ĐẶT VẤN ĐỀ Cây lúa (Oryza sativa L.) là cây trồng có lịch sử trồng trọt lâu đời nhất, được gieo trồng ở tất cả các châu lục nhưng tập trung chủ yếu ở Châu Á - chiếm gần 90% diện tích. Trong lúa gạo có mặt đầy đủ các chất dinh dưỡng như tinh bột, protein, lipit, vitamin…Vì vậy, khoảng 40% dân số thế giới coi lúa gạo là nguồn lương thực chính. Tổ chức dinh dưỡng Quốc tế đã gọi “Hạt gạo là hạt của sự sống”. Tại kỳ họp thứ 57 thường niên của Hội đồng Liên hiệp Quốc đã chọn năm 2004 là năm lúa gạo Quốc tế với khẩu hiệu “cây Lúa là cuộc sống”.
Cây lúa là cây trồng chính ở nước ta, là cây trồng cung cấp nguồn lương thực chính và xuất khẩu hàng năm. Trong năm 2015 nước ta đã xuất khẩu được 6,59 triệu tấn gạo thu về trên 2,8 tỷ USD (về sản lượng đứng thứ 3 trên thế giới về xuất khẩu gạo sau Ấn Độ và Thái Lan) (http://iasvn.org/homepage/Tinh-hinh-xuat- khau-gao-nam-2015-va-du-bao-nam-2016-7883. Tuy nhiên năng suất lúa gạo vẫn bấp bênh với nhiều nguyên nhân trong đó dịch hại là nguyên nhân thường xuyên và đe dọa mạnh mẽ đến năng suất và sản lượng lúa gạo. Bệnh đạo ôn là một trong những bệnh hại trên lúa nguy hiểm đã được phát hiện và nghiên cứu từ lâu trên thế giới.
Theo ước tính của FAO thiệt hại do bệnh đạo ôn gây ra hàng năm gây giảm năng suất lúa trung bình từ 0,7-17,5%, những nơi bệnh nặng có thể làm giảm năng suất tới 80% (Bonman et al. Mỗi năm làm thế giới mất một lượng lúa đủ để nuôi sống 60 triệu người - một ước tính khá khiêm tốn. Chúng đặc biệt gây hại mạnh ở các quốc gia nóng ẩm như Việt Nam, Thái Lan và Philippines. Công tác nghiên cứu bệnh đạo ôn đã được tiến hành từ lâu trên thế giới và cả tại Việt Nam, đã có nhiều kết quả nghiên cứu cơ bản và ứng dụng phục vụ hiệu quả cho sản xuất.
Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm là cơ quan nghiên cứu và chọn tạo giống có uy tín, đã cho ra đời nhiều giống cây trồng tốt và được sản xuất chấp nhận trong đó có những giống lúa kháng bệnh đạo ôn, năng suất và phẩm chất tốt: CH3, CH133, Xuân số 2, HYT102 … 1 Tuy vậy thực tế diễn biến bệnh đạo ôn rất phức tạp cũng như thành phần giống lúa rất đa dạng tại các vùng khiến công tác chỉ đạo và chủ động phòng chống bệnh còn kém hiệu quả. Chương Mỹ có tổng diện tích đất toàn huyện là 23.240,92 ha, trong đó nhóm đất nông nghiệp là 14.032,65 ha; hàng vụ có diện tích gieo trồng lúa khoảng 9150 ha. Theo trạm BVTV huyện vụ xuân hàng năm có khoảng 91 ha bị nhiễm bệnh đạo ôn gây thiệt hại đến năng suất, phẩm chất lúa và ảnh hưởng đến môi trường. Xuất phát từ những vấn đề trên, được sự phân công của Bộ môn Bệnh cây, Khoa Nông học học viện Nông nghiệp Việt Nam, dưới sự hướng dẫn của TS Trần Nguyễn Hà, chúng tôi tiến hành nghiên cứu, thực hiện đề tài: “Nghiên cứu bệnh đạo ôn hại lúa xuân năm 2016 ở vùng Chương Mỹ - Hà Nội và biện pháp phòng trừ bệnh”.
MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU 1. Mục đích Điều tra thành phần bệnh hại lúa, nghiên cứu đặc điểm phát sinh, phát triển của bệnh đạo ôn hại lúa xuân 2016 ở vùng Chương Mỹ - Hà Nội và khảo sát hiệu lực của một số loại thuốc trừ bệnh phòng trừ bệnh đạo ôn lúa. Yêu cầu - Điều tra tình hình và diễn biến của bệnh trên đồng ruộng vụ xuân 2016; - Xác định ảnh hưởng của một số yếu tố giống, kỹ thuật chăm sóc đến sự phát sinh, phát triển của bệnh đạo ôn tại huyện Chương Mỹ - Hà Nội vụ xuân 2016; - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của nấm gây bệnh đạo ôn; - Xác định chủng sinh lý của một số mẫu nấm gây bệnh đạo ôn; - Xác định hiệu lực của một số thuốc trừ bệnh đối với bệnh đạo ôn trên lúa ngoài đồng ruộng. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
LỊCH SỬ PHÁT HIỆN VÀ NGHIÊN CỨU BỆNH ĐẠO ÔN Bệnh đạo ôn do nấm Pyricularia oryzae Cavara (Pyricularia grisea Sacc) gây ra có lịch sử nghiên cứu lâu đời nhất trong các bệnh hại lúa. Từ nhiều thế kỷ trước bệnh đã được quan sát thấy ở các nước châu Á như Nhật Bản, Ấn Độ, Trung Quốc, các nước vùng Trung Á, Tây Á; ở Bắc Mỹ, Nam Mỹ, quần đảo Antin; ở châu Âu: Ý, Bungari, Rummani, Bồ Đào Nha, Liên Xô,… Đến những năm 1560 bệnh đã được phát hiện chính thức ở Ý (Lê Lương Tề, 1988). Sau đó bệnh được phát hiện ở Trung Quốc năm 1637, Nhật Bản năm 1760, Mỹ năm 1906, Ấn Độ năm 1913. Cho đến nay bệnh đạo ôn đã được ghi nhận có mặt và gây hại ở trên 85 quốc gia trên thế giới bao gồm Châu Á, Châu Mỹ, Châu Âu, Châu Phi… Tại Việt Nam bệnh đạo ôn đã được biết đến từ lâu với tên gọi là bệnh “tiêm lụi”, bệnh “cháy lá lúa”.
Fivincens (1921) đã thấy bệnh xuất hiện trên lúa ở các tỉnh phía Nam. Sau đó Roger (1951) cũng đã thấy bệnh xuất hiện ở các tỉnh phía Bắc. Các đợt dịch đạo ôn có xu hướng gây hại ngày càng mạnh trên quy mô diện tích ngày một lớn. Vụ đông xuân năm 1979 có trên 15.000 ha lúa bị nhiễm đạo ôn, vụ xuân 1981 là trên 40.000 ha lúa bị nhiễm bệnh đạo ôn, vụ chiêm xuân 1982 có trên 80.000 ha lúa bị nhiễm bệnh đạo ôn, vụ chiêm xuân 1985 có trên 160.000 ha lúa bị nhiễm bệnh đạo ôn, vụ đông xuân 1986 có 119.977 ha lúa bị nhiễm bệnh đạo ôn (trong đó nhiều vùng bị nhiễm nặng là Nghệ Tĩnh, Thái Bình, Hà Nam Ninh và Hải Phòng…).000 ha lúa bị nhiễm bệnh đạo ôn, trong đó có trên 10% diện tích nhiễm nặng, trên 20.000 ha lúa nhiễm đạo ôn ở mức trung bình.
Cá biệt có một số nơi bệnh đạo ôn cổ bông tới 60-70%. Bệnh đạo ôn tái phát hàng năm và gây hại trên diện rộng, đến năm 1995 các giống IR50404, OM269-65 và một số giống khác bị nhiễm bệnh ở hầu hết các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long với trên 200.000 ha, mức thiệt hại chung từ 10-15%. 3 Năm 2001 diện tích nhiễm bệnh đạo ôn lá là 336.370 ha, chiếm khoảng 4,56% diện tích gieo cấy, trong đó diện tích nhiễm nặng là 5.790 ha, diện tích bị lụi là 62,4 ha. Trong vụ đông xuân bệnh gây hại nặng cục bộ trên một số giống lúa nhiễm như nếp, DT13, IR17494, IR38, IR3820, Q5… ở một số tỉnh như Thừa Thiên Huế, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thái Bình và một vài tỉnh khác thuộc đồng bằng Bắc Bộ.
Bệnh đạo ôn lá ở các tỉnh miền trung khoảng 7. Tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long bệnh phát sinh trên diện rộng, diện tích nhiễm là 199. Diện tích nhiễm đạo ôn cổ bông khoảng 91.760 ha, trong đó diện tích nhiễm nặng là 4.930 ha, diện tích bị giảm trên 70% năng suất không đáng kể. Ở các tỉnh phía Bắc bệnh hại chủ yếu trên các giống Q5, DT10, Khâm Dục.
