đặt vấn đề Hoàng Sa” [20, tr. Bài viết này bàn luận về các vấn đề liên quan tới HoàngSa, các tư liệu sử liệu được đề cập khá nhiều, mặc dù vậy bản đồ cũng chiếm một phần đáng kể trong bài viết. Khác với những bài viết trong tập san này, hướng khai thác chủ yếu lại là lịch sử, hoặc trình bày theo phương thức tự thuật. Các bản đồ được ông đề cập: TNTCLĐT, HĐBĐ, Thuận hóa Quảng Nam địa đồ.
Ông kết luận rằng: “Xét các bức đồ ấy, thì ta chắc rằng trong địa đồ xưa, Đại Trường Sa hay là Bãi Cát Vàng đều trỏ quần đảo Tràng Sa hoặc Hoàng Sa hay Vạn Lý Tràng Sa mà người Âu gọi là Parcel hay Paracel” [20, tr. Năm 2011, Trần Văn Quyến công bố một bài viết “Địa danh Hoàng Sa trong TTTNTCLĐT” [56, tr. 81 – 83], giới thiệu ngắn gọn tập bản đồ Hồng Đức có ký hiệu 98846 lưu giữ tại thư viện Hiroshima (Nhật Bản), và đề cập nội dung ghi chép về Bãi Cát Vàng trong TTTNTCLĐT. Hai năm sau (2013) tác giả công bố thêm một bài viết: “Hoàng Sa trong QTĐST của Nguyễn Huy Quýnh” [56, tr.
47 – 51], giản thuật thông tin về đội Hoàng Sa nhị ghi trong văn bản. Có thể thấy nghiên cứu về Hoàng Sa khai thác ở mảng tư liệu trong nước chỉ tồn tại ở những năm trước thể kỷ XX và hầu như không phát triển mạnh mẽ tới nay, bởi phần lớn sử liệu hiện tồn đã khai thác tốt, điều này dễ thấy ở những công trình ở những năm 80 của thể kỷ XX. Sự hạn chế về tư liệu bản đồ, cùng những điểm bất cập ở những bản đồ cổ hiện tồn “bản đồ không có đường phân cách đất liền và biển, biểu thị Bãi Cát Vàng nằm trên đất liền”[53, tr. 64- 65] là những điểm bất cập cho hướng nghiên cứu tư liệu trong nước, đặc biệt là bản đồ cổ Việt Nam, chính điều này là tiền đề cho hướng tiếp cận mới là nghiên cứu tư liệu Trung Quốc cũng như là phương Tây.
Là đại diện cho khuynh hướng khai thác tư liệu Trung Quốc thì không thể không nhắc tới Phạm Hoàng Quân, ông cũng là một trong những tác giả ít ỏi khai thác về tư liệu Trung Quốc, đặc biệt là bản đồ cổ. Năm 2012 ông công bố một bài n viết: “Nguyên bản sách Địa dư đồ khảo” [49, tr. 59 – 64], nội dung đề cập tới cuốn sách Địa dư đồ khảo do các học giả Trung Quốc biên soạn, chỉ ra một bản đồ trong tập sách này là Quảng Đông tỉnh đồ đã xác định rõ Quỳnh Châu (đảo Hải Nam) là biên giới cuối cùng của lục địa Trung Hoa. Cũng trong năm này (2012) một chuyên luận được công bố “Địa đồ lịch sử Trung Hoa liên quan tới biển Đông Nam Á” [50, tr.
65 – 82], đây là một phần trong một Biên khảo “địa đồ lịch sử Trung Quốc”, căn cứ những tư liệu bản đồ hành chính Trung Quốc theo tiến trình lịch sử thảo luận các vấn đề liên quan đến biển Đông Nam. Một bài viết khác “Về địa danh và vị trí Vạn Lý Trường Sa – Vạn Lý Thạch Đường trên địa đồ hàng hải thời Minh ở thư viện Đại Học Oxford” [51, tr. 106 - 121], giới thiệu sơ lược về bản đồ The Selden Map of China cùng phong cách và đặc trưng bản đồ. Kết quả cho thấy bản đồ này lần đầu tiên dùng danh xưng Vạn Lý Thạch Đường – Vạn Lý Trường Sa và đặt phương vị chuẩn xác, ngoài ra chỉ ra mục đích được ghi trên bản đồ chỉ nhằm thể hiện tiêu chí giao thông, không có ý biểu thị việc xác định chủ quyền.
