Tổng quan nghiên cứu

Các hệ thống sông ngòi toàn cầu phát thải khoảng 1,8 PgC/năm khí CO2 vào khí quyển dù chỉ chiếm 0,47% tổng diện tích bề mặt Trái Đất. Trong đó, các dòng sông nhiệt đới Châu Á đóng góp tới 50% tổng tải lượng chất rắn lơ lửng toàn cầu, giữ vai trò then chốt trong chu trình cacbon nhưng đang chịu áp lực nhân sinh nghiêm trọng. Lưu vực sông Hồng có tổng diện tích tự nhiên 169.900 km2, trong đó phần lãnh thổ Việt Nam chiếm 51,7% tương đương 87.800 km2 với hơn 40 triệu dân sinh sống. Áp lực từ mật độ dân số cao lên tới 2.398 người/km2 tại Hà Nội, đi kèm thực trạng hơn 700.000 m3/ngày đêm nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý xả trực tiếp ra môi trường, cùng chuỗi hơn 50 công trình thủy điện thượng nguồn đã làm biến đổi sâu sắc chế độ thủy văn và cân bằng cacbon thủy vực.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là đánh giá sự biến đổi không gian và thời gian của áp suất riêng phần CO2 (pCO2) cùng tốc độ bốc thoát khí CO2 (fCO2) từ bề mặt nước sông Hồng vào khí quyển. Phạm vi nghiên cứu bao quát 12 trạm quan trắc thủy văn và sông nội đô trải dài từ vùng thượng nguồn Yên Bái, Hòa Bình đến vùng hạ lưu Ba Lạt và khu vực đô thị Hà Nội trong suốt 12 tháng của năm 2019. Luận văn cung cấp bộ cơ sở dữ liệu thực nghiệm quan trọng, phục vụ công tác kiểm kê khí nhà kính quốc gia và định lượng chính xác sự đóng góp của hệ thống sông nhiệt đới vào mô hình biến đổi khí hậu toàn cầu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên hai trục lý thuyết nền tảng trong khoa học môi trường và địa hóa sinh học:

Lý thuyết trao đổi khí tại giao diện nước - khí quyển chỉ ra rằng các dòng sông không chỉ đơn thuần là đường dẫn chuyển tải vật chất ra biển mà hoạt động như một lò phản ứng sinh hóa, nơi sự siêu bão hòa khí hòa tan thúc đẩy quá trình bốc thoát CO2 tự nhiên.

Lý thuyết cân bằng hệ đệm cacbonat mô tả sự dịch chuyển trạng thái hóa học giữa CO2 hòa tan, axit cacbonic, bicarbonate (HCO3-) và cacbonat (CO32-) phụ thuộc chặt chẽ vào độ pH của nước. Ở dải pH trung tính từ 6,9 đến 7,4 của sông Hồng, dạng tồn tại chủ yếu của cacbon vô cơ là ion HCO3-.

Các khái niệm chuyên ngành cốt lõi trong nghiên cứu bao gồm: Áp suất riêng phần khí carbonic (pCO2), Tốc độ bốc thoát khí CO2 qua mặt nước (fCO2), Cacbon hữu cơ không tan (POC), Nhu cầu oxy hóa học (COD) và Hệ số truyền khí bề mặt (k600).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu sơ cấp được thiết lập qua chương trình quan trắc định kỳ hàng tháng từ tháng 1/2019 đến tháng 12/2019 tại 12 vị trí chiến lược, tạo nên bộ dữ liệu gồm 144 mẫu nước mặt. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích bao gồm 3 trạm hợp lưu thượng nguồn (Yên Bái, Vụ Quang, Hòa Bình), 2 trạm dòng chính (Sơn Tây, Hà Nội), 5 trạm phân lưu đồng bằng cửa sông (Ba Lạt, Trực Phương, Nam Định, Quyết Chiến, Gián Khẩu) và 2 điểm sông nội đô (sông Tô Lịch, sông Nhuệ).

Quy trình thu thập và bảo quản mẫu tuân thủ nghiêm ngặt tiêu chuẩn quốc gia TCVN 6663-6:2018 và TCVN 6663-3:2018, lấy mẫu tại độ sâu 30 cm giữa dòng chảy. Các chỉ tiêu pH, nhiệt độ, độ muối được đo trực tiếp tại hiện trường bằng máy đo tự động TOA WQC-22A. Hàm lượng tổng chất rắn lơ lửng (TSS) và POC được phân tích qua màng lọc sợi thủy tinh Whatman GF/F bằng phương pháp sấy ở 105°C trong 2 giờ và nung ở 550°C trong 4 giờ. Hàm lượng COD được xác định bằng phương pháp oxy hóa kali đicromat trên máy quang phổ Jasco V-630 ở bước sóng 600 nm. Hàm lượng HCO3- được xác định bằng chuẩn độ axit HCl 0,01M với chỉ thị methyl da cam.

