mở đầu thời kỳ dùng lạc trên quy mô lớn. Công nghiệp ép dầu đã được xây dựng với tốc độ nhanh ở các nước Châu Âu và trên toàn thế giới. Tình hình sản xuất lạc trên thế giới trong những năm gần đây được thể hiện qua bảng 1.1: Tình hình sản xuất lạc trên thế giới những năm gần đây Diện tích Năng suất Sản lượng Năm/chỉ tiêu (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 2013 27,25 17,03 46,42 2014 27,31 16,70 45,60 2015 26,49 16,75 44,38 2016 27,95 16,07 44,91 2017 27,94 16,86 47,1 (Nguồn: Số liệu thống kê của FAO năm 2019. Qua số liệu bảng 1.1 ta thấy: Về diện tích: Nhìn chung, diện tích trồng lạc trên thế giới năm năm gần đây từ 2013 đến 2017 không có sự biến động nhiều dao dộng trong khoảng 26,49 – 27,95 triệu ha.
Trong đó, năm 2015 diện tích lạc thế giới giảm thấp nhất còn 26,49 triệu ha, năm 2013 là 27,25 triệu ha, năm 2014 là 27,31 triệu e 5 ha. Năm 2016 và 2017 diện tích trồng lạc trên thế giới gần như không đổi khoảng 27,94-27,95 triệu ha. Về năng suất: Từ số liệu bảng trên ta thấy năng suất lạc có nhiều biến động, lên xuống thất thường. Thấp nhất là năm 2016 với 16,07 tạ/ha và cao nhất là năm 2013 với 17,03 tạ/ha.
Về sản lượng: Sản lượng lạc trên thế giới có xu hướng giảm dầntừ năm 2013 đến năm 2016. Sản lượng lạc năm 2013 đạt 46,42(triệu tấn), năm 2014 45,60 triệu tấn, năm 2015 là 44,38 triệu tấn và năm 2016 là 44,91 triệu tấn. Sản lượng lạc đến năm 2017 mới có bước tăng mạnh và đạt 47,1 triệu tấn và đạt sản lượng cao nhất trong 5 năm gần đây. Diện tích, năng suất và sản lượng lạc của một số nước trên thế giới Tên Diện tích Năng suất Sản lượng nước/chỉ (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) tiêu 2015 2016 2017 2015 2016 2017 2015 2016 2017 Ấn Độ 4,56 4,80 5,30 14,77 12,87 17,32 6,73 7,46 9,18 Trung 4,4 4,47 4,63 36,36 36,75 37,06 16,02 16,42 17,15 Quốc Argentina 0,42 0,34 0,33 23,8 29,29 30,87 1,01 1,00 1,03 Brazil 0,15 0,15 0,15 33,82 36,54 35,45 0,5 0,56 0,55 Ai Cập 0,06 0,064 0,062 32,82 32,07 32,9 0,2 0,21 0,2 Việt Nam 0,2 0,184 0,195 22,67 23,11 23,54 0,45 0,43 0,46 (Nguồn: Số liệu thống kê của FAO năm 2019) Qua số liệu bảng 1.2 ta thấy: Diện tích, năng suất, sản lượng trồng lạc trên thế giới đều có sự biến động.
Về diện tích: Ấn Độ là nước trồng lạc có diện tích liên tục tăng từ năm 2015 có diện tích 4,56(triệu/ha) đến năm 2017 diện tích tăng lên 5,3 (triệu/ha). Từ năm 2015 đến năm 2017 diện tích trồng lạc của Trung e 6 Quốctăng nhưng không đáng kể, từ 4,4(triệu/ha) lên đến 4,63 (triệu/ha). Năm 2015 Argentina có diện tích trồng lạc 0,42 (triệu/ha) đến năm 2017 diện tích giảm xuống còn 0,33 (triệu/ha). Brazil có diện tích trồng lạc duy trì đều 0,15 triệu ha trong 3 năm 2015-2017.
Ai Cập có diện tích trồng lạc khá thấp duy trì khoảng 0,06 triệu ha. Ở Việt Nam diện tích trồng lạc tương đối ổn định khoảng 0,2 triệu ha. Việc tăng năng suất lạc ở nhiều quốc gia là nhờ ứng dụng rộng rãi các thành tựu khoa học công nghệ mới trên đồng trộng của người nông dân. Qua bảng số liệu 2.2 ta thấy: Trung Quốc là nước có năng suất cao nhất, năm 2015 đạt 36,36 (tạ/ha), năm 2017 đạt 37,06 tạ/ha.
