CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 Tính cấp thiết của luận án Viêm phế quản truyền nhiễm (IB) là bệnh do Infectious bronchitis virus (IBV) gây ra, có tính lây lan nhanh, gây thiệt hại kinh tế nghiêm trọng cho ngành chăn nuôi gà (Awad et al. Trên thế giới, tỷ lệ bệnh IB ở gà đã được xác định có thể lên đến 100% và tỷ lệ chết có thể đến 80% (Cavanagh and Gelb, 2008; Bande et al. Ở Việt Nam, Võ Thị Trà An và ctv. (2012) báo cáo có 16,6% số mẫu bệnh phẩm sau khi phân lập từ gà thịt nhiễm IBV.
Bệnh IB có nhiều thể bệnh khác nhau như thể hô hấp, thể thận, làm giảm tốc độ tăng trưởng của gà thịt và có thể gây chết (Ignjatovic and Sapats, 2000; Al-Beltagi et al. Tình hình bệnh IB phụ thuộc vào loại mô bị ảnh hưởng, kiểu gây bệnh cũng như chủng virus lưu hành tùy theo thực địa (Bande et al. Nhiều nghiên cứu về gene của IBV trên gà đã được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới và xác định có hơn 50 serotype khác nhau và đặc biệt xuất hiện nhiều biến chủng mới (Bochkov et al., 2006; Worthington, 2009; Gaba et al., 2010; Dhama et al., 2014; Bande et al. Tại Việt Nam, các serotype Mass (dòng H120), 793B (dòng 4/91), QX-like, Q1-like và TC07-2-like cũng đã được xác định (Võ Thị Trà An và ctv., 2012; Nguyễn Thị Loan, 2018).
Trong giai đoạn hiện nay, để phòng ngừa bệnh IB cho gà thì việc sử dụng vaccine là biện pháp bắt buộc. Tuy nhiên, đàn gà vẫn có thể bị bệnh dù đã được chủng ngừa (Mohamed and Awad, 2015). Đáp ứng miễn dịch chéo giữa các chủng IBV khác nhau là rất thấp hoặc không có (Saif and Barnes, 2008; De Wit et al. Đồng thời, vaccine sống nhược độc thường được sử dụng nhiều nhất nhưng còn những hạn chế như khả năng ổn định nhiệt kém, tái độc lực và tái tổ hợp giữa virus trong vaccine và virus thực địa (Bande et al.
Các kết quả nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam nêu trên cho thấy virus gây bệnh IB có sự đa dạng serotype hay kiểu gene tùy theo khu vực địa lý và gây ra các thể bệnh khác nhau. Sự thành công trong công tác kiểm soát bệnh sẽ phụ thuộc vào sự tương đồng di truyền giữa virus vaccine và virus lưu hành ở từng vùng thực địa cũng như tính hiệu quả của các quy trình chủng ngừa vaccine. Trong khi đó, trên thị trường, các sản phẩm vaccine rất đa dạng như vaccine hỗn hợp, vaccine đơn (chủng Mass-H120, Mass 41, Ma5, 4/91 hay CR88, .) Điều này dẫn đến sự đa dạng về quy trình chủng ngừa cho nên cần 1 xác định hiệu quả của các quy trình chủng ngừa. Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có nền chăn nuôi gà khá phát triển, đặc biệt là chăn nuôi gà thịt theo hướng công nghiệp.
Cùng với sự phát triển cả quy mô và số lượng gà, tình hình dịch bệnh nói chung và bệnh IB nói riêng xảy ra ngày càng phổ biến hơn, được các nhà khoa học và nhà chăn nuôi quan tâm. Tuy nhiên, thông tin về sự lưu hành của IBV, những biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh và đánh giá quy trình chủng ngừa vẫn còn rất hạn chế. Vì vậy, nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ, biến đổi bệnh lý của IB, phân tích kiểu gene của virus và khảo sát đáp ứng miễn dịch của gà sau khi áp dụng các quy trình chủng ngừa sẽ là cơ sở khoa học để khuyến cáo phương pháp phòng chống bệnh IB hiệu quả hơn cho gà thịt nuôi theo hướng công nghiệp ở khu vực ĐBSCL.2 Mục tiêu nghiên cứu - Khảo sát tình hình dịch tễ và bệnh lý của IB trên gà thịt tại một số tỉnh ĐBSCL. - Xác định mối quan hệ di truyền giữa các chủng IBV thực địa với các chủng virus trên thế giới và chủng virus vaccine.
