Luận văn thạc sĩ: Ảnh hưởng của tỉ lệ ZnO/SnO2 đến tính chất quang của hợp chất ZnS/SnO

Luận văn thạc sĩ vật lý chất rắn phân tích ảnh hưởng của tỉ lệ ZnO/SnO2 đến sự hình thành pha và tính chất quang của hợp chất ZnS/SnO.

Trường đại học

Trường Đại Học Quy Nhơn

Chuyên ngành

Vật Lý Chất Rắn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2022

90
6
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu

Nghiên cứu ảnh hưởng của tỉ lệ ZnO/SnO2 đến tính chất quang của hợp chất ZnS/SnO là một lĩnh vực quan trọng trong khoa học vật liệu, đặc biệt trong ứng dụng công nghệ chiếu sáng như đèn LED. Việc tìm hiểu mối quan hệ giữa các thành phần hóa học và tính chất quang học của hợp chất Zn-Sn-O có thể giúp tối ưu hóa hiệu suất phát quang và chỉ số hoàn màu (CRI) của đèn LED. Đặc biệt, hợp chất Zn-Sn-O cho thấy tiềm năng lớn trong việc phát triển các vật liệu huỳnh quang với phổ phát xạ toàn phổ, điều này rất cần thiết cho việc cải thiện chất lượng ánh sáng trong các ứng dụng thực tế.

II. Tính chất của vật liệu ZnO và SnO2

Cấu trúc và tính chất của vật liệu ZnOSnO2 có ảnh hưởng trực tiếp đến tính chất quang của hợp chất Zn-Sn-O. ZnO thường tồn tại trong các cấu trúc lục giác Wurtzite và lập phương giả kẽm, trong khi SnO2 có cấu trúc lập phương. Các pha khác nhau của hợp chất Zn-Sn-O như Zn2SnO4 cũng có cấu trúc tinh thể riêng biệt. Đặc biệt, độ rộng vùng cấm của ZnO khoảng 3,29 eV, trong khi SnO2 có độ rộng vùng cấm khoảng 3 eV, cho thấy khả năng hấp thụ và phát quang khác nhau của chúng. Việc điều chỉnh tỉ lệ ZnO/SnO2 có thể dẫn đến sự thay đổi đáng kể trong cấu trúc và tính chất quang học của hợp chất, mở ra hướng nghiên cứu mới cho các ứng dụng trong công nghệ chiếu sáng.

III. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu chính trong đề tài này là phương pháp thực nghiệm, bao gồm việc chế tạo vật liệu bằng phương pháp pha rắn kết hợp nung ở nhiệt độ cao. Các mẫu được phân tích bằng các kỹ thuật như phổ XRD để xác định cấu trúc, phổ UV-Vis để khảo sát tính chất hấp thụ quang, và phổ huỳnh quang (PL) để đánh giá khả năng phát quang. Đặc biệt, việc khảo sát tỉ lệ ZnO/SnO2 khác nhau sẽ giúp xác định tỉ lệ tối ưu cho việc tạo ra hợp chất Zn-Sn-O với tính chất quang tốt nhất. Các thông số của đèn LED cũng sẽ được đánh giá để xác định tính khả thi của ứng dụng trong thực tế.

IV. Kết quả và thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ ZnO/SnO2 có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành pha và tính chất quang của hợp chất Zn-Sn-O. Qua phân tích XRD, sự xuất hiện của các pha khác nhau được xác định với các tỉ lệ khác nhau. Ngoài ra, các mẫu có tỉ lệ ZnO/SnO2 tối ưu cho thấy tính chất quang học vượt trội, với phổ huỳnh quang rộng và độ phát quang cao. Điều này chứng minh rằng việc điều chỉnh tỉ lệ các thành phần có thể dẫn đến sự cải thiện đáng kể trong hiệu suất phát quang của hợp chất, từ đó nâng cao khả năng ứng dụng của chúng trong các thiết bị chiếu sáng như đèn LED.

V. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Nghiên cứu này không chỉ cung cấp thông tin quý giá về ảnh hưởng của tỉ lệ ZnO/SnO2 đến tính chất quang của hợp chất Zn-Sn-O, mà còn mở ra hướng đi mới cho việc phát triển các vật liệu huỳnh quang không pha tạp, thân thiện với môi trường. Những kết quả đạt được có thể được ứng dụng trong việc chế tạo đèn LED trắng có CRI cao và hiệu suất phát quang tốt, từ đó góp phần vào sự phát triển bền vững trong công nghệ chiếu sáng. Việc ứng dụng các vật liệu này trong thực tế sẽ mang lại lợi ích lớn cho ngành công nghiệp chiếu sáng, đồng thời thúc đẩy nghiên cứu và phát triển trong lĩnh vực vật liệu mới.

05/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN VỀ VẬT LIỆU 1. Cấu trúc của vật liệu ZnO, SnO2 1. Cấu trúc của vật liệu ZnO ZnO là hợp chất bán dẫn nhóm AIIBVI thường kết tinh ở hai dạng thù hình chính: Lục giác Wurzite và lập phương giả kẽm. Ngoài ra, ZnO còn tồn tại dưới dạng lập phương đơn giản kiểu NaCl khi ở áp suất cao.

Đặc điểm các dạng cấu trúc đó được mô tả dưới đây [16]. Cấu trúc tinh thể ZnO (a) Cấu trúc lập phương đơn giản kiểu NaCl; (b) Cấu trúc lập phương giả kẽm; (c) Cấu trúc lục giác Wurtzite [16] * Cấu trúc lập phương đơn giản kiểu NaCl Đây là cấu trúc giả bền của ZnO xuất hiện ở áp suất cao. Trong cấu trúc 10 này mỗi ô cơ sở gồm 4 phân tử ZnO (hình 1.1a) Lý thuyết và thực nghiệm đã chứng minh: Nếu áp suất chuyển pha được tính khi một nửa lượng vật chất đã hoàn thành quá trình chuyển pha thì áp suất chuyển pha từ lục giác Wurzite sang lập phương khoảng 8,7 Gpa. Khi áp suất giảm tới 2 Gpa thì cấu trúc lập phương kiểu NaCl lại biến đổi thành cấu trúc lục giác Wurzite.

Hằng số mạng của cấu trúc lập phương kiểu NaCl khoảng 4,27 Å. * Cấu trúc lập phương giả kẽm Ở nhiệt độ cao, tinh thể ZnO tồn tại ở cấu trúc lập phương giả kẽm. Đây là cấu trúc giả bền của ZnO. Trong cấu trúc này, mỗi ô mạng có 4 phân tử ZnO trong đó 4 nguyên tử Zn nằm ở vị trí có toạ độ: (1/4,1/4,1/4); (1/4,3/4,3/4); (3/4,1/4,3/4); (3/4,3/4,1/4) và 4 nguyên tử oxy nằm ở vị trí có toạ độ: (0,0,0); (0,1/2,1/2); (1/2,0,1/2); (1/2,1/2,0).

Mô hình cấu trúc lập phương giả kẽm được mô tả trên hình 1. * Cấu trúc lục giác Wurtzite Đây là cấu trúc bền vững của tinh thể ZnO. Trong cấu trúc này, mỗi ô mạng có 2 phân tử ZnO, trong đó 2 nguyên tử Zn nằm ở vị trí có toạ độ (0,0,0) và (1/3, 2/3, 1/2) còn 2 nguyên tử O nằm ở vị trí có toạ độ (0, 0, u) và (1/3, 1/3, 1/2+u) với u = 3/5. Mạng lục giác Wurtzite có thể coi là 2 mạng lục giác lồng vào nhau, một mạng chứa các anion O2- và một mạng chứa các cation Zn2+.

