Đặt vấn đề Trúc sào có tên khoa học là Phyllostachys edulis (Carr.) Riviere, tên địa phương là Trúc to, Mạy khoang cái, Mạy khoang hoài, Sào pên. Trúc sào là cây trồng có giá trị kinh tế, được trồng ở nước ta từ rất lâu đời và được trồng nhiều ở Cao Bằng. Người dân bản địa ở Cao Bằng cho rằng Trúc sào có nguồn gốc từ Trung Quốc, được đồng bào Dao lấy giống, do du canh du cư mà lan rộng ra. Hiện nay, Trúc sào phát triển mạnh ở các tỉnh như Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Quảng Ninh… thường ở độ cao trên 800m nơi đồng bào người Dao, H’Mông, Tày, Nùng sinh sống.
Trúc sào Cao Bằng từ rất lâu đã trở thành hình ảnh quen thuộc, là biểu tượng của người dân địa phương. Thân Trúc sào là sản phẩm quan trọng nhất; do thân thẳng, to, tròn đều, mắt ít nổi, dễ uốn và nếu được chế biến tốt, thân có màu vàng ngà, sáng bóng rất đẹp. Thân Trúc sào được sử dụng vào rất nhiều việc như: làm đồ thủ công, mỹ nghệ, làm cần câu, gậy trượt tuyết, sào nhảy cao, đan mành, làm chiếu, đóng bàn ghế rất có giá trị. Đó là những mặt hàng, đặc biệt dùng cho xuất khẩu.
Thân Trúc sào còn dùng làm nguyên liệu giấy, sợi rất tốt. Đây là nguồn nguyên liệu quan trọng cho ngành công nghiệp giấy của Trung Quốc. Gần đây trúc sào được dùng làm ván ghép và ván thanh để trang trí nội thất, làm ván sàn và đóng đồ đạc thay gỗ, rất có triển vọng. Ngoài giá trị kinh tế Trúc sào còn đóng góp vào bảo vệ môi trường sinh thái, làm tăng độ che phủ rừng, giữ đất, giữ nước, bảo tồn và phát triển sự đa dạng các nguồn gen cây bản địa, Trúc sào còn mang ý nghĩa văn hóa, cộng đồng cao.
Vì vậy Trúc sào cần được quy hoạch thành vùng ổn định. Cũng cần quản lí rừng Trúc sào bằng các biện pháp kĩ thuật tốt để duy trì ổn định và lâu dài. Hiện nay các h 2 nghiên cứu về Trúc sào còn quá ít, chỉ dựa trên kinh nghiệm của người dân và các cơ sở sản xuất. Việc nghiên cứu, xác định cấu tạo, tính chất vật lí là cơ sở khoa học cơ bản để tìm hiểu về bản chất của Trúc sào là căn cứ cho chế biến, bảo quản và sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên này; là những tiêu chí để đánh giá chất lượng rừng, đánh giá tuyển chọn giống.
Xuất phát từ vấn đề cấp thiết thực tiễn của đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của vị trí trên cây đến cấu tạo và tính chất vật lí của Trúc sào tuổi 5” là hết sức cần thiết góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc sử dụng từng vị trí của cây Trúc sào vào mục đích mong muốn để đạt hiệu quả cao nhất.2 Mục tiêu nghiên cứu - Xác định được cấu tạo các vị trí khác nhau trên cây Trúc sào tuổi 5 - Xác định được ảnh hưởng của vị trí trên thân cây đến tính chất vật lý của cây Trúc sào tuổi 5 1. Ý nghĩa khoa học Đề tài là cơ sở khoa học cho việc phân tích sự biến đổi tính chất vật lý ở các vị trí trên Trúc sào và định hướng sử dụng theo vị trí cho loại cây này. Ý nghĩa thực tiễn - Xác định được hướng sử dụng của loại cây Trúc sào tuổi 5 theo vị trí. - Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu đề tài giúp cho người dân, các cơ sở chế biến có hướng sử dụng hợp lý giữa các vị trí trên thân cây tránh lãng phí và tận dụng triệt để nguồn tài nguyên cây Trúc sào tuổi 5.
h 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam 2. Nghiên cứu chung về tre trúc ở trên thế giới Tre là một tài nguyên rừng, một nhóm lâm sản ngoài gỗ rất có giá trị. Tre trên thế giới phân bố trên 3 khu vực: Châu Á Thái Bình Dương, Châu Phi và Châu Mĩ.
