PHẦN MỞ ĐẦU CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỘNG ĐƢỜNG BỜ VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ VIỄN THÁM VÀ HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÝ TRONG NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỘNG ĐƢỜNG BỜ 14 z CHƢƠNG 2: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐẾN BIẾN ĐỘNG ĐƢỜNG BỜ KHU VỰC NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 3: PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ BIẾN ĐỘNG ĐƢỜNG BỜ VÀO CÁC GIAI ĐOẠN 2003 - 2010 - 2018 PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 15 z CHƢƠNG 1 - TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỘNG ĐƢỜNG BỜ VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ VIỄN THÁM VÀ HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÝ TRONG NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỘNG ĐƢỜNG BỜ 1. Tổng quan về biến động đƣờng bờ 1. Một số khái niệm về đường bờ Hiện nay, cả trên thế giới cũng nhƣ ở Việt Nam, một số khái niệm đƣợc sử dụng trong nghiên cứu bờ biển còn đƣợc hiểu rất khác nhau giữa các nhà khoa học cũng nhƣ các nhà quản lý. Theo hƣớng vuông góc với hƣớng đƣờng bờ, một trắc diện bao gồm 4 bộ phận: bờ biển (coast), bãi biển (beach), đới gần bờ (nearshore) và đới ngoài khơi (hoặc đới sƣờn bờ ngập nƣớc, sƣờn bờ ngầm, offshore) (hình 1.
Sơ đồ biểu diễn các thuật ngữ về bờ biển Bờ biển (Coast) là một dải đất có chiều rộng không xác định mở rộng từ đƣờng bờ vào sâu trong đất liền tới sự thay đổi đầu tiên về địa hình. Các vách, các cồn cát tiền tiêu, hoặc đƣờng thực vật có mặt thƣờng xuyên. Trên các bờ có các đảo/cồn chắn (barrier), một tổ hợp đầm phá sau barrier, bãi lầy, lạch triều cũng đƣợc xem là một phần của bờ. Trên các vùng đồng bằng châu thổ (delta), ranh giới về phía đất liền khó xác định hơn.
Còn ranh giới về phía biển vƣơn tới vị trí mức sóng bão - đó chính là đường bờ trong (coastline). Trên các đoạn bờ dốc đứng, thì đƣờng 16 z bờ trong và đƣờng bờ ngoài (shoreline) có thể trùng nhau. Theo Bách khoa Toàn thƣ về Địa lý Xô-Viết, thì bờ biển là một dải hẹp gồm có cả bãi biển chạy dọc theo đƣờng bờ có giới hạn về phía biển là đƣờng mực triều thấp nhất. Bãi biển (beach) là một tích tụ trầm tích bở rời , nhƣ cát, cuội sỏi hoă ̣c tảng , đôi khi nằm tại bờ sau, nhƣng thƣờng mở rộng qua cả bờ nƣớc.
Một số bãi mở rộng xuống dƣới tới mực thủy triều thấp. trên các bãi cuội bãi đá thƣờng đƣợc mài mòn tốt. Bãi biển đƣợc mở rộng từ đƣờng nƣớc thấp về phía đất liền tới vị trí tác động của sóng bão (đƣờng bờ trong). Đây là phần mặt đất đƣợc lộ ra và bị ngập bởi thủy triều hoặc sóng, hoặc là đới nằm giữa mực nƣớc cao và mực nƣớc thấp.
Bãi biển có thể tƣơng đƣơng với đới triều. Bãi có thể đƣợc chia thành 2 đới: bờ/bãi sau (backshore) và bờ/bãi trƣớc (foreshore). Bãi trƣớc có thể tƣơng đƣơng với đới triều (littoral zone). Bãi sau đƣợc phân bố trong phạm vi giữa đƣờng bờ trong và đƣờng bờ ngoài và gần nhƣ nằm ngang, trong khi đó bãi trƣớc lại nghiêng về phía biển.
Đường bờ biển (shoreline): Theo quan niệm chung, đƣờng bờ biển là ranh giới tiếp xúc giữa biển và đất liền. Đƣờng này luôn dịch chuyển theo sự dao động của mực nƣớc biển theo chu kỳ ngắn (thủy triều), chu kỳ dài (chu kỳ thiên văn) hoặc không theo chu kỳ. Tuy nhiên để nghiên cứu biến động đƣờng bờ biển cần phải xác định rõ 2 đƣờng bờ: đƣờng bờ trong và đƣờng bờ ngoài. Đường bờ trong (coastline) là ranh giới tác động cao nhất của sóng trong năm (thƣờng là sóng bão) với đất liền; hoặc đơn giản hơn, là đƣờng ranh giới giữa bờ và bãi, hoặc giữa đất và nƣớc.
