Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Bệnh do ấu trùng Cysticercus cellulosae gây ra ở lợn (thường gọi là bệnh gạo lợn) là một bệnh truyền lây nguy hiểm giữa động vật và người (zoonosis). Tác nhân gây bệnh là thể ấu trùng của sán dây Taenia solium ký sinh ở ruột non của người. Khi lợn nuốt phải trứng sán hoặc đốt sán già từ phân người thải ra môi trường, ấu trùng sẽ giải phóng, xuyên qua thành ruột vào hệ tuần hoàn và định vị tại các tổ chức cơ vân, não, mắt, tim của lợn. Thịt lợn nhiễm gạo không đủ tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, buộc phải tiêu hủy hoặc xử lý nhiệt nghiêm ngặt, gây thiệt hại kinh tế lớn cho ngành chăn nuôi. Ngược lại, người ăn phải thịt lợn chứa ấu trùng chưa được nấu chín sẽ phát triển thành sán dây trưởng thành trong ruột non; trường hợp người nuốt phải trứng sán dây từ ngoại cảnh hoặc tự nhiễm do đốt sán trào ngược dạ dày, ấu trùng sẽ phát triển thành bệnh ấu trùng sán lợn ở người, gây tổn thương nghiêm trọng tại não (neurocysticercosis), mắt và cơ.

Tại huyện miền núi Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên, điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng giao thông hạn chế, trình độ dân trí không đồng đều. Tập quán chăn nuôi lợn thả rông, bán chăn thả vẫn chiếm tỷ lệ cao; phần lớn hộ gia đình thiếu công trình vệ sinh đạt chuẩn dẫn đến tình trạng phóng uế bừa bãi. Đồng thời, thói quen ẩm thực của người dân bản địa vẫn duy trì việc tiêu thụ thịt tái, thịt sống (nem chua, gỏi lợn, lợn bóp mẻ, vắt chanh), tạo điều kiện thuận lợi cho vòng đời sinh học của sán dây Taenia solium khép kín và lưu hành dai dẳng. Việc chẩn đoán bệnh gạo trên lợn sống gặp nhiều trở ngại do triệu chứng lâm sàng mờ nhạt, không thể phát hiện qua xét nghiệm phân. Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả Lò Anh Phú đã thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp: "Nghiên cứu bệnh do ấu trùng Cysticercus cellulosae gây ra ở lợn (bệnh gạo lợn) tại huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên".

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài bao gồm:

  1. Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học của bệnh do ấu trùng Cysticercus cellulosae gây ra ở lợn tại 5 xã/thị trấn thuộc huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên (theo địa bàn, lứa tuổi, tháng theo dõi, giống lợn và phương thức chăn nuôi).
  2. Điều tra thực trạng tập quán chăn nuôi, điều kiện sinh hoạt và các yếu tố nguy cơ liên quan đến tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia solium ở người tại địa phương.
  3. Xác định bệnh tích đại thể và bệnh tích vi thể (mô bệnh học) trên các cơ quan, tổ chức của lợn bị nhiễm ấu trùng Cysticercus cellulosae.
  4. Cung cấp cơ sở khoa học phục vụ công tác xây dựng quy trình phòng chống bệnh gạo lợn và bệnh sán dây ở người tại vùng cao.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Lợn ở các lứa tuổi nuôi tại nông hộ và các cơ sở giết mổ; mẫu bệnh phẩm cơ, não, tim, gan, phổi, thận, lách, ruột của lợn nhiễm ấu trùng Cysticercus cellulosae; các hộ gia đình chăn nuôi và người dân sinh sống tại địa bàn.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu thực địa tại 5 xã/thị trấn thuộc huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên (xã Na Son, xã Mường Luân, xã Keo Lôm, xã Luân Giói và thị trấn Điện Biên Đông). Phân tích tiêu bản mô bệnh học tại Phòng thí nghiệm Bộ môn Bệnh động vật, Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài thực hiện từ tháng 11 năm 2017 đến tháng 5 năm 2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của đề tài dựa trên phân loại học động vật, đặc điểm hình thái và chu kỳ sinh học của sán dây Taenia solium (thuộc Lớp Cestoda, Bộ Cyclophyllidea, Họ Taeniidae, Giống Taenia). Nang ấu trùng Cysticercus cellulosae có dạng bọc chứa dịch trong suốt, đường kính 5–10 mm, bên trong chứa một đầu sán lõm vào có 4 giác bám và hai hàng móc đỉnh (22–32 móc). Khóa luận áp dụng các quy chuẩn chuyên ngành và văn bản quản lý nhà nước:

  • Hướng dẫn quy trình kiểm soát giết mổ động vật theo Thông tư số 09/2016/TT-BNNPTNT ngày 01/06/2016 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
  • Quy chuẩn đánh giá cường độ nhiễm ấu trùng trên 40 cm² bề mặt lát cắt cơ (nhẹ: 1–2 ấu trùng; trung bình: 3–5 ấu trùng; nặng: $\ge$ 6 ấu trùng).
  • Quyết định số 87/2005/QĐ-BNN về kiểm soát giết mổ động vật.

