CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN 1. Tình hình biến đổi khí hậu trên Thế giới - Việt Nam và tỉnh Quảng Ninh 1. Tình hình BĐKH trên Thế giới Theo báo cáo đặc biệt về BĐKH lần thứ 5 (AR5) của IPCC [41] , các thông tin về biểu hiện của BĐKH đã được cập nhật. Một số điểm quan trọng về BĐKH đã được đề cập đến trong báo cáo của IPCC [41] như sau: 1.
Nhiệt độ Theo các báo cáo IPCC [41], trong 50 năm gần đây, nhiệt độ trung bình trên đất liền tăng nhanh hơn nhiệt độ bề mặt toàn cầu (Hình 1. Nếu xét trong giai đoạn 2009-2018, nhiệt độ bề mặt đất liền tăng nhanh hơn nhiều so với nhiệt độ bề mặt đại dương, tương ứng với mức tăng là 1,44°C và 0,89°C so với thời kỳ tiền công nghiệp (Hình 1. Nhiệt độ bề mặt toàn cầu quan trắc được giai đoạn 2005-2016 đã tăng khoảng 0,87°C (0,76÷0,98°C) so với thời kì tiền công nghiệp (1850-1900). Đặc biệt trong 10 năm gần đây (2009-2018), mức tăng còn nhanh hơn, đạt 1,06°C (0,95÷1,17°C).
Từ năm 1975 trở lại đây tốc độ tăng trung bình của nhiệt độ bề mặt toàn cầu 0,15÷0,2°C/thập kỷ, riêng bốn thập kỷ gần đây, nhiệt độ bề mặt toàn cầu được ghi nhận là cao nhất trong khoảng thời gian từ 1850 đến nay. Mức biến đổi nhiệt độ trung bình toàn cầu thời kỳ 1850-2018 [41] 3 Hình 1. Mức biến đổi nhiệt độ trung bình năm thời kỳ 1850-2018 [41] Theo công bố của Tổ chức Khí tượng Thế giới năm 2020, những năm nóng kỷ lục liên tiếp đều là những năm gần đây, đặc biệt là những năm trong thập kỷ thứ 2 của thế kỷ 21. Giai đoạn 2010-2019 được ghi nhận là thập kỷ nóng nhất kể từ thời kỳ tiền công nghiệp và 5 năm gần đây được ghi nhận là các năm có nhiệt độ cao nhất trong 140 năm qua.
Trong đó, năm 2019 được ghi nhận là năm thứ 5 liên tiếp nóng nhất trong lịch sử khí hậu, với mức tăng nhiệt độ trung bình năm toàn cầu đạt 1,1°C so với thời kỳ tiền công nghiệp. Lượng mưa Lượng mưa có xu thế tăng ở phần lớn các khu vực trên toàn cầu trong thời kỳ 1901-2018. Trong đó, xu thế tăng/giảm của lượng mưa giai đoạn trước 1950 có mức độ tin cậy thấp hơn giai đoạn sau. Lượng mưa trung bình toàn cầu quan trắc được giai đoạn 1980-2018 có xu thế tăng/giảm rõ ràng hơn so với các giai đoạn khác của thời kỳ 1901-2018, rõ ràng nhất ở các khu vực vĩ độ trung bình, vĩ độ cao, khu vực Trung Á và Đông Nam Á của Bắc bán cầu.
Xu thế giảm xảy ra chủ yếu ở Nam bán cầu như miền Nam Châu Phi, Châu Úc (Hình 1. Biến đổi của lượng mưa năm thời kỳ 1901-2018 [41] 1. Mực nước biển dâng Mực nước biển trung bình toàn cầu (GMSL) đang tăng, với tốc độ ngày càng nhanh trong những thập kỷ gần đây do tốc độ tan băng từ các tảng băng ở Greenland và Nam Cực ngày càng tăng (độ tin cậy rất cao), quá trình tan chảy của các sông băng và sự giãn nở nhiệt của đại dương vẫn tiếp diễn [41]. Mức tăng tổng cộng của GMSL trong giai đoạn 1902-2015 là 0,16 m (0,12÷0,21 m) với xu thế tăng 1,5 mm/ năm (1,1÷1,9 mm/năm).