- Đánh giá hiệu quả của các quy trình chủng ngừa bằng vaccine phòng bệnh IB trên gà thịt.3 Ý nghĩa của luận án Bệnh vẫn xảy ra ở đàn gà thịt mặc dù đã được chủng ngừa vaccine. Để hạn chế bệnh, các yếu tố mùa vụ, tình trạng chủng ngừa và vệ sinh thú y cần được kiểm soát tốt. Sự lưu hành 05 kiểu gene IBV cho thấy việc chủng ngừa vaccine phòng bệnh IB cho gà cần phải có kháng nguyên tương đồng với IBV lưu hành để đàn gà được bảo hộ tốt nhất. Kết quả thí nghiệm các quy trình chủng ngừa vaccine phòng bệnh IB cho gà Nòi lai và gà Tam Hoàng đều cho đáp ứng miễn dịch tốt, có thể áp dụng trong thực tế.
Trong đó, quy trình sử dụng vaccine hỗn hợp IB-ND và vaccine đơn giá 4/91 có thuận lợi và hiệu quả hơn.4 Điểm mới của luận án Bệnh IB được chẩn đoán ở đối tượng gà thịt nuôi theo hướng công nghiệp tại một số tỉnh ĐBSCL trên cơ sở phát hiện gene N, khẳng định có sự lưu hành, tỷ lệ bệnh đáng kể mặc dù đàn gà đã được chủng ngừa vaccine. 2 Mối quan hệ di truyền dựa trên đoạn gene S1 của 10 chủng IBV lưu hành ở ĐBSCL so với 33 chủng IBV trên thế giới và các chủng virus trong vaccine được phân tích thông qua phép so sánh mức độ tương đồng và sự sai khác trong trình tự gene; Phát hiện được hiện tượng tái tổ hợp di truyền của IBV ở ĐBSCL. Đánh giá được đáp ứng miễn dịch sau chủng ngừa vaccine phòng bệnh IB trên đối tượng gà Nòi lai và gà Tam Hoàng tại ĐBSCL.5 Giới hạn của luận án Vì tình hình thực tế có những điều kiện ràng buộc, hạn chế về thời gian, tài lực, nhân lực và vật lực cho nên luận án được thực hiện trong phạm vi giới hạn như sau: Thời gian nghiên cứu: từ tháng 05 năm 2018 đến tháng 05 năm 2020. Địa điểm nghiên cứu: tại một số tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Bệnh viêm phế quản truyền nhiễm trên gà thịt nuôi theo hướng công nghiệp; Đánh giá hiệu quả của các quy trình chủng ngừa vaccine chủ yếu thông qua chỉ tiêu GMT ở 02 giống gà được nuôi phổ biến (Nòi lai và Tam Hoàng). 3 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tình hình nghiên cứu bệnh IB ở gà 2.1 Tình hình nghiên cứu bệnh IB trên thế giới Bệnh IB gây thiệt hại đáng kể cho ngành chăn nuôi gia cầm trên thế giới. Bệnh đã được xác định lần đầu tiên ở Bắc Dakota, Hoa Kỳ trong một báo cáo về bệnh hô hấp mới ở gà con (Bande et al. Bệnh còn làm giảm sản lượng trứng ở gà đẻ và được ghi nhận trong những năm 1940, các bệnh tích trên thận được quan sát trong những năm 1960 (Cavanagh and Naqi (2003).