Phương pháp nghiên cứu thực địa và thực nghiệm bao gồm:

  • Phương pháp dịch tễ học mô tả và dịch tễ học phân tích: Thu thập mẫu theo phương pháp lấy mẫu chùm nhiều bậc, cỡ mẫu được tối ưu bằng phần mềm chuyên dụng WinEpiscope.
  • Phương pháp mổ khám: Trực tiếp mổ khám và phối hợp cùng cán bộ thú y kiểm tra tại các nông hộ, lò mổ trên địa bàn 5 xã/thị trấn với tổng dung lượng mẫu $n = 650$ con lợn (Na Son: 130 con, Mường Luân: 120 con, Keo Lôm: 125 con, Luân Giói: 140 con, TT. Điện Biên Đông: 135 con). Tiến hành kiểm tra toàn diện hệ thống cơ vân (cơ đùi, cơ vai, cơ liên sườn, cơ lưỡi, cơ hoành) và các cơ quan nội tạng (tim, não, gan, phổi, thận, lách, ruột).
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Phát 250 phiếu điều tra cấu trúc tại 5 xã (50 phiếu/xã) nhằm thu thập dữ liệu về phương thức chăn nuôi, vệ sinh chuồng trại, loại nhà tiêu, tập quán ăn uống thịt tái/sống, thói quen ăn rau sống và tiền sử tẩy giun sán; đồng thời rà soát tình hình nhiễm sán dây trên 650 người thuộc các hộ được điều tra.
  • Phương pháp mô bệnh học: Thu thập bệnh phẩm từ các lợn nhiễm bệnh, cố định mẫu, cắt lát mỏng bằng máy cắt vi thể Microtome và nhuộm Hematoxylin - Eosin (H&E), sau đó quan sát, phân tích biến đổi tổn thương vi thể dưới kính hiển vi quang học.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu thô được tổng hợp và phân tích thống kê sinh học trên phần mềm Microsoft Excel 2010 và Minitab 16 theo tài liệu hướng dẫn của Nguyễn Văn Thiện (2008).

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ tác hại kép của bệnh sán dây/ấu trùng sán dây đối với sức khỏe cộng đồng và ngành chăn nuôi lợn tại vùng cao Điện Biên Đông. Khẳng định mục tiêu nghiên cứu dịch tễ học, lâm sàng, bệnh lý làm cơ sở đề xuất biện pháp phòng chống hiệu quả, đồng thời nêu rõ ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng hợp điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Điện Biên Đông (14 đơn vị hành chính gồm 1 thị trấn và 13 xã, diện tích tự nhiên 120.639 ha, dân số 48.990 người năm 2007). Hệ thống hóa cơ sở khoa học về vị trí phân loại, cấu tạo hình thái học của sán trưởng thành Taenia solium (dài 2–8 m, tử cung chia 7–12 nhánh chính, trứng kích thước 31–43 $\mu$m) và nang ấu trùng Cysticercus cellulosae. Phân tích chu kỳ sinh học, sức đề kháng của ấu trùng (chết ở nhiệt độ 50–60°C sau 1 giờ, sống được nhiều tuần trong môi trường hoặc thịt ướp lạnh chưa đủ độ), cơ chế bệnh sinh, bệnh lý học lâm sàng trên người và gia súc. Tổng quan các phương pháp chẩn đoán (mổ khám cơ vân, phản ứng dị ứng tiêm nội bì, kỹ thuật miễn dịch ELISA) và phác đồ điều trị bằng thuốc tân dược (Praziquantel, Albendazole, Fenbendazole, Oxfendazole) cùng bài thuốc y học cổ truyền (hạt bí ngô kết hợp hạt cau và Magie Sulfat). Tổng thuật các công trình nghiên cứu trong nước (Phạm Văn Khuê, Phan Lục, Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Văn Đề, Phan Anh Tuấn) và quốc tế (Aung A., Hiroyuki Miura, Paredes A., Zhang Y.).

