Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tài liệu 1. Cơ sở khoa học 1. Thực trạng ô nhiễm trong chăn nuôi gia cầm Trong những năm qua, ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng đã và đang phát triển khá mạnh về cả số lượng lẫn quy mô.
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2013) [5], đàn gia cầm có 314,7 triệu con, tăng 2,04%, trong đó đàn gà 231,8 triệu con, tăng 3,6% so với cùng thời điểm năm 2012 do không bị ảnh hưởng của dịch bệnh, quy mô chăn nuôi ngày một tăng. Tuy nhiên, mức độ ô nhiễm môi trường khu vực chăn nuôi gia cầm cũng tăng dần theo quy mô chăn nuôi (Cục chăn nuôi 2013) [7]. Theo số liệu của Cục Chăn nuôi, năm 2011 tổng khối lượng chất thải rắn thải ra môi trường của ngành chăn nuôi là 85,72 triệu tấn, tăng hơn 61 vạn tấn so với năm 2010. Mỗi năm có khoảng vài trăm triệu tấn chất thải khí, vài chục nghìn tỷ m³ chất thải lỏng do chăn nuôi thải ra trên toàn thế giới.
Tại Việt Nam, tình trạng ô nhiễm do chất thải chăn nuôi gây ra đang ngày càng trở nên nghiêm trọng. Theo số liệu thống kê của Cục Chăn nuôi (2013) [7] lượng chất thải chăn nuôi của nước ta trong năm 2013 như sau: Bảng 1. Ước tính lượng chất thải trong chăn nuôi năm 2013 Số đầu vật Chất thải rắn Tổng chất thải Loài vật nuôi ĐVT nuôi năm 2013 TB/con/ngày (kg) rắn/năm (kg) Bò Con 5.000 Gia cầm Con 314.000 Dê, cừu Con 1.403 n 4 Trong hơn 76 triệu tấn phân các loại vật nuôi được thải ra trong năm 2013 nhưng chỉ khoảng 40% số chất thải này được xử lý, còn lại thường được xả thẳng trực tiếp ra môi trường. Số phân không được xử lý và tái sử dụng lại chính là nguồn cung cấp phần lớn các khí nhà kính (chủ yếu là CO2, N2O) làm trái đất nóng lên, ngoài ra còn làm rối loạn độ phì đất, nhiễm kim loại nặng, ô nhiễm đất, gây phì dưỡng và ô nhiễm nước.
Chưa kể nguồn khí thải CO2 phát tán do hơi thở của vật nuôi (ước chừng 2,8 tỷ tấn/năm/tổng đàn gia súc thế giới). Trong số đó, chất thải từ chăn nuôi trâu, bò, lợn, gia cầm là nguồn gây ô nhiễm môi trường lớn nhất. Ở cả 3 nghề chăn nuôi (gia cầm, lợn, bò) đều có đặc điểm chung là khu xử lý chất thải rất sát chuồng nuôi (65,62 - 100%/tổng số cơ sở có xử lý chất thải) (Phùng Đức Tiến và cs 2009) [20]. Kết quả nghiên cứu cho thấy tại các trang trại chăn nuôi gia cầm, ô nhiễm môi trường đang ngày một nghiêm trọng, đặc biệt là môi trường không khí.
Mùi và bụi sinh ra trong quá trình chăn nuôi gia cầm đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống và sức khoẻ cộng đồng (Trịnh Xuân Báu và Đặng Kim Chi 2008) [1]. Theo các tác giả, các khí ô nhiễm sinh ra trong quá trình chăn nuôi đều xả thải tự do vào không khí xung quanh. Theo đánh giá của người dân, thời điểm đàn gà từ 30 ngày tuổi trở lên, mùi và bụi từ các trang trại chăn nuôi sinh ra rất lớn. Mùi hôi thối có thể cảm nhận ở các vị trí xa trang trại 200 - 300m.
