là cây trồng đƣợc gắn liền với quá trình phát triển của loài ngƣời và đã trở thành cây lƣơng thực chính của Châu Á nói chung, ngƣời Việt Nam ta nói riêng và có vai trò quan trọng trong nét văn hoá ẩm thực của dân tộc ta. Khi xã hội càng phát triển, nhu cầu ăn ngon của ngƣời dân ngày càng tăng vì vậy lúa chất lƣợng đã trở thành nhu cầu không thể thiếu trong bữa ăn hằng ngày của ngƣời dân trong và ngoài nƣớc. Theo Yuan Longping (2004) dân số hiện nay của thế giới đã là hơn 6 tỷ ngƣời.
Con số này sẽ đạt tới 8 tỷ vào năm 2030. Trong khi dân số tăng thì diện tích đất canh tác bị thu hẹp dần, do đất đƣợc chuyển sang các mục đích sử dụng khác. Áp lực của tăng dân số cùng với áp lực từ thu hẹp diện tích đất trồng trọt nên sản xuất lƣơng thực của thế giới ngày càng tăng. Cách duy nhất để con ngƣời giải quyết vấn đề này là ứng dụng khoa học kỹ thuật tìm cách nâng cao năng suất các loại cây trồng [51].
Lúa là loại cây lƣơng thực chính và cung cấp lƣơng thực cho hơn một nửa dân số thế giới. Ngƣời ta ƣớc tính đến năm 2030 sản lƣợng lúa của thế giới phải tăng thêm 60% so với sản lƣợng năm 1995. Về mặt lý thuyết, lúa có khả năng cho sản lƣợng cao hơn nếu điều kiện canh tác nhƣ hệ thống tƣới tiêu, chất lƣợng đất, biện pháp thâm canh và giống đƣợc cải thiện. Trong tất cả các yếu tố đó, cải tạo giống đóng vai trò rất quan trọng [51].
Thực tế sản xuất cho thấy năng suất và chất lƣợng của một số giống lúa phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhƣ: Giống, kỹ thuật trồng trọt, thời tiết. Trong đó kỹ thuật trồng trọt nhƣ mật độ và phân bón có ảnh hƣởng quyết định đến năng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www. Mật độ cùng với tỷ lệ đẻ nhánh quyết định yếu tố cấu thành năng suất cơ bản nhất đó là số bông/m2. Giống mới cũng chỉ phát huy đƣợc tiềm năng của mình cho năng suất cao khi đƣợc bón đủ phân và bón phân hợp lý [21].
Ôn Lƣơng là một xã phía tây của huyện Phú Lƣơng - tỉnh Thái Nguyên có trên 300 ha diện tích lúa/năm. Việc khai thác sử dụng đất 2 vụ trong vụ xuân và vụ mùa hiện nay ở Ôn Lƣơng đang đƣợc thúc đẩy theo hƣớng chuyển dịch cơ cấu sản xuất, nhằm nâng cao năng suất, chất lƣợng và hiệu quả kinh tế góp phần không nhỏ trong công cuộc xoá đói giảm nghèo của xã, giải quyết vấn đề lƣơng thực nhất là gạo có chất lƣợng cao cho ngƣời dân đô thị, tận dụng nguồn lao động nông nhàn sẵn có, ngoài ra khai thác đất 2 vụ gieo trồng bằng các giống lúa chất lƣợng cũng góp phần làm thay đổi tập quán, phƣơng thức sản xuất tự cung, tự cấp, chuyển sang sản xuất hàng hoá của một bộ phận nông dân nông thôn, đó là những mặt tích cực mà việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất nhất là chuyển dịch cơ cấu giống lúa trong nông nghiệp đem lại cho nông dân. Mục tiêu phấn đấu trong thời gian tới là góp phần nâng cao thu nhập cho nông dân trên một đơn vị diện tích, thực hiện thành công chủ trƣơng chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong vụ mùa, vụ xuân tiến tới khai thác cây trồng vụ đông, xây dựng thành công mô hình những cánh đồng đạt và vƣợt 50 triệu đồng trên một ha theo phong trào thi thi đua mà ngành nông nghiệp phát động. Muốn làm đƣợc điều đó, trƣớc hết cần phải có những nghiên cứu thử nghiệm ban đầu để làm mô hình khuyến cáo mở rộng.