Vì vậy, bệnh IB không chỉ phổ biến ở đàn gà thịt mà còn xảy ra ở gà đẻ (Cavanagh, 2007). Kể từ đó, bệnh IB xuất hiện ở nhiều nơi, đặc biệt ở các nước có đàn gia cầm thương phẩm quy mô lớn. Ngoài nhiễm trùng đường hô hấp, bệnh IB còn ảnh hưởng đến thận và đường sinh sản, bệnh được cho là chủ yếu xảy ra ở gà con, tuy nhiên, gà ở mọi lứa tuổi cũng dễ bệnh (Bande et al. Những cột mốc ban đầu quan trọng trong nghiên cứu bệnh IB bao gồm việc xác định nguyên nhân virus vào năm 1936, việc nuôi cấy virus đầu tiên trong phôi trứng gà được thực hiện vào năm 1937, sự phát triển vaccine "H", ví dụ H120 có mặt khắp nơi kể từ năm 1960, phát hiện chủng Conn và chủng Mass gây ra bệnh tương tự nhưng không có miễn dịch chéo hay trung hòa chéo và sử dụng phản ứng trung hòa để xác định IBV có nhiều serotype được báo cáo năm 1956 (Cavanagh and Gelb, 2008).
Vào năm 1941, IBV được khẳng định có thể nhân lên trong phôi trứng cho thấy giá trị trong nghiên cứu về chủng ngừa. Vào năm 1942, lần đầu tiên vaccine IB được sản xuất và phát triển ở Hoa Kỳ sử dụng dòng Van Roekel M-41. Đó chính là vaccine type Mass 41 được sử dụng cho đến ngày nay (Jackwood and De Wit, 2013). Ở Hà Lan, bệnh IB được chẩn đoán lần đầu tiên vào năm 1956 và điều này dẫn đến sự phát triển vaccine type Mass được biết là dòng H (“H” là viết tắt tên nông dân – Huyben mà gà của ông được lấy mẫu phân lập và thường được nghĩ là tên của Holland).
Kết quả sản xuất các loại vaccine như H120 và H52 sớm được sử dụng rộng rãi. Ngày nay, vaccine H120 là vaccine phổ biến và được sử dụng khắp thế giới (Bijlenga et al. Hầu hết các nghiên cứu trong những năm 1970 và 1980 có liên quan các 4 serotype khác nhau và những biến đổi của virus được thực hiện bằng phản ứng trung hòa trong phôi trứng (Jackwood and De Wit, 2013). Khởi đầu của nghiên cứu về đặc tính phân tử của virus được thực hiện vào những năm 1980 đến 1989.
Trong thập kỷ này có những nghiên cứu đầu tiên về cấu trúc của virus. Đặc điểm cấu trúc của các gai glycoprotein và phân tích trình tự acid nucleic RNA virus đã được tiến hành vào năm 1985 với kết quả là vùng của clone mã hóa cho gene S đã được sắp xếp theo phương pháp phân tách trình tự (chain termination). Phát hiện quan trọng nhất trong giai đoạn này chính là các epitope trung hòa trên glycoprotein đã được mã hóa theo vùng siêu biến trên gene. Những dữ liệu này đã đặt nền móng cho sự phát triển của các xét nghiệm chẩn đoán phân tử vào những năm 1990 (Cook et al.
Chẩn đoán nâng cao đối với IBV được bắt đầu vào những năm 1990. Nhiều phòng thí nghiệm bắt đầu xác định được các chủng IBV bằng việc sử dụng các kỹ thuật phân tử. Nhiều serotype và kiểu gene của IBV được phát hiện, tiêu biểu là kiểu gene QX được phân lập lần đầu ở Trung Quốc từ ổ dịch với đặc điểm sưng phù dạ dày tuyến vào năm 1996 (Yudong et al. Sau đó nhiều tác giả đã báo cáo với tên gọi "QX-Like" và nó đã trở thành một trong những kiểu gene nổi bật nhất ở nhiều quốc gia.
Mặc dù tất cả IBV QX-Like được phân lập từ những quốc gia khác nhau nhưng có liên quan chặt chẽ về mặt di truyền (Pohuang and Sasipreeyajan, 2012). Bộ gene của IBV cũng được nghiên cứu ở nhiều nơi trên thế giới. Chẳng hạn, Adzhar et al. (1997) đã phân tích gene S1 của serotype 793/B gồm có 1617 bp.
Callison et al. (2006) đã công bố bộ gene của type Mass 41 (được phân lập vào năm 1941 tại trường đại học Massachusetts, Mỹ) với kỹ thuật khuếch đại sản phẩm 143-bp vùng 5′-UTR trên gene của virus. De Wit et al.