Tre thuộc phân họ tre (Bambussoideae), hộ Cỏ (Poaeceae) với khoảng 1300 loài thuộc 70 chi phân bố trên toàn thế giới. Nhiều loài tre có đặc tính mọc thành rừng. Đã thống kê được trên 14 triệu ha rừng tre phân bố từ xích đạo qua vùng nhiệt đới đến vùng hàn và ôn đới, nghĩa là từ 15 độ vĩ Bắc đến 47 độ vĩ Nam đều có tre sinh trưởng. Trung Quốc là nước có nhiều loài tre nhất, với khoảng 50 chi và 500 loài và diện tích 7 triệu ha rừng tre.
Nước nhiều loài tre thứ hai là Nhật Bản với 13 chi và trên 230 loài. Tiếp đó là các nước Ấn Độ, các nước Nam và đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Do tre vừa là nguyên liệu lại vừa là vật liệu, nên nhiều nước trên thế giới đã tiến hành nghiên cứu, thí nghiệm về tính chất vật lý và cơ học của tre. Các nghiên cứu về tre trúc ở trên thế giới đã bắt đầu từ khá lâu và rất đa dạng.
Đầu tiên phải kể tới ấn phẩm nghiên cứu về tre trúc của Munro (1868). Sau đó có nghiên cứu về các tre trúc Ấn Độ (Gamble 1868) trong đó tác giả có mô tả hình thái của 151 loài tre trúc phân bố ở Ấn Độ và một số nước láng giềng như Pakistan, Srilanca, Myanma, Malaysia, Indinesia. Tác giả cũng cho rằng các loài tre trúc là loài chỉ thị rất tốt về các đặc điểm và độ phì của đất. Haig và cộng sự (1959) cũng bình luận rằng sự phân bố tự nhiên của tre trúc ở Myanma cũng chỉ thị rất tốt các điều kiện đất đai ở đó.
h 4 Năm 1996 Zhang- min, Kawasaki- T, Giang- Ping Trường Đại học Kyoto, Viện nghiên cứu gỗ Nhật Bản đã thành công với đề tài: “ Nghiên cứu nghệ sản xuất các tính chất ván tổng hợp tre gỗ”. Ở Trung Quốc một số loài tre trúc như Mao trúc, chiếm tới 75% sản phẩm xuất khẩu măng tre của Trung Quốc sang Nhật Bản, đã được nghiên cứu sâu về quá trình sinh trưởng, Dinh dưỡng sinh sản thân ngầm và thân kí sinh, bằng phương pháp hiện đại, đổng vị kí sinh v.v… Các kỹ thuật gây trồng rừng Mao trúc cao sản của tác giả Lý Đại Nhật, Lâm Cường; được Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật tỉnh Phúc Kiến (Trung Quốc) xuất bản tháng 5 năm 2000 có thể giúp chúng ta rút ra các biện pháp kỹ thuật thâm canh cho rừng Trúc sào của Việt Nam được trồng nhiều ở tỉnh Cao Bằng và Bắc Kạn. Gần đây ở Trung Quốc, người ta đã tập trung nghiên cứu các kỹ thuật trồng tre trúc lấy măng cao sản được giới thiệu trong tác phẩm: “Kỹ thuật gây trồng tre trúc lấy măng cao sản” của Hà Quân Triều, Kim Ái Võ, Châu Ngạch – Nhà xuât bản Kim Thuận tháng 3 năm 2002; “Kỹ thuật gây trông trúc hướng măng và chế biếng măng thực phẩm” của Vương Hiền Bồi – Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật và Phổ cập kiến thức Thượng Hải xuất bản tháng 1 năm 2003. Ngoài Trung Quốc, Nhật Bản cũng có diện tích rừng tre trúc tương đối lớn, với 237 loài tre trúc khác nhau, chủ yếu là các loài tre trúc mọc tản, dạng roi.