Năm 2014, ông công bố “Thư tịch cổ Trung Quốc về Hoàng Sa và Trường Sa” [52, tr. 55 – 77], căn cứ vào tư liệu Trung Quốc liên quan tới Hoàng Sa Trường Sa, tác giả đã bóc tách thành các lớp lịch đại: các bản đồ hành chính tỉnh Quảng Đông (10 bức), Bản đồ hành chính toàn quốc (2 bức), Bản đồ biên cương (2 bức), Bản đồ quân sự (1bức). Phương pháp hệ thống này mang nhiều ý nghĩa về mặt pháp lý, khác hoàn toàn với các tư liệu của các học giả Trung Quốc đưa ra “chồng lấn phức tạp, chưa được phân loại rõ ràng, nên tuy có thể coi là sử liệu nhưng giá trị khoa học trong tham khảo kém” [52, tr. Có thể thấy, các công trình do Phạm Hoàng Quân khảo cứu, phần lớn đều lấy bản đồ làm trung tâm nghiên cứu.
Các vấn đề về đặc trưng, phong cách và thể loại bản đồ cũng được tác giả đề cập. Có thể kết luận rằng, các cống hiến của Phạm Hoàng Quân không những ảnh hưởng tới thành tựu nghiên cứu Hoàng Sa, mà quan trọng hơn là nghiên cứu bản đồ cổ Việt Nam. Khai thác theo khuynh hướng thu tập tài liệu phương Tây thì có nhiều tác giả, tiêu biểu như Trần Đức Anh Sơn, Nguyễn Đình Đầu, Nguyễn Quang Ngọc… Năm 2014 Trần Đức Anh Sơn cùng một nhóm tác giả Jerome A.Cohen, Jean-Pierrier, n Subhash Kapila, Hãn Nguyên Nguyễn Nhã, Nguyễn Quang Ngọc, Gregory Poling, Phạm Hoàng Quân, Shimao Mironu, Tạ Văn Tài, Carlyle A. Thayer đã công bố một quyển sách có tên: Hoàng Sa Trường Sa tư liệu & quan điểm của học giả quốc tế [58].
Quyển sách này gồm 12 bài viết của 13 tác giả, đáng chú ý là các bài viết: “Thư tịch và bản đồ cổ phương Tây chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” của Trần Đức Anh Sơn [59, tr. 9 – 41], trong bài viết này có 1 mục về “bản đồ cổ phương Tây chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, tác giả cho biết thu nhập được hơn 140 bản đồ phương Tây vẽ và xuất bản các thế kỷ XVI – XIX có vẽ địa danh Paracel/ Paracels/ Pracel/ Parcel Islands, cùng giới thiệu một số bản đồ tiêu biểu trong số đó. Cũng trong năm này (2014) ông công bố một bài viết, “Tư liệu bản đồ chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với Quần đảo Hoàng Sa” [60, tr. 46 - 57; 46 – 53], bài này được chia làm 2 kỳ, 1 kỳ đăng trên số 57, kỳ còn lại đăng trên số 58 trên Tạp chí Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng.
Thao tác chủ yếu của bài viết này là thống kê các bản đồ có liên quan tới Hoàng Sa dựa trên 3 nguồn tư liệu: bản đồ trong nước, bản đồ phương Tây và bản đồ Trung Quốc. Cũng trong năm này (2014) Trần Đức Anh Sơn công bố: “Bản đồ Partie de la Cochinchine trong bộ Atlas Universel Một tư liệu vô giá chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa” [61, tr. 54 – 58], Nguyễn Quang Ngọc và Nguyễn Thị Hải công bố “Bộ Atlas Universel của Philippe Vandermaelen và vấn đề chủ quyền trên quần đảo giữa biển đông” [43, tr. 43 – 53], nội dung 2 bài viết này cơ bản là giới thiệu về bộ Atlas Universel đặc biệt là bản đồ Partie de la Cochinchine do người sáng lập Viện Địa lý Hoàng gia Bỉ biên soạn.