Nồng độ các khí độc như NH3, H2S và bụi tăng dần theo thời gian sinh trưởng của đàn gia cầm và cao hơn rất nhiều so với tiêu chuẩn không khí cho môi trường xung quanh. Theo kết quả điều tra của Phùng Đức Tiến và cs (2009) [20], tình hình xử lý chất thải trong chăn nuôi gia cầm rất thấp: tỷ lệ hộ có khu xử lý chất thải chỉ đạt 15%, gia trại 37,5 % trang trại 35,71%, trong khu xử lý đa phần lại sát với khu chăn nuôi là 100%. Các tác giả cũng cho biết, trong chăn nuôi gia cầm cả loại hình trang trại và gia trại sử dụng biogas là rất thấp chỉ có là 3,57- 12%. Số hộ ủ phân tươi tương ứng là 13,33; 15,63 và 3,57%.
Số hộ ủ có độn tương ứng là 13,33; 12,50 và 17,86%. Trong đó chăn nuôi trang trại với lượng phân lớn cho nên số hộ bán phân chỉ chiếm cao nhất là 25%. Còn một tỷ lệ khá lớn phân và chất thải lỏng không được xử lý thải trực tiếp ra sông, suối và đất. n 5 Mức độ ô nhiễm không khí và nước thải đều ở mức báo động.
Nồng độ các khí thải độc hại từ trang trại và các nông hộ chăn nuôi gà đều vượt ngưỡng cho phép. coli và Salmonella đều được phát hiện trong nước thải với tỷ lệ mẫu dương tính cao, đặc biệt ở xu thế chăn nuôi gia trại và trang trại có mức độ ô nhiễm cao hơn (Phùng Đức Tiến và cs 2009 [20]). Đối với các cơ sở chăn nuôi, các chất thải gây ô nhiễm môi trường có ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe con người, làm giảm sức đề kháng vật nuôi, tăng tỷ lệ mắc bệnh, năng suất bị giảm, tăng các chi phí phòng trị bệnh, hiệu quả kinh tế của chăn nuôi không cao Attar và Brake, (1988) [27]. Từ cuối năm 2003, dịch cúm gia cầm đã bùng phát tại Việt Nam, qua 10 năm, dịch đã tái phát nhiều đợt, đã phải tiêu huỷ hàng trăm triệu gia cầm các loại, thiệt hại ước tính lên đến hàng ngàn tỷ đồng.
Đặc biệt nguy hiểm là bệnh có thể lây sang người. Theo tổ chức y tế thế giới, từ tháng 12 năm 2003 đến tháng 5 năm 2009 đã có 258 người tử vong do cúm gia cầm, trong số 423 ca nhiễm H5N1 tại 15 nước, chủ yếu ở châu Á, còn ở Việt Nam đã có 56 ca tử vong, trong tổng số 111 ca mắc bệnh. Từ đầu năm 2007 đến nay đã bùng phát hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (bệnh tai xanh-PRRS) trên lợn đã gây thiệt hại nặng nề cho ngành chăn nuôi lợn tại nhiều địa phương, đến nay đã được khống chế, chỉ còn một số ít cơ sở đang tiếp tục phải theo dõi. Tuy vậy, diễn biến của bệnh khá phức tạp, khả năng gây dịch còn rất lớn.
Dịch bệnh đã gây tổn thất lớn cho ngành chăn nuôi, gây mất an toàn thực phẩm và còn có nguy cơ lây nhiễm sang người nguy hiểm như bệnh cúm gia cầm. Với tất cả những lý do trên khiến vấn đề xử lý chất thải trong chăn nuôi trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Vai trò của vi sinh vật trong xử lý chất thải chăn nuôi 1. Tiêu hủy phân và mùi hôi Một số vi sinh vật hữu ích có khả năng phân giải và đồng hóa các chất thải động vật như phân, nước tiểu.