Ở Nhật Bản người ta cũng tập trung nghiên cứu cơ bản khá sâu, về dinh dưỡng và sinh trưởng của các loài tre trúc và được giới thiệu trong tác phẩm “Nghiên cứu sinh lý tre trúc” của tiến sĩ khoa học Coichiro Ueda (giáo sư trường Đại học Kyoto – Nhật Bản) xuất bản 1960. Trong tác phẩm này, tác giả đã nhận xét sự khác nhau về đặcc điểm đất trồng 2 loại trúc Phyllostachys reticuha và Phyllostachys edulis ở các nơi đất sinh trưởng tốt và xấu.[2] h 5 Xiaobo Li (2004) đã nghiên cứu sự biến đổi về tính chất cơ học của tre (Phyllostachys pubescens) thay đổi theo tuổi (1, 3,5) về chiều cao cũng như lớp ngang. Tính chất như dộ bền uốn tĩnh (MOR), modun đàn hồi (MOE) và nén đều tăng từ tuổi 1 đến tuổi 5. Theo chiều cao, tính chất cơ học có biến đổi giữa phần gốc, thân và ngọn nhưng mỗi cấp tuổi lại có quy luật khác nhau.
Theo chiều ngang, tính chất ở ngoài (sát với cật) cao hơn ở phần bên trong (sát với ruột) (Xiaobo Li, 2004) [12] Trung tâm nghiên cứu quốc gia về tre của Trung Quốc đã nghiên cứu tính chất của tre cho thấy, đối với Mao trúc (Moso) độ bền nén và độ bền uốn tĩnh của Mao tính tăng dần từ gốc đến ngọn (China National Bamboo research center 2001) [9] Theo M. Kamruzzaman (2008) đã nghiên cứu tuổi cây và vị trí trên cây có ảnh hưởng lớn đến tính chất của tre, tác giả đã đưa ra được sự ảnh hưởng của tuổi và vị trí trên cây ảnh hưởng đến tính chất cơ học của 4 loại tre gồm: Bambusa balcooa, Bambusa tulda, Bambu salarkhanii, Melocanna baccifera. Tuy nhiên, ở 4 loại này đều có sự biến động tính chất theo những quy luật khác nhau (M.Saha, 2008)[11] Juan Francisco Correal D., Juliana Arbeláez C. (2010) đã nghiên cứu về ảnh hưởng tuổi trẻ và vị trí trên thân cây đến tính chất cơ học của tre Guaduaangustifolia kunt (Guadua a.
Kết quả phân tích cho thấy từ tuổi 2- 5 và ở vị trí khác nhau theo chiều cao có sự ảnh hưởng đến tính chất của Guadua a.k cho thấy tính chất tăng dần từ tuổi 2- 4 (28,6-40,4 MPa) và giảm xuống ở tuổi 5 (35,2 MPa), vị trí trên cây cho thấy loại Guadua a.k cũng có hướng tăng lên từ gốc đến ngọn. Độ bền uốn tĩnh và mô đum đàn hồi của Guadua a.k tăng dần theo tuổi từ 2-4 tuổi (MOR: 92,7-98,5 MPa) và tuổi 5 giảm xuống (MOR: 93,5 MPa), với vị trí trên cây cũng ảnh hưởng đến tính chất này và tăng dần từ gốc đến ngọn (MOR: tăng từ 88,6-104,1 MPa) (Juan Francisco Correal D., Juliana Arbeláez C. Nghiên cứu chung về tre trúc ở Việt Nam Do có nhiều đặc tính quý nên tre nứa đã được sử dụng trong đời sống hàng ngày cũng như trong thủ công nghiệp và công nghiệp hiện đại. Đã thống kê được hơn 30 công dụng của tre nứa, trong đó những công dụng chính là làm hàng thủ công, mỹ nghệ, làm vật liệu xây dựng, làm nguyên liệu trong công nghiệp giấy sợi và sản xuất măng tre làm thức ăn tươi hoặc khô.
Ngoài ra, tre nứa là loài mọc nhanh, sớm cho sản phẩm, kỹ thuật gây trồng tương đối đơn giản, có khả năng sinh trưởng trên đất khó canh tác và đất hoang hoá, là loài đa tác dụng… nên tre nứa là nguồn tài nguyên phong phú đã và đang được con người sử dụng rộng rãi.