Mỗi nguyên tử Zn liên kết với 4 nguyên tử O nằm ở 4 đỉnh của một tứ diện, trong đó 1 nguyên tử ở khoảng cách u.c, 3 nguyên tử còn lại ở khoảng cách [ 1/3 a2 + c2( u - 1/2 )2 ]1/2. Ở 300K, ô cơ sở của ZnO có hằng số mạng a = b = 3,249Å và c = 5,206 Å. Mô hình cấu trúc lục giác Wurtzite được mô tả trên hình 1. 11 Trong ô cơ sở tồn tại 2 trục phân cực song song với mặt (001).

Khoảng cách giữa các mặt phẳng mạng có chỉ số Miller (hkl) trong hệ lục giác wurtzite là: 1 a = [4] d2 4 2 2 a 2 (h + k + hk ) + l 2 2 3 c 1. Cấu trúc vùng năng lượng của vật liệu ZnO * Cấu trúc vùng năng lượng của mạng lập phương kiểu NaCl Mạng này có đối xứng kiểu lập phương tâm mặt nên cũng có các véc tơ cơ sở giống với các véc tơ cơ sở của mạng lập phương giả kẽm. Vì vậy, vùng Brilouin cũng giống như của mạng lập phương giả kẽm. * Cấu trúc vùng năng lượng của mạng lập phương giả kẽm Mạng lập phương giả kẽm có đối xứng tịnh tiến của mạng lập phương tâm mặt nên có các véc tơ cơ sở là 1 1 1 a1 = a(1,1,0); a2 = a(1,0,1); a3 = a(0,1,1) 2 2 2 Do đó, mạng đảo là mạng lập phương tâm khối, có các véc tơ cơ sở −1 1 b1 = 2a −1 (1, ,0); b2 = 2a −1 (1, ,0); b3 = 2c −1 (0,0,1); 3 3 Vậy vùng Brilouin là khối bát diện cụt.

* Cấu trúc vùng năng lượng của ZnO ở dạng lục giác Wurzite Các véc tơ tịnh tiến của ô cơ sở là 1 1 1 a1 = a(1, − 3,0); a2 = a(1, 3,0); a3 = c(0,0,1) 2 2 2 Các véc tơ trong không gian mạng đảo được xác định −1 b1 = 2a−1(1, ,0); b2 = 2a−1(1, ,0); b3 = 2c−1(0,0,1); 1 3 3 12 Vùng Brilouin của ô cơ sở của cấu trúc lục giác Wurzite có dạng khối lục lăng 8 mặt. Sơ đồ vùng Brilouin và sơ đồ vùng năng lượng được trình bày trên hình 1. Vùng Brilouin của cấu trúc lục giác Wurzite Hình 1. Sơ đồ vùng dẫn và vùng hoá trị của bấn dẫn có cấu trúc tinh thể Wurzite 13 1.

Cấu trúc của vật liệu SnO2 Hình 1. Mô hình cấu trúc tinh thể của SnO2 [1]. Vật liệu SnO2 là vật liệu bán dẫn thuộc nhóm AIVBVI. Bán dẫn SnO2 thường có cấu trúc kiểu rutile.

Mạng tinh thể SnO2 có các ô cơ sở thuộc hệ tứ giác tâm khối của cation thiếc (Sn) và các anion ôxy (O) tạo thành bát diện đều quanh Sn. Trong ô cơ sở có chứa 6 nguyên tử, gồm 2 nguyên tử Sn và 4 nguyên tử ôxy. Các nguyên tử Sn tạo thành mạng lập phương tâm khối và các nguyên tử ôxy được đặt gần đúng tại các đỉnh của khối bát diện đều [1]. Hằng số mạng của SnO2 là: a = b = 4,7373 Å, c = 3,1864 Å [44] [1].