Phần 3: Đối tượng, vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Mô tả chi tiết đối tượng nghiên cứu (lợn nuôi nông hộ ở các lứa tuổi; bệnh do Cysticercus cellulosae); vật liệu thí nghiệm (bệnh phẩm các cơ quan, máy cắt vi thể Microtome, kính hiển vi quang học, hóa chất và thuốc nhuộm H&E); các nội dung nghiên cứu dịch tễ (theo vùng, lứa tuổi, tháng trong năm, giống lợn, phương thức nuôi), nội dung điều tra nguy cơ ở người và quy trình kỹ thuật mổ khám kiểm soát giết mổ theo Thông tư 09/2016/TT-BNNPTNT, kỹ thuật làm tiêu bản vi thể và phương pháp thống kê sinh học.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Trình bày chi tiết toàn bộ số liệu thu thập được qua 4 nội dung chính:

  • Tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus cellulosae trên lợn tại địa phương.
  • Các yếu tố dịch tễ học ảnh hưởng đến tỷ lệ nhiễm ở lợn (tuổi, thời gian, giống, phương thức nuôi).
  • Thực trạng tập quán chăn nuôi, sinh hoạt và tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia solium ở người.
  • Đặc điểm bệnh lý đại thể và mô bệnh học vi thể trên lợn mắc bệnh.

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Đưa ra kết luận tổng hợp về các chỉ số dịch tễ học, thực trạng vệ sinh phòng bệnh và các tổn thương bệnh lý trên lợn; đề xuất 3 nhóm giải pháp khuyến nghị kỹ thuật, thú y và y tế cộng đồng nhằm loại trừ nguồn lây bệnh tại địa phương.


Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã thu thập và xử lý hệ thống số liệu thực nghiệm thông qua các bảng thống kê chi tiết sau:

1. Đặc điểm dịch tễ học bệnh gạo lợn tại huyện Điện Biên Đông

Chỉ tiêu phân loại Phân nhóm điều tra Số lợn mổ khám (con) Số lợn nhiễm (con) Tỷ lệ nhiễm (%) Cường độ nhiễm trung bình (ấu trùng/40 cm² cơ)
Theo địa bàn xã Na Son 130 4 3,08 7,25
Mường Luân 120 3 2,50 7,67
Keo Lôm 125 7 5,60 8,85
TT. Điện Biên Đông 135 1 0,74 5,00
Luân Giói 140 3 2,14 6,66
Tính chung 650 18 2,81 7,09
Theo tháng tuổi $\le 2$ tháng tuổi 100 0 0,00 0,00
$> 2 - 6$ tháng tuổi 150 4 2,66 7,25
$> 6 - 12$ tháng tuổi 160 6 3,75 9,33
$> 12$ tháng tuổi 240 8 3,33 12,30
Theo tháng theo dõi Tháng 11 114 2 1,75 6,00
Tháng 12 122 0 0,00 0,00
Tháng 1 135 1 0,74 5,00
Tháng 2 91 4 4,40 7,25
Tháng 3 95 5 5,26 8,80
Tháng 4 93 6 6,45 10,30
Theo giống lợn Lợn địa phương 333 16 4,83 6,90
Lợn lai 317 6 2,15 4,00
Theo phương thức nuôi Nuôi nhốt hoàn toàn 220 3 1,36 2,50
Nuôi bán chăn thả 200 5 2,50 5,23
Nuôi thả rông 230 10 4,34 9,32

2. Thực trạng vệ sinh, tập quán sinh hoạt và tỷ lệ nhiễm sán dây ở người

  • Tập quán chăn nuôi và sinh hoạt (Khảo sát 250 hộ gia đình):

    • Hộ nuôi lợn thả rông: 198 hộ (79,2%).
    • Hộ nuôi lợn bán chăn thả: 142 hộ (56,8%).
    • Hộ không có nhà vệ sinh: 203 hộ (81,2%).
    • Hộ có người ăn thịt sống/thịt tái: 194 hộ (77,6%).
    • Hộ có người không được xét nghiệm và tẩy sán dây định kỳ: 215 hộ (86,0%).
  • Tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia solium ở người:

    • Xét theo hộ: 16/250 hộ có người nhiễm sán dây (chiếm 6,40%). Xã Keo Lôm cao nhất với 6/50 hộ (12,0%); TT. Điện Biên Đông thấp nhất với 1/50 hộ (2,00%).
    • Xét theo cá nhân: 16/650 người được điều tra nhiễm bệnh (chiếm 2,33%). Tỷ lệ nhiễm theo độ tuổi: nhóm $< 15$ tuổi là 0% (0/130 người); nhóm 16–30 tuổi là 2,00% (5/250 người); nhóm $> 31–50$ tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 4,07% (11/270 người).