Ở các tỉnh khu 4 và miền Trung bệnh hại chủ yếu ở Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Đà Nẵng. Ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long trong vụ đông xuân có 46.000 ha nhiễm bệnh đạo ôn cổ bông (Cục bảo vệ thực vật, 2002). Năm 2002 diện tích nhiễm bệnh đạo ôn lá khoảng 208.399 ha, trong đó diện tích nhiễm nặng là 3.915 ha, diện tích bị lụi không đáng kể. Bệnh gây hại nặng hơn ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.
Ở các tỉnh phía Bắc, bệnh phát sinh cục bộ và gây hại chủ yếu trên lúa đông xuân ở các giống lúa IR17494, IR38, IR1820, Q5… Tại các tỉnh miền Nam, diện tích nhiễm bệnh toàn vùng là 169.138 ha, trong đó diện tích bị nhiễm nặng 1. Diện tích nhiễm bệnh đạo ôn cổ bông của cả nước là 42.684 ha, trong đó diện tích nhiễm nặng là 1. Năm 2003 diện tích nhiễm đạo ôn lá là 265.216 ha trong đó diện tích nhiễm nặng là 1.532 ha, diện tích bị lụi không đáng kể. Bệnh gây hại chủ yếu ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.
Tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long diện phân bố của bệnh tương đối rộng, diện tích nhiễm bệnh của toàn vùng là 254. Diện tích nhiễm bệnh đạo ôn cổ bông của cả nước là 25.715 ha, trong đó diện tích bị nhiễm nặng là 166 ha (Cục bảo vệ thực vật, 2004). Năm 2004, diện tích nhiễm đạo ôn lá là 225.870 ha trong đó diện tích nhiễm nặng là 5.716 ha, diện tích bị lụi không đáng kể. Diện tích nhiễm bệnh đạo ôn cổ bông là 40.470 ha, diện tích nhiễm nặng là 1.
Năm 2005, diện tích nhiễm đạo ôn lá là 196.947 ha, trong đó diện tích nhiễm nặng là 10. Bệnh gây hại nặng hơn ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu 4 Long. Diện tích nhiễm đạo ôn cổ bông là 24.455 ha, trong đó diện tích nhiễm nặng là 1.711 ha lúa bị nhiễm đạo ôn lá trong đó có 10.312 ha bị nhiễm nặng tập trung chủ yếu ở các tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long. Diện tích nhiễm đạo ôn cổ bông của cả nước là 39.552 ha, trong đó, diện tích nhiễm nặng là 1.350 ha và diện tích bị giảm năng suất trên 70% là 33 ha (Cục bảo vệ thực vật, 2007).
PHÂN LOẠI VÀ ĐẶT TÊN Theo Ou (1983), nấm đạo ôn lúa thuộc loài Magnaporthe oryzae, chi Magnaporthe, họ Magnaporthaceae, bộ Magnaporthales, lớp Sordariomyces, ngành Ascomycota (nấm túi). Ở giai đoạn sinh sản vô tính nấm đạo ôn được xếp vào họ Moniliaceae, bộ Moniliales, lớp Deuteromycetes (nấm bất toàn). Dạng chuyên hóa của nấm theo loài cây ký chủ như nấm trên cây Brachiaria mutica được gọi là P. Nấm đạo ôn được gọi bằng một số tên gọi khác nhau.
Do nấm chỉ tồn tại ở dạng phát triển không hoàn toàn trong điều kiện tự nhiên nên được Saccardo đặt tên đầu tiên năm 1880 là Pyricularia grisea. Năm 1891 Cavara mô tả Pyricularia trên cây lúa và đặt tên khác là Pyricularia oryzae Cavara, cho rằng nấm P. oryzae phân biệt với P. grisea mà Saccardo mô tả.
Tuy nhiên, về sau nhiều nhà khoa học nhận thấy hai loại nấm trên không khác biệt với nhau (Ou, 1985). Hebert (1971), phát hiện dạng phát triển hoàn toàn của nấm và Barr (1977) đã đặt tên nấm là Magnaporthe grisea (Rossman et al. Cho đến nay mặc dù tranh luận về tên gọi chính thức nấm đạo ôn chưa kết thúc nhưng P. grisea là tên đặt trước tiên (Leung and Taga, 1988).
TRIỆU CHỨNG BỆNH 2. Triệu chứng bệnh trên lá Vết bệnh trên lá mạ lúc đầu hình bầu dục nhỏ, sau tạo thành hình thoi nhỏ màu nâu hồng hoặc nâu vàng, khi bệnh nặng cây mạ có thể héo khô và chết.