CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI BÒ VÀ THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ THỊT BÒ TRÊN THẾ GIỚI 1. Số lượng và sản lượng thịt bò Theo số liệu thống kê của tổ chức Nông lương thế giới FAO (2014) số lượng bò của thế giới năm 2011 là 1.453,4 triệu con, đến năm 2014 là 1.482,1 triệu con, tăng 1,9%.1 cho thấy đàn bò phân bố nhiều nhất ở châu Mỹ, sau đó là châu Á và các châu lục khác. Sản lượng bò thịt của thế giới năm 2014 là 58,625 triệu tấn.
Trong đó các cường quốc về sản lượng thịt bò năm 2014 như Hoa Kỳ 9,9 triệu tấn, Trung Quốc 5,750 triệu tấn, Argentina 2,840 triệu tấn, Australia 2,265 triệu tấn và Liên Bang Nga 1,384 triệu tấn (FAO, 2014). Phân bố đàn bò ở các châu lục trên thế giới từ năm 2010-2014 ĐVT: Triệu con Năm 2010 2011 2012 2013 2014 Châu lục Châu Phi 286,068 291,031 258,734 262,138 310,277 Châu Á 495,758 491,355 493,948 491,913 498,548 Châu Âu 124,481 121,244 121,651 122,711 122,711 Châu Mỹ 509,767 508,878 508,685 509,397 510,397 Châu Đại Dương 37,332 39,266 39,344 40,221 40,209 Tổng 1.482,146 Nguồn: Nông lương thế giới tổ chức FAO, (2014) 1. Thị trường tiêu thụ thịt bò Thị trường tiêu thụ thịt bò của khu vực Đông Nam Á và Trung Quốc biến động mạnh Thị trường thịt bò và thương mại ở Trung Quốc và Đông Nam Á đã trải qua những thay đổi lớn trong thập kỷ qua. Lượng tiêu thụ thịt bò đã tăng nhanh tại khu vực.
Từ năm 2000 đến năm 2013, tiêu thụ thịt bò bình quân hàng năm tăng 5,3% tại Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 13 Việt Nam và khoảng 4% ở Trung Quốc, trong khi giá thịt bò tăng 8% và 11% tương ứng. Một thực tế là nhu cầu về thịt bò ngày càng tăng nhưng số lượng đàn bò lại có xu hướng giảm ở các nước trong khu vực, đặc biệt là Trung quốc giảm mạnh nhất (69%) trong từ năm 2000 - 2013. Nguyên nhân giảm là do nhiều nguyên nhân trong đó nguyên nhân chính là cơ giới hóa trong nông nghiệp, đô thị hóa nông thôn giảm vùng thức ăn chăn nuôi, người dân bán bò còn nhỏ, ngành chăn nuôi bò giống chưa được quan tâm phát triển như lợn và gia cầm, bên cạnh đó do thời tiết rét đậm, rét hại ở khu vực đã làm giảm đàn gia súc của các nước trong khu vực. Điểm đáng chú ý nhất trong khu vực Đông Nam Á và Trung Quốc là việc nhập khẩu bò.
Thịt bò nhập khẩu chính thức vào Trung Quốc, Việt Nam và Indonesia đã tăng từ khoảng 100.000 tấn trong năm 2008 lên 430. Bên cạnh đó có hơn một triệu tấn nhập vào Trung Quốc thông qua các kênh không chính thức trong năm 2014 (từ Ấn Độ, Brasil và Hoa Kỳ). Các nước này đã chính thức nhập khẩu hơn 900.000 gia súc, trong khi hàng trăm nghìn người khác chủ yếu từ Myanmar vượt biên vào Trung Quốc và đi qua Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam vào thông qua vô số cơ hội và thành lập các tuyến đường thương mại (Phạm Văn Lương và cs, 2014).TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI BÒ Ở VIỆT NAM 1. Số lượng đàn bò và sản lượng thịt bò Những năm gần đây ngành chăn nuôi nước ta nói chung và ngành chăn nuôi bò thịt nói riêng có nhiều biến động do thời tiết bất thuận, tình hình thị trường, giá cả thức ăn chăn nuôi bất ổn, dịch bệnh thường xuyên xảy ra trên diện rộng, v.