Giá trị pCO2 được tính toán thông qua phần mềm chuẩn quốc tế CO2SYS dựa trên các hằng số nhiệt động học của Roy và Dickson. Tốc độ bốc thoát fCO2 được xác định qua mô hình động lực học Alin - Raymond kết hợp lưu lượng nước tại trạm Sơn Tây đạt 3.800 m3/s, độ sâu và độ dốc lòng dẫn. Phép kiểm định t-test và hệ số tương quan Pearson được xử lý trên phần mềm R version 3.2 để đảm bảo độ tin cậy thống kê cao.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, hàm lượng ion bicarbonate (HCO3-) và áp suất pCO2 có sự phân hóa không gian sâu sắc. Giá trị HCO3- trung bình toàn hệ thống đạt 149,5 ± 89,4 mg/L, dao động trong biên độ cực rộng từ 87,3 mg/L đến 423,9 mg/L. Các điểm sông nội đô chịu tải lượng ô nhiễm cao như sông Tô Lịch ghi nhận giá trị HCO3- trung bình lên tới 365,7 ± 67,1 mg/L và sông Nhuệ đạt 307,5 mg/L, cao gấp từ 1,8 lần đến 3,0 lần so với các trạm thượng nguồn sông Đà tại Hòa Bình (102,8 ± 7,0 mg/L).

Thứ hai, tải lượng cacbon hữu cơ không tan (POC) và COD phản ánh áp lực nhân sinh rõ nét. Hàm lượng POC trung bình toàn lưu vực đạt 2,2 ± 1,1 mgC/L, thấp nhất tại trạm Hòa Bình với 1,3 ± 0,3 mgC/L và cao nhất tại sông Tô Lịch đạt 4,4 ± 1,3 mgC/L. Chỉ số COD toàn hệ thống đạt trung bình 28,9 mg/L, trong đó sông Tô Lịch vào mùa khô đạt đỉnh 88,6 ± 10,1 mg/L, cao hơn gấp 12 lần so với trạm Hòa Bình (6,9 ± 4,7 mg/L).

Thứ ba, sự sụt giảm nghiêm trọng của chất rắn lơ lửng (TSS) do các công trình thủy điện thượng nguồn. Hàm lượng TSS tại trạm hồ chứa Hòa Bình chỉ đạt mức 6,5 mg/L, thấp hơn 18 lần so với trạm Yên Bái trên sông Thao (120,9 mg/L) và thấp hơn 7,9 lần so với trạm Sơn Tây (51,6 mg/L). Sự suy giảm này làm thay đổi cơ chế hấp phụ và chuyển tải cacbon hữu cơ xuống hạ lưu.

Thứ tư, tính quy luật mùa thể hiện rõ rệt khi hàm lượng POC và tốc độ bốc thoát CO2 trong mùa mưa (tháng 5 đến tháng 10) luôn cao hơn mùa khô từ 25% đến 45% tại hầu hết các trạm đo do quá trình xói mòn và rửa trôi đất bề mặt.

Thảo luận kết quả

Sự gia tăng đột biến của pCO2 và fCO2 tại khu vực hạ lưu và sông đô thị bắt nguồn từ quá trình khoáng hóa sinh học hiếu khí và yếm khí các hợp chất hữu cơ. Lưu lượng nước thải sinh hoạt khổng lồ từ Hà Nội cùng với khoảng 43 triệu m3/năm nước thải từ 700 làng nghề vùng đồng bằng sông Hồng đã cung cấp nguồn cơ chất hữu cơ dồi dào, kích thích vi sinh vật phân hủy và giải phóng một lượng lớn CO2 tự do vào tầng nước mặt.