Nguyễn Đình Đầu 2014 công bố một quyển sách: Chủ quyền Việt Nam trên biển đông & Hoàng Sa – Trường Sa [17]. Quyển sách này với mục đích cung cấp tư liệu chứng minh chủ quyền biển đảo Việt Nam dựa trên các tư liệu trong và ngoài nước, phần bản đồ chiếm dung lượng tương đối. Tuy vậy quyển sách này đa phần là tự thuật, ít bàn luận và đánh giá, tranh ảnh bản đồ đóng vai trò chủ đạo. Năm 2014, Nguyễn Quảng Minh công bố một bài viết: “Về năm vẽ một bản đồ cổ ở Hà Nội” [41, tr.
212 – 234], bài viết giới thiệu sơ lược n về tấm bản đồ ký Ge A-395 (chụp lại từ Nathalie Lancret), mặt khác từ các địa danh phản ánh trên bản đồ tác giả kết luận bản đồ này vẽ trong khoảng thời gian 1876 – 1883. Có thể thấy, các nghiên cứu khai thác tư liệu bản đồ phương Tây, chủ yếu công bố trong năm 2014, các công bố này đều mang tính chất thống kê/ giới thiệu mà chưa đi sâu vào phân tích và bình luận. Như vậy, từ nội dung nghiên cứu không khó để nhận ra rằng, khai thác tư liệu bản đồ để nghiên cứu Hoàng Sa được chia thành các thời kỳ rõ rệt. Ở thế kỷ XX, tư liệu hiện tồn tại Việt Nam được các tác giả trong nước ưu tiên và khai thác.
Các nghiên cứu thế kỷ XXI, chủ yếu tìm kiếm các tư liệu nước ngoài, đặc biệt là phương Tây và Trung Quốc. Có điều, các nghiên cứu khai thác từ khía cạnh tư liệu phương Tây là chủ yếu, nghiên cứu tư liệu Trung Quốc chưa được quan tâm nhiều ngoài học giả Phạm Hoàng Quân.3 Các bản đồ khác Năm 1963 Lê Phước công bố một bài viết có nhan đề “Nhận xét về tập bản đồ Hồng Đức số A.2499 của Thư viện Khoa học” [48, tr. Bài viết tiến hành đối chiếu với một bản đồ cùng tên được Ty Văn hóa tỉnh Nam Định sưu tầm năm 1958, từ đó chỉ ra những điểm khác nhau giữa hai tấm bản đồ này. Bài viết đi đến kết luận rằng: bản đồ Hồng Đức có ký hiệu A.2499 là tập bản đồ gồm nhiều bản đồ đóng gộp với nhau, tập bản đồ sưu tầm năm 1958 thì chỉ có riêng các bản đồ Hồng Đức.
Ngoài điểm khác biệt này, các danh xưng giữa hai tập bản đồ cũng khác nhau. Điểm dị biệt này phản ánh tập bản đồ Hồng Đức ký hiệu A.2499 không phải được vẽ năm 1490, mà được vẽ sau năm Hồng Đức 2 hoặc 3 thế kỷ [48, tr. Hai năm sau (1965), “Một nhầm lẫn cần chấm dứt” [62, tr. 43] trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử đã thảo luận về tấm bản đồ Thăng Long được trích trong tập bản đồ Hồng Đức có ký hiệu A.2499 của Thư viện Khoa học được cho là vẽ từ năm 1490.
Việc sử dụng danh xưng Vương phủ trong bản đồ Thăng Long càng góp phần khẳng định rằng tấm bản đồ này không thể có niên đại từ năm 1490 được. Vì danh xưng này phải đến năm 1598 mới xuất hiện. Liên quan tới bản đồ Hồng Đức, hai mươi lăm năm sau (1900) Hội Trắc Địa địa lý Việt Nam tổ chức Kỷ niệm 500 năm HĐBĐ. n 8 Hội thảo có 21 tham luận, trong đó có 13/21 bài viết đề cập tới bản đồ.
Nhìn chung các bài viết tham gia khá nhiều nhưng còn hạn chế về nhiều mặt: “Hội thảo quốc tế về bản đồ năm 1990 tuy có nhiều học giả tham dự, nhưng về cơ bản, không có nhiều thành tựu bởi phần lớn đều không được tiếp xúc với văn bản gốc, ngoài Trần Nghĩa.