Cấu trúc vùng năng lượng của vật liệu SnO2 Các kết quả nghiên cứu lý thuyết vùng năng lượng của SnO 2 cho thấy đây là bán dẫn có vùng cấm thẳng. Giản đồ cấu trúc vùng năng lượng của SnO 2 được biểu diễn ở hình (1. Ta có thể nhận thấy tại tâm vùng Brillouin () cực đại vùng hoá trị và cực tiểu vùng dẫn nằm trên cùng một véctơ sóng k. Giá trị khe năng lượng nhỏ nhất vào cỡ Eg = 3,6 (eV) tại nhiệt độ phòng [1].

Năng lượng liên kết exciton trong SnO2 rất lớn (cỡ 130 meV). Giản đồ cấu trúc vùng năng lượng của bán dẫn SnO2 [1]. Cấu trúc và tính chất quang học của. vật liệu Zn-O-Sn 1.

Cấu trúc của các pha Zn-O-Sn Khi kết hợp bột kẽm oxit (ZnO) và oxit stannic (SnO2) với nhau, chúng ta có thể nhận được nhiều pha của chúng tùy thuộc vào điều kiện tổng hợp. Đặc biệt, Sunandan Baruah et al. [50] thảo luận rằng bằng cách sử dụng phương pháp thủy nhiệt, họ có được một hỗn hợp pha của ZnSnO3, Zn2SnO4 và SnO2. Ngoài ra, các tác giả này đã cho rằng có sự biến đổi qua một dạng bền (ZnSnO3) ở nhiệt độ trong khoảng 300–5000C thành orthostannat kẽm bền (Zn2SnO4) ở nhiệt độ trên 6000C.

Hầu hết các báo cáo trước đây đều có kết quả tương tự [50], [56], [30] ZnSnO3 siêu bền có cấu trúc perovskite hướng tâm, trong khi Zn2SnO4 có thể chỉnh hình có cấu trúc spinel lập phương như được thấy trong (hình 1. Cấu trúc perovskite đối với ZnSnO3 và cấu trúc spinel lập phương đối với Zn2SnO4 [50]. Mô hình cấu trúc cho bột ZnSnO3 (a) và Zn2SnO4 (b) (kích thước của nguyên tử dựa trên một tỷ lệ tùy ý) [56]. Mô hình cấu trúc cho bột Zn2SnO4 [50].

Tính chất quang học của các hợp chất Zn-O-Sn Composite ZnO - SnO2 với các pha khác nhau đã được nhiều nhà khoa học quan tâm bởi tính ứng dụng rộng rãi, giá thành rẻ cũng như an toàn với môi trường. Chúng được sản xuất bằng nhiều phương pháp và được sử dụng cho các ứng dụng khác nhau. Tuy nhiên, chỉ có một số báo cáo nhỏ tập trung vào thuộc tính quang học của các vật liệu chủ này. 16 Smilja Markovi´et al.

báo cáo rằng phổ PL của hỗn hợp ZnO - SnO2 (hình 1.9), bao gồm sáu dải tập trung ở 380, 411, 433, 454, 486 và 546 [52]. Phổ PL được tách sóng bằng hàm Gaussian [52]. Phổ hấp thụ UV-vis được đo để xác định độ rộng vùng cấm của vật liệu nano Zn2SnO4 nguyên chất và ZnO pha tạp chất SnO2 / Zn2SnO4 bởi Tiekun Jia et al. Vì vậy, độ rộng vùng cấm của vật liệu nano Zn2SnO4 nguyên chất và ZnO2 / Zn2SnO4 pha tạp chất được ước tính lần lượt là 3,58 eV và 3,60 eV.

Phổ hấp thụ UV-vis của Zn2SnO4 nguyên chất và ZnO có pha tạp chất SnO2 / Zn2SnO4 [55]. 17 Ngoài ra, phổ PL đại diện cho hai cực đại không đối xứng có tâm là 410 nm và 472 nm, trong khi đỉnh phát xạ dải tới 360 nm không được tìm thấy trong đường cong. Tham khảo các tài liệu, hai cực đại xuất hiện có thể được cho là do nút khuyết ôxy hoặc trạng thái bề mặt. Năng lượng vùng cấm của Zn2SnO4 là 3,75eV được ước tính bởi Baichhabi R.