So sánh với các nghiên cứu trên sông Dương Tử (Trường Giang), việc vận hành chuỗi hồ chứa thủy điện Sơn La và Hòa Bình đã tạo ra các bẫy lắng giữ phù sa, làm giảm lượng POC liên kết hạt và hạ thấp tốc độ bốc thoát khí CO2 ở các nhánh sông thượng lưu có đập. Về mặt trình bày dữ liệu, các biến thiên này được minh họa trực quan qua biểu đồ dạng hộp (box-plot) thể hiện sự tương phản mùa khô - mưa, biểu đồ đường thể hiện mặt cắt dọc pCO2 từ Yên Bái về Ba Lạt, cùng ma trận nhiệt (heatmap) thể hiện hệ số tương quan Pearson giữa COD, TSS, nhiệt độ và fCO2.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các bằng chứng khoa học thu được, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm kiểm soát ô nhiễm hữu cơ và giảm thiểu phát thải CO2:

Xây dựng và nâng cấp hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập trung tại đô thị. Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và Bộ Xây dựng cần đẩy nhanh tiến độ các dự án nhà máy xử lý nước thải, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ xử lý nước thải sinh hoạt từ mức 20,62% hiện nay lên tối thiểu 60% vào năm 2028, nhằm giảm 40% tải lượng hữu cơ xả thẳng vào lưu vực sông Tô Lịch và sông Nhuệ.

Quy hoạch kiểm soát nguồn xả thải từ các làng nghề và khu công nghiệp. Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh Hà Nam, Nam Định, Hưng Yên cần hoàn thành việc lắp đặt hệ thống quan trắc xả thải tự động cho 100% các cụm công nghiệp và vùng làng nghề dọc lưu vực sông Nhuệ - Đáy trước năm 2027, áp dụng nghiêm ngặt quy chuẩn xả thải để cắt giảm 35% lượng COD phát sinh.

Thiết lập mạng lưới trạm quan trắc tự động liên tục đối với các thông số cacbon thủy vực. Bộ Tài nguyên và Môi trường cần đầu tư lắp đặt bổ sung 10 trạm quan trắc pCO2 và chất lượng nước tự động tại các vị trí xung yếu (như Yên Bái, Sơn Tây, Ba Lạt, sông Đáy) trong giai đoạn 2025-2027 nhằm xây dựng cơ sở dữ liệu thời gian thực.

Tối ưu hóa quy trình điều tiết thủy văn liên hồ chứa gắn với bảo vệ môi trường. Tập đoàn Điện lực Việt Nam phối hợp cùng Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam định kỳ xả nước thau rửa dòng chảy hạ lưu vào mùa khô, giảm thiểu hiện tượng phân tầng yếm khí tại các hồ chứa nhằm kiểm soát phát thải khí nhà kính trong giai đoạn 2025-2030.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Bộ Tài nguyên và Môi trường, Cục Quản lý Tài nguyên nước và Chi cục Bảo vệ Môi trường các tỉnh Đồng bằng sông Hồng có thể ứng dụng các số liệu thực tế về COD, POC, pCO2 để xây dựng hạn ngạch tiếp nhận nước thải và hoàn thiện báo cáo kiểm kê khí nhà kính quốc gia.

Nhóm viện nghiên cứu và trường đại học: Các nhà khoa học, giảng viên và học viên cao học thuộc chuyên ngành Kỹ thuật Môi trường, Hải dương học, Biến đổi Khí hậu có thể kế thừa quy trình mô hình hóa CO2SYS, công thức truyền khí Alin - Raymond và bộ số liệu 144 mẫu nền để phát triển các đề tài nghiên cứu chuyên sâu.

Nhóm doanh nghiệp cấp thoát nước và công trình đô thị: Các đơn vị quản lý hạ tầng thoát nước và xử lý nước thải tại lưu vực sông Nhuệ - Đáy có thể sử dụng kết quả đánh giá ô nhiễm hữu cơ để tối ưu hóa vị trí các trạm bơm cưỡng bức và thiết kế công nghệ xử lý sinh học phù hợp.

Nhóm các tổ chức quốc tế và phi chính phủ về môi trường: Các chuyên gia của IPCC, WB, UNDP hoạt động trong lĩnh vực ứng phó biến đổi khí hậu có thể tích hợp số liệu phát thải thực nghiệm của lưu vực sông Hồng vào mô hình tính toán chu trình sinh địa hóa khu vực Đông Nam Á.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao bề mặt nước sông Hồng lại đóng vai trò là nguồn phát thải khí CO2 vào khí quyển?

Hệ thống sông tiếp nhận lượng lớn chất hữu cơ ngoại sinh từ nước thải sinh hoạt, nông nghiệp và xói mòn đất. Quá trình hô hấp vi sinh vật phân giải các chất này diễn ra mạnh mẽ hơn quá trình quang hợp nội tại, tạo ra sự siêu bão hòa pCO2 trong nước so với không khí (vượt ngưỡng 400 ppm), buộc CO2 phải bốc thoát qua bề mặt tiếp xúc.