Đường bờ ngoài là đƣờng giao nhau giữa mặt nƣớc với bãi biển nằm ở vị trí mực nƣớc cao trung bình. Biến động đường bờ đó là sự thay đổi vị trí đƣờng bờ theo không gian và thời gian. Có hai dạng một là biến đổi đƣờng bờ do quá trình tích tụ: hiện tƣợng đƣờng bờ biển lấn dần ra phía biển. Còn quá trình xói lở: hiện tƣợng đƣờng bờ biển lấn dần về phía lục địa và có hai hiện tƣợng xói lở: xói lở bãi và xói lở đƣờng bờ [6, 21].
Biến động địa hình bờ biển , đă ̣c biệt là do xói lở bờ, có tác động rất lớn đến các cộng đồng dân cƣ và các hệ sinh thái ven bờ trên toàn thế giới. Nghiên cứu biến động địa hình bờ biển , thực chất, là nghiên cứu các quá trình địa mạo bờ nhằm tìm ra những đă ̣c điểm hình thái và động lực hiện nay , lịch sử tiến hóa trong quá khứ và 17 z dự báo xu hƣớng phát triển của nó trong tƣơng lai. Cũng nhƣ trên đất liền, hoạt động của các quá trình địa mạo ở bờ biển đƣợc biểu hiện cụ thể ở sự hình thành một dạng địa hình nào đó (quá trình xây dựng - tích tụ) hoă ̣c ở sự phá hủy một thành tạo địa hình khác (quá trình phá hủy - xói lở) dƣới tác động của rất nhiều nhân tố động lực khác nhau tƣ̀ phía biển cũng nhƣ tƣ̀ phía lục địa , cả các nhân tố tự nhiên cũng nhƣ các tác động của con ngƣời. Xói lở và bồi tụ là hai mă ̣t đối lập trong một quá trình địa mạo gây nên tình trạng biến đổi hình thái bờ biển.
Trong mấy chục năm gần đây, trên khắp thế giới, hiện tƣợng xói lở bờ biển đã trở thành vấn đề rất nghiêm trọng và chiếm ƣu thế hơn hẳn so với bồi tụ và đƣợc các quốc gia có biển, các tổ chức khoa học và nhiều nhà khoa học quan tâm. Ngày nay, nhiều nƣớc, nhiều nhà quản lý , nhà hoạch định chính sách , nhà khoa học đều thƣ̀a nhận rằng , các kết quả nghiên cứu biến động địa hình (nghĩa là các quá trình địa mạo) cả trên đất liền cũng nhƣ ở bờ biển là một trong những nguồn tài liệu quan trọng để xây dƣng quy hoạch phát triển và quản lý môi trƣờng đới bờ biển. Ảnh chụp tại Rạch Gốc, xã Tân An, huyện Ngọc Hiển, Cà Mau cho thấy, sau 15 năm, bờ biển khu vực này bị xói lở khoảng 1km (Vũ Văn Phái) 1. Cơ sở để xác định đường bờ biển Dựa vào số liệu thủy triều thu đƣợc từ trạm khí tƣợng Phan Thiết vào thời 18 z điểm thu ảnh cùng với tra cứu phần mềm wxtide32, tôi đƣa ra nhận xét nhƣ sau: Thủy triều vùng ven biển Bình Thuận khá phức tạp, nằm trong khu vực chuyển tiếp giữa chế độ nhật triều không đều ở phía Bắc (tiêu biểu là Qui Nhơn) và bán nhật triều không đều ở phía Nam (Vũng Tàu).
Dao động triều khoảng 2m. Số liệu thủy triều ngày 29/12/2003 từ phần mềm wxtide32 Hình 1. Số liệu thủy triều ngày 31/5/2010 từ phần mềm wxtide32 Hình 1. Số liệu thủy triều ngày 18/5/2018 từ phần mềm wxtide32 19 z Bảng 1.