Tuy nhiên, ngành chăn nuôi bò thịt vẫn tiếp tục có những chuyển biến tích cực và phát triển mạnh ở nhiều địa phương và thu được những kết quả nhất định (Bảng 1. Số lượng đàn bò và sản lượng thịt bò ở Việt Nam giai đoạn 2011-2016 Năm 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 Chỉ tiêu Số lượng 5,808 5,436 5,194 5,156 5,234 5,367 5,496 (triệu con) Tăng trưởng (%) -4,75 -6,37 -4,60 -0,39 1,16 2,48 2,40 Thịt hơi (ngàn tấn) 278,91 287,16 293,96 285,40 292,90 299,32 308,60 Tăng trưởng (%) 2,98 2,37 -4,46 4,27 2,10 3,10 Nguồn: Tổng cục thống kê (2016) Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 14 Bãng 1.2 cho thấy từ 2010 đến 2013 đàn bò của nước ta có tốc độ tăng trưởng âm về số lượng (giảm từ 5,808 xuống còn 5,156 triệu con, tốc độ giảm đàn bình quân 93,6%/năm, nhưng từ 2013 đến 2016 tốc độ tăng trưởng dương, số lượng đàn bò tăng từ 5,156 lên 5,496 triệu con). Nguyên nhân chủ yếu có lẽ là do: 1) Sự gia tăng sản phẩm chế biến do nhu cầu mạnh mẽ từ Trung Quốc và thị trường trong nước; 2) Tăng cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp nên số lượng đàn bò phục vụ cho mục đích cày kéo giảm; 3) Trong những năm gần đây, do diện tích chăn thả bị thu hẹp, chăn nuôi hiệu quả thấp nên chưa khuyến khích người nuôi mở rộng quy mô đàn; 4) Thời gian tái đàn chậm và do tập tục ăn thịt bê thui của người Việt Nam nên một số lượng lớn bê đã bị đưa vào các nhà hàng ở độ tuổi còn non. Tuy nhiên do khâu giống, kỹ thuật nuôi dưỡng, phương thức chăn nuôi và tổ chức sản xuất ngày càng được cải thiện nên sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng hàng năm vẫn liên tục tăng lên (năm 2016 đạt 308,60 ngàn tấn, tăng 3,1 % so với năm 2010).
Sự phân bố đàn bò Phân bố của đàn bò nước ta theo các vùng sinh thái được trình bày ở Bảng 1. Sự phân bố đàn bò theo vùng sinh thái năm 2016 Số lượng TT Vùng sinh thái Tỷ lệ (%) ( nghìn con) 1 Đồng bằng sông Hồng 493,069 8,97 2 Trung du và miền núi phía Bắc 958,084 17,43 3 Bắc Trung bộ và Duyên hải Miền Trung 2.238,384 40,72 4 Tây Nguyên 717,744 13,05 5 Đông Nam Bộ 377,361 6,86 6 Đồng bằng sông Cửu Long 711,915 12,95 Tổng cộng 5.496,557 100 Nguồn: Tổng cục thống kê (2016) Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 15 Bảng 1.3 cho thấy, sự phân bố tự nhiên đàn bò là không đồng đều giữa các vùng sinh thái khác nhau. Năm 2016, tổng đàn bò của cả nước là 5.496,557con, phân bố hầu khắp các vùng sinh thái trong cả nước. Tuy nhiên, tập trung nhiều nhất là ở các tỉnh miền Trung (chiếm 40,72% tổng đàn), đây là khu vực có nhiều điều kiện tự nhiên thích hợp để chăn nuôi bò thịt, là vùng có tiềm năng rất lớn để phát triển chăn nuôi bò thịt chất lượng cao với quy mô lớn.
Khoảng 59,28% được phân bố trên 5 vùng còn lại, trong đó khu vực Trung du và miền núi phía Bắc có 958,084 con, chiếm 17,43% tổng đàn bò cả nước; Tây Nguyên là vùng đất rộng lớn, có nhiều đất đai và đồng cỏ phù hợp cho để phát triển chăn nuôi bò nhưng đàn bò ở đây chỉ chiếm 13,05%; Ở đồng bằng sông Cửu Long là 12,95%, Đồng bằng sông Hồng 8,97% và Đông Nam Bộ là 6,86%. Phương thức chăn nuôi Chăn nuôi bò ở nước ta có ba phương thức chủ yếu đó là chăn nuôi thâm canh, bán thâm canh và quảng canh. Chăn nuôi bò theo phương thức bán thâm canh quy mô nông hộ 1-2 con ở đồng bằng là phổ biến, tận dụng phụ phế phẩm nông nghiệp và công lao động. Chăn nuôi bò quảng canh chủ yếu tập trung ở vùng miền núi.