Yakami et al. [14] khi họ nghiên cứu để mở rộng vị trí tồn tại của các dây nano ZTO thông qua việc phân tích các phổ phát xạ phân giải theo thời gian và trạng thái ổn định của chúng và sử dụng những dữ liệu này để phát triển một mô hình mô tả động lực học hạt tải điện trong các dây nano này. Phổ hấp thụ từ phổ phản xạ khuếch tán đo được đối với dây nano ZTO (màu đỏ), phổ hấp thụ của các chuyển tiếp bị cấm trực tiếp (màu xanh lá cây) phù hợp, và PLE được đo ở 640 nm (màu xanh lam) [14]. Hơn nữa, các hạt nano Zn2SnO4 được S.

Dinesh et al. Kết quả của họ cho thấy các hạt nano Zn2SnO4 có một cạnh hấp thụ dốc, điều này cho thấy sự hấp thụ liên quan đến vùng cấm là do sự chuyển đổi nội tại của các chất bán dẫn. Bằng cách sử dụng công thức tauc, có thể ước tính độ rộng vùng cấm hấp thụ quang, giá trị vùng cấm Eg là 3,64 eV. Ngoài ra, phổ PL của các hạt nano Zn2SnO4 đã được đo ở nhiệt độ phòng cho thấy một đỉnh phát xạ rộng 18 màu xanh lá cây có tâm ở 498 nm.

Theo các tác giả này, nguồn gốc của sự phát xạ này có thể phát sinh do ảnh hưởng của các nút khuyết oxy. Phổ hấp thụ UV – Vis và phổ PL của hạt nano Zn2SnO4 được tổng hợp [51]. Các thiết bị phát sáng như đèn LED, WLED và các thiết bị quang-điện tử khác dựa trên vật liệu oxit bán dẫn độ rộng vùng cấm (WBG) đang cho thấy hiệu quả và tính hữu dụng cao trong những năm gần đây vì các đặc tính vật lý nhiệt và hóa học ổn định của chúng [41], [12]. Ngoài ra, đèn LED dựa trên WBG tạo ra nhiều hơn 10 lần ánh sáng trên mỗi watt năng lượng đầu vào so với bóng đèn sợi đốt tương đương và kéo dài tuổi thọ sử dụng lên 30 lần hoặc hơn [12].

Kẽm oxit và thiếc đioxit là một trong những vật liệu mạng tinh thể được ứng dụng nhiều so với các vật liệu khác do chi phí thấp, tổng hợp đơn giản và hoạt động ổn định [11].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận văn thạc sĩ mang tiêu đề "Ảnh hưởng của tỉ lệ ZnO/SnO2 đến tính chất quang của hợp chất ZnS/SnO" của tác giả Tạ Thị Minh Luôn, dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Minh Vương, tập trung vào việc nghiên cứu sự ảnh hưởng của tỉ lệ giữa ZnO và SnO2 đến các đặc tính quang của hợp chất ZnS/SnO. Nghiên cứu này không chỉ làm sáng tỏ các cơ chế quang học trong vật liệu mà còn mở ra hướng đi mới trong việc phát triển các ứng dụng quang học trong lĩnh vực vật lý chất rắn.

Để mở rộng kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo thêm một số tài liệu liên quan như Nghiên cứu vật liệu nano porphyrin ứng dụng trong xúc tác khử CO2, nơi nghiên cứu về vật liệu nano và ứng dụng của chúng trong các phản ứng hóa học, hoặc Nghiên cứu ảnh hưởng của sự đồng pha tạp Fe và Sn đến tính chất quang điện hóa của vật liệu nano TiO2, tài liệu này giúp bạn hiểu rõ hơn về ảnh hưởng của các nguyên tố tạp đến tính chất quang của vật liệu. Những tài liệu này sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn sâu sắc hơn về các nghiên cứu liên quan đến vật lý chất rắn và tính chất quang học của vật liệu.