Xuất phát từ tình hình trên chúng tôi thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh giống lúa JO2 và ĐS1 tại Phú Lƣơng Thái Nguyên. Mục tiêu của đề tài 1. Mục tiêu tổng thể Nâng cao năng suất, chất lƣợng lúa cho vùng sản xuất lúa cao sản. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.
Mục tiêu cụ thể Nghiên cứu ảnh hƣởng của một số tổ hợp phân bón đến năng suất, chất lƣợng giống lúa J02 và ĐS1. Xác định phƣơng pháp làm mạ và mật độ cấy thích hợp cho các giống lúa thí nghiệm. Xác định công thức có năng suất, chất lƣợng và đạt hiệu quả kinh tế cao để nhân ra diện rộng. Ý nghĩa của đề tài * ý nghĩa khoa học Nghiên cứu xác định đƣợc thời gian sinh trƣởng, phát triển, khả năng thích ứng, năng suất của các giống lúa thí nghiệm.
Là cơ sở cho việc đề xuất hƣớng chuyển dịch cơ cấu giống cây trồng theo hƣớng hàng hoá. * Ý nghĩa thực tiễn Lựa chọn giống lúa có chất lƣợng, có hiệu quả kinh tế cao, khuyến cáo nhân rộng mô hình với quy mô hợp lý. Góp phần định hƣớng cho nông dân chuyển từ sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá. Đa dạng hoá thêm bộ giống lúa chất lƣợng tại địa phƣơng.
Đề tài mang tính ứng dụng cao, đƣợc ứng dụng vào thực tiễn sản xuất góp phần làm thay đổi tập quán sản xuất tự cung, tự cấp, chuyển sang sản xuất hàng hoá của nông dân. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 4 PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài Các giống lúa khác nhau có khả năng thích ứng với điều kiện sinh thái, thổ nhƣỡng ở mỗi vùng khác nhau. Để xác định đƣợc giống tốt cho một vùng sản xuất nào đó cần phải tiến hành khảo nghiệm, gieo cấy thử nghiệm qua một vài vụ sản xuất để đánh giá khả năng thích ứng của giống đó.
Do đó việc xác định tính thích nghi của giống nào đó trƣớc khi đƣa ra sản xuất trên diện rộng phải tiến hành bố trí gieo trồng tại nhiều vùng có đặc điểm sinh thái khác nhau nhằm đánh giá khả năng thích ứng, độ đồng đều, tính ổn định, khả năng chống chịu sâu, bệnh, mức độ chịu đất chua mặn, khả năng cho năng suất, hiệu quả kinh tế của giống đó so với các giống đang gieo trồng đại trà hiện có tại một khu vực hoặc một địa phƣơng nào đó. Hoạt động chính của ngƣời nông dân là sản xuất nông nghiệp. Trong lĩnh vực trồng trọt đối tƣợng cần nghiên cứu là giống cây trồng và các yếu tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng của nó nhƣ nƣớc, phân bón, thời tiết, khí hậu… Năng suất cây trồng nói chung và cây lúa nói riêng chịu tác động của các yếu tố tự nhiên nhƣ đất, nƣớc, dinh dƣỡng, khí hậu, thời tiết đồng thời nó cũng chịu tác động trực tiếp của các yếu tố kinh tế - xã hội nhƣ trình độ canh tác, biện pháp kỹ thuật, khả năng đầu tƣ, thâm canh…việc bón phân và bố trí mật độ hợp lý nhằm phân bố hợp lý đơn vị diện tích lá/đơn vị diện tích đất, tận dụng nguồn năng lƣợng ánh sáng mặt trời, hạn chế sâu bệnh hại, tạo tiền đề cho năng suất cao. Ngoài ra, việc bố trí mật độ hợp lý còn tiết kiệm đƣợc hạt giống công lao động và các chi phí khác góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa hiện nay.
Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu về phân bón và phƣơng pháp cấy chƣa nhiều và thiếu các nghiên cứu hệ thống vấn đề này. Thực tế đây là một biện pháp kỹ thuật quan trọng trong thâm canh lúa. Với Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 5 mỗi giống lúa, mỗi mức phân bón, mức đầu tƣ kỹ thuật trên các vùng khác nhau thì cần có các nghiên cứu tìm ra phƣơng pháp bón phân và mật độ cấy hợp lý, đây là một việc làm thƣờng xuyên của các nhà khoa học. Chính vì vậy đề tài mang đủ cơ sở khoa học và thực tiễn.
Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa trên thế giới 2. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới Hiện nay thế giới có trên 100 nƣớc trồng lúa ở hầu hết các châu lục. Tuy nhiên, sản xuất lúa gạo vẫn tập trung chủ yếu ở các nƣớc châu Á nơi chiếm tới 90% diện tích gieo trồng và sản lƣợng [54]. Sau đây chúng ta thấy biến động về diện tích, năng suất và sản lƣợng lúa trên toàn thế giới trong vài thập kỷ gần đây.
Tình hình sản xuất lúa trên thế giới trong vài thập kỷ gần đây Diện tích Năng suất Sản lƣợng Năm (Nghìn ha) (tạ/ha) (Triệu tấn) 1970 132. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.1 cho thấy: Diện tích canh tác lúa trên thế giới trong vài thập kỷ gần đây có xu hƣớng tăng. Song tăng mạnh nhất vào những thập niên 70, 90 của thế kỷ XX và có xu hƣớng ổn định từ những năm đầu của thế kỷ XXI. Về năng suất của lúa cũng tăng dần qua các năm và tăng nhanh nhất vào thập niên 70, 80.
Đến thập niên 90 và những năm đầu của thế kỷ XXI năng suất lúa tăng chậm lại song nhìn chung năng suất tăng gần gấp đôi từ 23,81 tạ/ha năm 1970 lên 42,04 tạ/ha vào năm 2009. Điều này cho thấy “cuộc Cách mạng xanh” từ giữa thập niên 60 đã ảnh hƣởng tích cực đến sản lƣợng lúa của thế giới nói chung và của châu Á nói riêng, những tiến bộ kỹ thuật mới nhất là giống mới, kỹ thuật thâm canh tiên tiến đƣợc áp dụng rộng rãi trong sản xuất đã góp phần làm cho sản lƣợng lúa tăng lên đáng kể. Châu Á gồm 8 nƣớc có sản lƣợng cao nhất đó là Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Bangladesh, Thái Lan, Việt Nam, Myanma và Nhật Bản. Hiện nay châu Á có diện tích lúa cao nhất với 143,4 triệu ha, sản lƣợng 611,7 triệu tấn [54].
Tình hình sản xuất lúa gạo của 10 nƣớc đứng đầu thế giới năm 2009 Diện tích Năng suất Sản lƣợng Tên nƣớc (ha) (tạ/ha) (tấn) Thế giới 161. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 7 Qua Bảng 2.2 cho thấy: Nƣớc có diện tích trồng lúa lớn nhất là Ấn Độ với diện tích 44,1 triệu ha, sản lƣợng lúa của Ấn Độ là 131,3 triệu tấn, chiếm 19,3% tổng sản lƣợng của thế giới. Trung Quốc là một nƣớc có dân số đông nhất thế giới, trong vài thập niên gần đây Trung Quốc có nhiều thành tựu trong cải tiến giống lúa, trong đó đặc biệt quan tâm đến sử dụng ƣu thế lai ở lúa do đó năng suất bình quân đạt 65,9 tạ/ha, sản lƣợng đạt 197,26 triệu tấn (đứng đầu về sản lƣợng lúa trên thế giới).