Quá trình phân giải này tạo thành các thành phần trao đổi chất có tác dụng khử mùi trong chuồng trại như axit hữu cơ (trung hòa và cố định NH3), rượu (trung hòa mùi lạ và diệt virus…), các enzyme, các chất loại kháng sinh… Đặc biệt, vi sinh vật đồng hóa phân nước tiểu để tạo thành protein của chính bản thân chúng, nguồn protein vi sinh vật này được động vật sử dụng. n 6 Sự lên men tiêu hóa phân Các vi sinh vật có ích trong lớp đệm lót sẽ bám quanh phân và tiết ra các enzyme ngoại bào để thực hiện quá trình phân giải bằng sự oxi hóa và lên men. Quá trình lên men phân giải phân trong chuồng nuôi là lên men hiếu khí, với sự tham gia của oxy đã làm cho các thành phần hydratcacbon và các hợp chất có chứa cacbon bị oxy hóa tạo ra năng lượng thông qua quá trình oxi hóa photphoryl hóa. Năng lượng trong các mạch cacbon được giải phóng hoàn toàn và giải phóng ra CO2 và nước.
Như vậy có thể thấy một lượng nhỏ chất dinh dưỡng trong phân cần cho quá trình trao đổi chất tế bào sẽ được vi sinh vật hấp thu làm chất dinh dưỡng cho sự sinh trưởng phát triển của chúng, đặc biệt trong đó có sự sinh tổng hợp thành protein của tế bào, còn phần lớn các chất dinh dưỡng bị phân giải tạo năng lượng, giải phóng ra CO2, nước và một số hợp chất hữu cơ khác nhau. Các chất khí mà trong đó chủ yếu là khí CO2 và nước sẽ bị tán phát vào không khí. Một lượng nhỏ hợp chất hữu cơ như các axit hữu cơ, rượu, aldehyd, ester… và một số chất khoáng hữu cơ sẽ tích lại trong đệm lót và dần cũng bị lợi dụng hoặc phân hủy. Sự khử mùi hôi và khí độc Việc khử mùi hôi và khí độc trong đệm lót là do tác dụng hấp phụ vật lý của đệm lót và của ánh sáng, nhưng tác dụng khử mùi thối của vi sinh vật hữu ích sử dụng trong chế phẩm vi sinh tổng hợp mới là chủ yếu.
Vấn đề khử mùi hôi và khí độc được đặt ra mạnh trong những năm gần đây khi chăn nuôi phát triển với tốc độ nhanh gây ô nhiễm lớn môi trường chăn nuôi. Trong chuồng nuôi tích tụ nhiều khí độc như NH3, CH4, N2O, H2S, CO2 làm cho vật nuôi dễ sinh các bệnh đường hô hấp, ảnh hưởng đến sinh trưởng, tiêu tốn thức ăn lớn, bị tổn thất về kinh tế, làm ảnh hưởng đến sức khỏe của người chăn nuôi và những người xung quanh. Cơ chế hình thành chất gây thối: NH3 chủ yếu tạo ra từ sự phân giải ure và axit uric trong nước tiểu của các vi khuẩn và sự khử NH3 từ axit amin trong phân do các vi khuẩn có hại và gây bệnh như các vi khuẩn gam âm có men khử NH3 của các axit amin như E.coli, Salmonella, tụ cầu…. H2S được hình thành do vi khuẩn n 7 khử axit amin xistin, xistein; Sự hình thành các amin hữu cơ rất độc và thối do các vi khuẩn lên men thối rữa đã khử cacboxin (CO2) và một số loại axit amin để tạo thành.
Sự giải phóng NH3 phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nhiệt độ, cấu trúc nền, mức độ vệ sinh chuồng trại, khẩu phần ăn…(Büscher và cs, 1994[30]; Kavolelis, 2003[42]). Ngoài ra, nó còn phụ thuộc vào độ pH, nếu độ pH trên 7 sự giải phóng nhanh, dưới 7 giải phóng chậm (độ pH phân gà lợn… khoảng 8,5). Sự khử các chất khí thối, độc trong chuồng nuôi của lớp đệm lót lên men vi sinh vật là nhờ sự tác động của nhiều yếu tố. Cụ thể là: - Khống chế nguồn phát sinh khí: Sử dụng dịch lên men để lên men thức ăn gia súc sẽ tăng cường sự tiêu hóa hấp thu thức ăn, nên một mặt làm giảm lượng phân thải ra mặt khác làm giảm thải các chất dinh dưỡng (protein axit amin.) trong phân, do đó làm giảm sự hình thành các khí thối độc.
+ Tác dụng khử khử mùi hôi và khí độc quan trọng nhất là do vi sinh vật.