Tốc độ tăng của GMSL là 3,16 mm/năm (2,8÷3,5 mm/năm) trong giai đoạn 1993- 2015; 3,6 mm/năm (3,1÷4,1 mm/năm) trong giai đoạn 2006–2015, mức tăng cao nhất trong thế kỷ qua (độ tin cậy cao), gấp khoảng 2,5 lần tốc độ trong thời kỳ 1901-1990 là 1,4 mm/năm (0,8÷2,0 mm/năm). 5 Tổng lượng đóng góp của quá trình tan băng ở các cực và các sông băng vào sự dâng lên của mực nước biển khoảng 1,8 mm/năm (1,7÷1,9 mm/năm) trong giai đoạn 2006–2015. Lượng đóng góp này vượt quá lượng đóng góp của hiệu ứng giãn nở nhiệt đại dương 1,4 mm/năm (1,1÷1,7 mm/năm). Các nghiên cứu cho thấy, mực nước biển đang tăng nhanh do băng tan ở cả 2 khu vực Greenland và Nam Cực (mức độ tin cậy rất cao).
Tan băng ở Nam Cực trong giai đoạn 2007-2016 gấp ba lần so với giai đoạn 1997-2006. Đối với Greenland, khối lượng băng tan gấp hai lần trong cùng giai đoạn. Việc băng tan nhanh ở Nam Cực được quan sát thấy ở vùng biển Amundsen ở Tây Nam Cực và ở Wilkes Land, Đông Nam Cực (độ tin cậy rất cao) dẫn đến mực nước biển trung bình toàn cầu dâng cao lên đến vài mét trong những thế kỷ tới. Mực nước biển dâng không đồng đều trên toàn cầu và thay đổi theo khu vực.
Sự khác biệt giữa các khu vực, trong phạm vi ± 30% của mực nước biển dâng trung bình toàn cầu, là kết quả của sự tan băng trên đất liền và các biến đổi trong quá trình ấm lên của đại dương. Sự khác biệt so với giá trị trung bình toàn cầu có thể lớn hơn ở các khu vực có chuyển động thẳng đứng của mặt đất nhanh (bao gồm cả các hoạt động của con người tại địa phương như khai thác nước ngầm) (Hình 1. Xu thế biến đổi mực nước biển trung bình toàn cầu [41] 1. Tình hình BĐKH tại Việt Nam 1.5a Trình bày diễn biến của chuẩn sai nhiệt độ trung bình năm và xu thế của nhiệt độ trong cả thời kỳ 1958-2018 và hai nửa thời kỳ: 1958-1985, 1986-2018 trên quy mô cả nước.
Tính trung bình trên cả nước, nhiệt độ trung bình năm có xu thế tăng 0,89°C/61 năm, trung bình 0,15°C/thập kỷ, ở ngưỡng thấp của mức tăng trung bình toàn cầu, (0,15-0,2°C/thập kỷ trong giai đoạn gần đây, IPCC, 2018). Tuy nhiên, tốc độ tăng rất khác nhau giữa hai nửa thời kỳ, trong 27 năm đầu (1958-1985) tăng 6 rất ít, chỉ 0,15°C, trung bình 0,056°C/thập kỷ; trong 33 năm sau (1986-2018) tăng đến 0,74°C; trung bình 0,22°C/thập kỷ.5b trình bày chuẩn sai nhiệt độ trung bình năm trong các thập kỷ, lần lượt là 3 năm (1958-1960), 5 thập kỷ (1961-1970; 1971-1980; 1981-1990; 1991-2000; 2001-2010) và 8 năm (2011-2018). Nhiệt độ trung bình năm thấp hơn trung bình toàn thời kỳ trong 4 giai đoạn đầu: Khoảng 0,1°C trong 3 năm 1958-1960; 0,3°C trong hai thập kỷ 1961-1970, 1971-1980; 0,1°C trong thập kỷ 1981-1990 và cao hơn trung bình toàn thời kỳ trong 3 giai đoạn sau: Khoảng 0,1°C trong thập kỷ 1991-2000; 0,2°C trong thập kỷ 2001-2010 và 0,4°C vào giai đoạn 2011-2018. Như vậy, mức tăng của nhiệt độ trung bình năm tăng dần theo các thập kỷ, tăng mạnh nhất trong thập kỷ gần đây (2011-2018), đặc biệt, trong những năm gần đây được xem là những năm có nền nhiệt trung bình cả nước cao nhất từ khi có số liệu quan trắc từ năm 1958 đến nay và khoảng trên 30% số trạm trên phạm vi cả nước đã ghi nhận được các kỷ lục về nhiệt độ tối cao ở Việt Nam.