Thâm canh và công nghiệp thâm canh chủ yếu ở đồng bằng và trung du. Khuynh hướng phát triển chăn nuôi bò trang trại ngày càng tăng. Một số trang trại đã đầu tư chăn nuôi bò thịt theo hướng thâm canh, nuôi các giống bò hướng thịt, thụ tinh nhân tạo được áp dụng triệt để, trồng các loại cây thức ăn có năng suất cao kết hợp với việc sử dụng thức ăn tinh hỗn hợp. Tuy nhiên công nghệ chăn nuôi ở các trang trại đổi mới chưa nhiều, một vài cơ sở chỉ mới tập trung đầu tư nâng cấp chuồng trại, áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý đàn bò và công nghệ vỗ béo bò thịt.
Quy mô chăn nuôi bò Đàn bò nước ta chủ yếu là chăn nuôi nông hộ 1 - 2 con, chiếm 70-80% số lượng đàn bò cả nước. Đây là phương thức chăn nuôi nhỏ lẽ, phân tán được áp dụng chủ yếu trong các nông hộ ở khu vực miền núi phía Bắc và miền Trung nhằm sử dụng sức kéo trong sản xuất nông nghiệp, tận dụng phế phụ phẩm nông nghiệp và công lao động phụ, chỉ một số ít hộ có quy mô từ 10 - 20 con. Chăn nuôi bò với quy mô vừa chủ yếu ở miền núi và trung du thuộc các tỉnh duyên hải miền Trung và Tây Nguyên ( Vũ Duy Giảng và cs, 2008) Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 16 Chăn nuôi trang trại cũng đã được hình thành và đang ngày càng phát triển, năm 2010 cả nước có 1.620 trang trại chăn nuôi bò thịt, chiếm 25,3% trong tổng số trang trại chăn nuôi bò ( Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2010). Các trang trại chăn nuôi bò thịt tập trung chủ yếu ở Đông Nam Bộ: 811 trang trại, chiếm 50,1%; Tây Nguyên: 351 trang trại, chiếm 21,7%; Tây Bắc: 153 trang trại, chiếm 9,4%; Duyên hải Nam Trung Bộ: 108 trang trại, chiếm 6,7%; Bắc Trung Bộ: 105 trang trại, chiếm 6,5%; còn lại là các vùng khác.
Một số tỉnh có trang trại bò thịt nhiều nhất là Bình Thuận: 528, Gia Lai: 155, Đắk Lắk: 134 (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2010). Chăn nuôi năm 2010 quy mô chăn nuôi ở các trang trại bò thịt phổ biến là 50 - 100 con/trang trại với số lượng là 1.269 trang trại, chiếm 78,3%; quy mô từ 100 - 150 con/trang trại là 230 trang trại, chiếm 14,2%; quy mô từ 150 - 200 con/trang trại là 93 trang trại, chiếm 5,7%; quy mô từ 200 - 500 con/trang trại là 23 trang trại, chiếm 1,4% và trên 500 con/trang trại là 5, chiếm 0,3%. Nơi có quy mô chăn nuôi bò thịt lớn nhất là Tây Nguyên, có 11 trang trại với số lượng 200 - 500 con/trang trại và 1 trang trại trên 500 con; Đông Nam Bộ có 5 trang trại với số lượng 200 - 500 con/trang trại và 3 trang trại với số lượng trên 500 con/trang trại (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2010). Các tiến bộ về giống, thức ăn, chuồng trại, quy trình kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng được áp dụng trong chăn nuôi trang trại bò thịt.
Vì vậy, năng suất, chất lượng giống và hiệu quả chăn nuôi được cải thiện. Tuy vậy, việc tổ chức ngành hàng và quản lý công tác giống bò thịt của nước ta vẫn chưa có hệ thống, chưa đi vào quy cũ. Chất lượng đàn bò Tính đến năm 2008 đàn bò các giống địa phương chiếm khoảng 70% tổng đàn.