3. Bệnh tích đại thể và mô bệnh học vi thể

  • Tổn thương đại thể (trên 16 lợn phát hiện bệnh tích trong 650 lợn mổ khám - tỷ lệ 2,46%):

    • Cơ vân: 16/16 con có nang gạo ký sinh (100%).
    • Não: 9/16 con bị xung huyết, xuất huyết, có gạo ký sinh (56,2%).
    • Tim: 8/16 con bị xung huyết, có gạo ký sinh trong và ngoài cơ tim (50,0%).
    • Gan: 6/16 con bị xuất huyết, thoái hóa gan (37,5%).
    • Lách: 6/16 con bị xuất huyết, xơ hóa (37,5%).
    • Thận: 5/16 con bị xung huyết (31,2%).
    • Phổi: 5/16 con bị xung huyết, xuất huyết (31,2%).
    • Ruột: 4/16 con bị xung huyết niêm mạc ruột non (25,0%).
  • Tổn thương vi thể (phân tích trên 16 bộ tiêu bản mô học):

    • Tỷ lệ có tổn thương vi thể: Cơ (100%), Cơ lưỡi (100%), Não (100%), Mắt (87,5%), Tim (75,0%), Ruột (75,0%), Phổi (68,7%), Lách (68,7%), Gan (62,5%), Thận (62,5%).
    • Biến đổi mô bệnh học: Nang ấu trùng chèn ép làm teo, thoái hóa và hoại tử sợi cơ, tế bào mô; xung quanh nang xuất hiện phản ứng viêm với sự xâm nhiễm dày đặc của bạch cầu ái toan (eosinophils), bạch cầu trung tính (neutrophils) và sự hình thành mô liên kết xơ hóa bao quanh bọc ấu trùng.

4. Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  • Tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho đồng bào dân tộc thiểu số về phòng chống bệnh truyền lây ký sinh trùng; vận động từ bỏ thói quen ăn thịt sống, thịt tái, nem chua, rau sống chưa rửa sạch và uống nước lã.
  • Hướng dẫn người dân chấm dứt phương thức nuôi lợn thả rông, chuyển sang nuôi nhốt có chuồng trại hợp vệ sinh; hỗ trợ xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh (hố xí tự hoại, hố xí hai ngăn) để triệt tiêu nguồn phân người phát tán trứng sán ra môi trường.
  • Siết chặt công tác kiểm soát giết mổ tại các chợ, lò mổ và điểm giết mổ gia đình; xử lý nghiêm ngặt thịt lợn gạo (tiêu hủy hoặc luộc chín kỹ theo quy chuẩn Thông tư 09/2016/TT-BNNPTNT); phát hiện và điều trị triệt để bệnh sán dây cho người dân tại các trạm y tế xã.

5. Đóng góp của đề tài

Khóa luận đã cung cấp bộ dữ liệu thực chứng đầu tiên có tính hệ thống về tỷ lệ, cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus cellulosae trên lợn và mối liên hệ dịch tễ với bệnh sán dây Taenia solium ở người tại địa bàn huyện miền núi Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên. Kết quả mô bệnh học đã minh chứng rõ nét mức độ tổn thương đa cơ quan do ấu trùng gây ra trên đàn lợn nuôi tại địa phương.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Thời gian nghiên cứu thực địa giới hạn trong 7 tháng (từ tháng 11/2017 đến tháng 5/2018), chưa theo dõi được trọn vẹn diễn biến dịch tễ trong mùa mưa lũ kéo dài của các tháng giữa năm. Phạm vi khảo sát tập trung tại 5 xã/thị trấn đại diện trong tổng số 14 xã của toàn huyện. Việc xác định người nhiễm sán dây chủ yếu dựa trên phiếu điều tra hồi cứu và triệu chứng lâm sàng/lịch sử bài xuất đốt sán, chưa triển khai xét nghiệm phân lắng đọng hoặc xét nghiệm huyết thanh học ELISA diện rộng cho người dân.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng quy mô điều tra trên toàn bộ các xã vùng sâu, vùng xa của tỉnh Điện Biên; áp dụng các kỹ thuật chẩn đoán hiện đại như xét nghiệm huyết thanh học ELISA hoặc sinh học phân tử (PCR) để phát hiện sớm kháng thể/kháng nguyên ấu trùng trên lợn sống và người; tiến hành thử nghiệm các can thiệp tẩy sán diện rộng kết hợp giám sát dịch tễ định kỳ.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tư liệu học thuật hữu ích cho:

  • Sinh viên chuyên ngành Thú y, Chăn nuôi Thú y, Y tế công cộng tham khảo phương pháp bố trí nghiên cứu dịch tễ học thực địa kết hợp kỹ thuật mổ khám kiểm soát thân thịt và quy trình làm tiêu bản mô bệnh học (nhuộm H&E).
  • Cán bộ thú y cơ sở, cán bộ y tế dự phòng tại các huyện miền núi sử dụng số liệu thực tế để xây dựng kế hoạch liên ngành Y tế - Thú y (One Health) trong phòng chống các bệnh truyền lây giữa động vật và người.
  • Các nhà nghiên cứu ký sinh trùng học tham khảo bảng dữ liệu so sánh tỷ lệ nhiễm ấu trùng theo giống lợn bản địa, phương thức chăn thả và các chỉ số tổn thương bệnh lý trên các cơ quan nội tạng.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus cellulosae chung ở đàn lợn tại huyện Điện Biên Đông là bao nhiêu và xã nào có tỷ lệ cao nhất?
Qua mổ khám 650 con lợn tại 5 xã/thị trấn, tỷ lệ nhiễm ấu trùng chung là 2,81% (18 con nhiễm) với cường độ nhiễm trung bình 7,09 ấu trùng/40 cm² bề mặt cơ. Trong đó, xã Keo Lôm có tỷ lệ nhiễm cao nhất là 5,60% (cường độ 8,85 ấu trùng/40 cm² cơ), thấp nhất là thị trấn Điện Biên Đông với 0,74% (cường độ 5,00 ấu trùng/40 cm² cơ).

2. Phương thức chăn nuôi và giống lợn ảnh hưởng như thế nào đến mức độ nhiễm bệnh gạo lợn?
Lợn nuôi theo phương thức thả rông có tỷ lệ nhiễm cao nhất (4,34%, cường độ 9,32 ấu trùng/40 cm² cơ), tiếp đến là bán chăn thả (2,50%, cường độ 5,23 ấu trùng/40 cm² cơ) và thấp nhất là nuôi nhốt hoàn toàn (1,36%, cường độ 2,50 ấu trùng/40 cm² cơ). Xét theo giống, giống lợn địa phương có tỷ lệ nhiễm (4,83%) và cường độ nhiễm (6,90 ấu trùng/40 cm² cơ) cao hơn rõ rệt so với giống lợn lai (tỷ lệ 2,15%, cường độ 4,00 ấu trùng/40 cm² cơ).

3. Tập quán sinh hoạt nào của người dân địa phương là yếu tố nguy cơ chính làm duy trì mầm bệnh?
Khảo sát 250 hộ gia đình cho thấy: 81,2% hộ không có nhà vệ sinh (phóng uế trực tiếp ra môi trường); 79,2% hộ nuôi lợn thả rông; 77,6% hộ có thói quen ăn thịt lợn sống hoặc thịt tái; và 86,0% hộ có người chưa từng được xét nghiệm hay tẩy sán dây định kỳ.

4. Tổn thương đại thể và vi thể do ấu trùng Cysticercus cellulosae gây ra trên lợn tập trung chủ yếu ở những cơ quan nào?
Về đại thể, 100% lợn mắc bệnh có nang gạo ở cơ vân; ngoài ra nang ký sinh tại não (56,2%) và tim (50,0%), kèm theo hiện tượng xung huyết, xuất huyết, thoái hóa gan (37,5%), lách (37,5%), phổi và thận (31,2%). Về vi thể, 100% tiêu bản mô cơ, cơ lưỡi và não ghi nhận phản ứng viêm thâm nhiễm bạch cầu ái toan, thoái hóa mô và xơ hóa bao nang.


Kết luận

Khóa luận của tác giả Lò Anh Phú đã phản ánh toàn diện thực trạng dịch tễ học của bệnh gạo lợn (Cysticercus cellulosae) và mối liên hệ mật thiết với bệnh sán dây Taenia solium ở người tại huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên giai đoạn 2017–2018. Kết quả nghiên cứu khẳng định phương thức chăn nuôi thả rông, tình trạng thiếu công trình vệ sinh và thói quen ăn thịt tái/sống là những nguyên nhân chính duy trì ổ dịch lưu hành tại địa phương. Các số liệu thực nghiệm về dịch tễ và mô bệnh học trong khóa luận là căn cứ thực tiễn giá trị giúp các cơ quan thú y và y tế dự phòng triển khai các giải pháp kiểm soát bệnh truyền lây hiệu quả tại các vùng miền núi.