Các hồ chứa thủy điện lớn ở thượng nguồn tác động như thế nào đến sự phát thải CO2 của dòng sông?

Hồ chứa như Hòa Bình làm chậm tốc độ dòng chảy và giữ lại tới 90% lượng bùn cát lơ lửng, làm giảm hàm lượng TSS từ 120,9 mg/L ở sông Thao xuống còn 6,5 mg/L ở sông Đà. Sự suy giảm vật liệu hạt này làm giảm lượng cacbon hữu cơ không tan (POC), khiến tốc độ bốc thoát CO2 tại vùng hạ lưu đập thấp hơn đáng kể so với các sông tự nhiên.

Nước thải chưa qua xử lý tại Hà Nội làm tăng áp suất pCO2 trong nước như thế nào?

Với hơn 700.000 m3/ngày đêm nước thải chưa qua xử lý xả vào các nhánh sông như Tô Lịch và Nhuệ, nồng độ COD tăng vọt lên tới 88,6 mg/L và HCO3- đạt trên 365,7 mg/L. Vi khuẩn dị dưỡng tiêu thụ oxy hòa tan để phân hủy chất hữu cơ, giải phóng lượng lớn CO2 tự do và làm gia tăng đột biến áp suất pCO2.

Tốc độ bốc thoát CO2 giữa mùa mưa và mùa khô có sự khác biệt ra sao?

Vào mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10), lượng mưa lớn rửa trôi lớp đất mặt giàu hữu cơ và gia tăng lưu lượng dòng chảy tại trạm Sơn Tây lên mức đỉnh điểm. Điều này làm tăng hệ số truyền khí k600 và lượng POC, đẩy tốc độ bốc thoát fCO2 vào mùa mưa cao hơn mùa khô khoảng 30% đến 45%.

Việc tính toán pCO2 qua phần mềm CO2SYS mang lại ưu thế gì so với đo đạc thực địa trực tiếp?

Phần mềm CO2SYS cho phép tính toán chính xác pCO2 từ các chỉ tiêu pH, nhiệt độ, độ muối và độ kiềm HCO3- với chi phí thực nghiệm thấp, dễ chuẩn hóa trên quy mô mẫu lớn (144 mẫu). Phương pháp này đã được cộng đồng khoa học quốc tế công nhận, đảm bảo tính nhất quán cao khi so sánh dữ liệu giữa các lưu vực sông trên thế giới.

Kết luận

  • Luận văn đã xác lập bộ dữ liệu thực nghiệm toàn diện về sự biến đổi không gian và thời gian của pCO2 và fCO2 trên toàn bộ lưu vực sông Hồng trong suốt năm 2019.
  • Khẳng định hệ thống sông Hồng là nguồn phát thải ròng khí CO2 vào khí quyển, chịu sự chi phối đan xen giữa các yếu tố tự nhiên và hoạt động nhân sinh.
  • Chứng minh rõ nét tác động của các công trình hồ chứa thủy điện trong việc giữ lại bùn cát lơ lửng, làm giảm hàm lượng POC tại vùng hạ lưu đập Hòa Bình xuống 1,3 mgC/L.
  • Nhận diện các điểm nóng phát thải khí nhà kính tại các sông nội đô Hà Nội (Tô Lịch, Nhuệ) do tải lượng hữu cơ từ nước thải sinh hoạt và làng nghề chưa qua xử lý.
  • Đóng góp luận cứ khoa học quan trọng cho mô hình chu trình cacbon toàn cầu tại khu vực nhiệt đới gió mùa Châu Á.

Về kế hoạch triển khai tiếp theo, các cơ quan quản lý cần tiến hành mở rộng mạng lưới quan trắc tự động khí nhà kính từ năm 2025 đến năm 2030, đồng thời tích hợp kiểm soát dòng phát thải cacbon vào quy hoạch quản lý tổng hợp tài nguyên nước lưu vực sông Hồng. Các đơn vị nghiên cứu và nhà hoạch định chính sách hãy chủ động khai thác nguồn tài liệu thực nghiệm này để xây dựng các giải pháp kỹ thuật công nghệ xử lý nước thải và tối ưu hóa vận hành hồ chứa nhằm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững và giảm phát thải khí nhà kính quốc gia.