Chuẩn sai nhiệt độ (oC) trung bình năm (a) và nhiều năm (b) trên quy mô cả nước [41] Hình 1.6 trình bày diễn biến của chuẩn sai nhiệt độ trung bình năm trên các trạm ven biển và trạm đảo ở Việt Nam thời kỳ 1958-2018. Nhiệt độ trung bình năm trên các trạm ven biển và trạm đảo có xu thế tăng như xu thế chung của cả nước với mức tăng 0,67°C trong giai đoạn 1958-2018, trung bình 0,11°C mỗi thập kỷ, nhiệt độ trung bình năm trên các đảo và ven biển tăng chậm hơn so với trung bình toàn Việt Nam.3 trình bày phân bố không gian của mức tăng nhiệt độ trung bình năm trên cả nước giai đoạn 1958-2018. Theo đó, nhiệt độ trung bình năm có xu thế tăng trên hầu hết các trạm, riêng trạm Huế có xu thế giảm. Mức tăng nhiệt độ trên cả nước phổ biến từ 0,4 đến 1,6°C trong 61 năm, trên các vùng núi nằm sâu trong đất liền (Tây Bắc, Tây Nguyên) tăng nhanh hơn trên vùng Đông Bắc, vùng đồng bằng ven biển và hải đảo.
Chuẩn sai nhiệt độ trung bình năm (oC) đối với các trạm ven biển và hải đảo ở Việt Nam giai đoạn 1958-2018 [41] Hình 1. Thay đổi nhiệt độ trung bình năm giai đoạn 1958-2018 [41] 8 1. Lượng mưa Lượng mưa năm Trong giai đoạn 1958-2018, lượng mưa năm tính trung bình cho cả nước có xu thế tăng nhẹ, với mức tăng 2,1% trong 61 năm. Lượng mưa năm có xu thế giảm ở phần lớn diện tích phía Bắc và phần phía Tây của Tây Nguyên và có xu thế tăng ở phần lớn diện tích phía Nam, nhiều nhất ở Nam Trung Bộ (Hình 1.
Lượng mưa các mùa Tính cho từng vùng khí hậu, lượng mưa các mùa có xu thế tăng trên hầu hết các mùa và tăng nhiều nhất vào mùa đông, riêng đối với mùa thu, hè có xu thế giảm ở các vùng khí hậu phía Bắc (Bảng 1. Thay đổi lượng mưa năm (%) thời kỳ 1958-2018 [41] Bảng 1. Thay đổi lượng mưa (%) các vùng khí hậu giai đoạn 1958-2018 Khu vực Đông Xuân Hè Thu Tây Bắc 41,4 9,9 -4,3 -17,3 Đông Bắc 34,3 -0,7 1,4 -16,0 Đồng bằng Bắc Bộ 13,8 2,7 -0,9 -27,1 Bắc Trung Bộ 16,8 13,3 8,6 -12,1 Nam Trung Bộ 82,2 23,0 8,9 11,3 Tây Nguyên 40,3 14,6 0,5 7,4 Nam Bộ 97,4 7,5 2,5 3,8 9 1. Mực nước biển dâng Phân tích số liệu vệ tinh cho thấy, xu thế biến đổi của mực nước trung bình trên toàn Biển Đông trong giai đoạn 1993 - 2018 tăng 4,1 mm/năm.
Khu vực có mức độ gia tăng mực nước biển lớn nhất là khu vực giữa Biển Đông (110°E-114°E và 12°N-16°N) với giá trị 7,2 mm/ năm. Khu vực có mức tăng thấp hơn là ở phía Đông Bắc (phía Tây đảo Luzon) và khu vực quần đảo Trường Sa. Mực nước biển ven bờ Việt Nam có xu thế tăng mạnh nhất từ Quảng Ngãi đến Bình Thuận với mức tăng là 4,2÷5,8 mm/năm. Mực nước có xu thế tăng chậm hơn ở các tỉnh từ TP.
Hồ Chí Minh đến Trà Vinh với mức tăng là 2,2÷2,5 mm/ năm. Mực nước trung bình toàn dải ven biển Việt Nam biến đổi với tốc độ khoảng 3,6 mm/ năm (Hình 1. Xu thế biến đổi mực nước biển từ số liệu vệ tinh trên Biển Đông [41] 1. Tình hình BĐKH tại tỉnh Quảng Ninh trong những năm gần đây 1.
Sự biến đổi về nhiệt độ a. Nhiệt độ trung bình năm Trong thời kỳ từ năm 1961 đến nay, nhiệt độ không khí trung bình năm ở tỉnh Quảng Ninh thể hiện xu hướng tăng, nhiệt độ năm 1961 trung bình tại các trạm là 22,5oC, nhiệt độ năm 2018 trung bình tại các trạm là 23,6oC, với tốc độ tăng phổ biến ở ngưỡng xấp xỉ 0,2oC/thập kỷ trong đó mức tăng ở trạm Bãi Cháy cao nhất, các trạm khác có tốc độ tăng nhiệt độ khá tương đương. Xu hướng tại các trạm đều thỏa mãn mức ý nghĩa 5% (hình 1. Xu hướng biến đổi tuyến tính của nhiệt độ không khí trung bình năm (oC) tại các trạm khí tượng tỉnh Quảng Ninh thời kỳ 1961 đến 2022 Bảng 1.