Mức thủy triều tại thời điểm thu ảnh Thời điểm chụp 3:12:09(GMT) 3:13:22(GMT) 3:22:30(GMT) 29/12/2003 31/5/2010 18/5/2018 Mức thủy triều (m) 1.98 Do tại thời điểm thu ảnh tại 2 thời kì 2010 và 2018 không có mƣa bão hay gió lớn, mức thủy triều là xấp xỉ nhau và xấp xỉ với mức thủy triều cao nhất, nên tôi lựa chọn đƣờng bờ biển để nghiên cứu là đƣờng ranh giới giữa đất và nƣớc. Tại thời điểm thu ảnh năm 2003, mức thủy triều thấp hơn 2 thời kì 2010, 2018 khoảng 1. Do vậy nếu lấy đƣờng bờ tại thời điểm năm 2003 là ranh giới giữa nƣớc và đất thì sẽ có sai số rất lớn. Dựa vào bản đồ địa hình đáy biển 1:50.000 khu vực TP.
Phan Thiết thu thập đƣợc tôi đƣa ra nhận xét nhƣ sau: - Sau khi tính toán độ dốc từng đoạn trong khu vực nghiên cứu và khoảng cách giữa đƣờng mép nƣớc với đƣờng ranh giới của đất và mức sóng tác động cao nhất tại thời điểm thu ảnh tôi nhận thấy vị trí tác động cao nhất của sóng này khá trùng với đƣờng ranh giới đất và nƣớc ứng với mức thủy triều ~3m ( sai lệch ~2-5m) - Do đó, tại thời điểm năm 2003, đƣờng bờ tôi lựa chọn để nghiên cứu là đƣờng tƣơng ứng với vị trí tác động cao nhất của sóng tại thời điểm thu ảnh. Độ dốc và khoảng cách đƣờng mép nƣớc với vị trí tác động cao nhất của sóng tại thời điểm thu ảnh 2003 đoạn Hòn Rơm – Mũi Né 20 z Hình 1. Độ dốc và khoảng cách đƣờng mép nƣớc với vị trí tác động cao nhất của sóng tại thời điểm thu ảnh 2003 đoạn Hàm Tiến Hình 1. Độ dốc và khoảng cách đƣờng mép nƣớc với vị trí tác động cao nhất của sóng tại thời điểm thu ảnh 2003 đoạn Đồi Dƣơng Hình 1.
Độ dốc và khoảng cách đƣờng mép nƣớc với vị trí tác động cao nhất của sóng tại thời điểm thu ảnh 2003 đoạn Tiến Thành 21 z Hình 1. Đƣờng bờ lựa chọn theo các năm ( Từ trái qua phải: 2003,2010,2018) 1. Biến động đường bờ ở Việt Nam Xói lở bờ biển ở nƣớc ta có 3 nhóm nguyên nhân chính gồm: Nhóm nguyên nhân nội sinh (hoạt động kiến tạo, cấu trúc địa chất); Nhóm nguyên nhân ngoại sinh (Sóng, dòng chảy, bão…); Nhóm nguyên nhân do hoạt động của con ngƣời (công trình thủy lợi, khai thác khoáng sản, chặt phá rừng…). Số liệu tại Báo cáo quốc gia về "Ðánh giá xói lở bờ biển Việt Nam" của Bộ TN&MT năm 2013 cho thấy, hiện trạng xói lở đang diễn ra nghiêm trọng với quy mô, cƣờng độ ngày càng tăng.
Các khu vực bị xói lở nghiêm trọng nhất tập trung ở các tỉnh nhƣ: TP. Hải Phòng (ở các đoạn: Cát Hải, Bằng La), Thụy Xuân (Thái Bình), Xuân Thủy, Hải Hậu (Nam Định), Thanh Hóa, Thừa Thiên Huế, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Phú Yên, Bình Thuận. Quá trình xói lở diễn ra ở hầu hết các kiểu kiến tạo: sỏi cát, bùn sét, bùn, cát… song chủ yếu vẫn là bờ cát chiếm đến 94% tổng số đoạn bị xói lở. Ðiều đáng lo ngại, hiện nay, đã có 121 đoạn bờ có công trình phòng hộ (nhƣ đê, kè, trồng cây) nhƣng tình trạng xói lở vẫn diễn ra thƣờng xuyên.
Ở cấp độ địa phƣơng, tại một số tỉnh nhƣ Thanh Hóa có 18,1 km bị xói lở, tốc độ xói lở trung bình từ 15 đến 30 m/năm, khu vực xói lở mạnh nhất là Hoằng Hóa, Hậu Lộc và Sầm Sơn; tỉnh Quảng Bình, có 50 km bị xói lở; tỉnh Quảng Trị có 34 km bị xói lở. Theo số liệu thống kê 2017, cả nƣớc có 284 đoạn bị xói lở, trong đó, có 81 đoạn bị xói lở dài từ 200 – 1000m, 57 đoạn dài 1.000m, 12 đoạn bị xói lở dài hơn 6.