Qua đó ta thấy Trung Quốc là nước có khoa hoc tiên tiến trong lĩnh vực nông nghiệp, áp dụng nhiều biện pháp kỹ thuật như cày sâu, bón phân cân đối, mật độ trồng hợp lý, phòng trừ sâu bệnh tổng hợp. Giai đoạn từ năm 2015 - 2017, các nước có năng suất lạc tăng là Brazil, Ai Cập, Việt Nam, Trung Quốc. Trong đó Argentina là nước có năng suất tăng nhiều nhất năm 2017 tăng (7,07tạ/ha) so với năm 2015. Trung Quốc là nước có sản lượng cao nhất so với các nước trên thế giới, năm 2015 sản lượng đạt 16,02triệu tấn và 2017 là 17,15 triệu tấn.
Trong khi đó sản lượng lạc tại Việt Nam chỉ đạt 0,46 (triệu tấn) năm 2017. Trên thế giới các nước xuất khẩu lạc nhiều là Trung Quốc, Mỹ, Achentina, Ấn Độ. Các nước nhập khẩu hàng năm lớn như Hà Lan, Indonexia, Anh, Singapo, Đức. Kết quả nghiên cứu về chọn tạo giống lạc trên thế giới Nghiên cứu về vấn đề chọn tạo giống lạc, ngay từ rất sớm các nhà khoa học trên thế giới đã quan tâm tới việc thu thập và bảo tồn nguồn gen cây lạc.
Viện nghiên cứu cây trồng bán khô hạn (ICRISAT) là cơ sở nghiên cứu lớn nhất về cây lạc. Tại ICRISAT nguồn gen cây lạc từ con số 8489 ( năm 1980) ngày càng được bổ sung phong phú hơn. Tính đến năm 1993, ICRISAT đã e 7 thu thập được 13.915 lượt mẫu giống lạc từ 93 nước trên thế giới. Đặc biệt, ICRISAT đã thu thập được 301 mẫu giống thuộc 35 loài dại của chi Arachis, đây là nguồn gen quý có giá trị cao trong công tác cải tiến giống theo hướng chống bệnh và chống chịu với điều kiện ngoại cảnh bất thuận.
Cùng với việc thu thập, đánh giá, bảo quản, ICRISAT đã cung cấp 107.710 lượt mẫu giống cho nhiều nước để làm nguyên liệu chọn tạo giống. Trong các mẫu giống đã thu thập được thông qua các đặc tính hình thái – nông học, sinh lý – sinh hóa và khả năng chống chịu sâu bệnh, ICRISAT đã phân lập theo các nhóm tính trạng khác nhau phục vụ cho nghiên cứu chọn tạo giống như: nhóm kháng bệnh, nhóm chống chịu hạn, nhóm hàm lượng dầu cao, nhóm chín muộn, nhóm chín sớm. Trong đó các giống chín sớm điển hình là Chico, 91176, 91776, CIGS (E), ICGV 86105 (Nigam S.N et al, 1995), ICGV86062. Giống lạc có năng suất cao như ICGV – SM 83005, ICGV88438, ICGV89214, ICGV91098, và các giống có khả năng kháng sâu bệnh như giống ICGV 86388, ICGV 86699, ICGV – SM 86751, ICGV 87165.
Nhận thức được tầm quan trọng to lớn của giống lạc trong việc thúc đẩy phát triển sản suất, nhiều quốc gia trên thế giới đã sớm quan tâm nghiên cứu về lĩnh vực này và thu được nhiều kết quả hết sức khả quan. Ấn Độ cũng là nước có nhiều thành tự to lớn về công tác chọn tạo giống. Theo Ngô Thế Dân và cs (2000), trong chương chình hợp tác với ICRISAT, bằng con đường thử nghiện các giống lạc của ICRISAT, Ấn Độ đã phân lập và phát triển được giống lạc BSR chín sớm phục vụ rộng rãi trong sản xuất. Bên cạnh đó, các nhà khoa học của Ấn Độ cũng đã lai tạo và chọn được nhiều giống lạc thương mại mang tính đặc trưng cho từng vùng.
Ở Trung Quốc, công tác nghiên cứu về chọn tạo giống lạc được tiến hành từ rất sớm. Bằng các phương pháp chọn tạo giống khac nhau như: đột biến sau khi lai, đột biến trực tiếp, lai đơn, lai kết hợp hơn 200 giống lạc có năng suất cao đã được tạo ra và phổ biến vào sản xuất từ cuối những năm 50 của thế kỷ 20. Kết e 8 quả ghi nhận là các giống lạc được trồng ở tất cả các vùng đạt tới 5,46 triệu ha. Những năm gần đây, Trung Quốc đã công nhận 17 giống lạc mới, trong đó điển hình là các giống Yueyou 13, Yueyou 29, Yueuyou 40, 01 - 2101, Yuznza 9614, 99 - 1507, R1549 có năng suất trung bình là 46 - 70 tạ/ha.
Ngoài ra một số nước trên thế giới cũng đã chọn tạo được nhiều giống lạc có tiềm năng năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu được với một số loài sâu bệnh. Inđônêxia đã chọn được giống Mahesa, Badak, Brawar và Komdo có năng suất cao, phẩm chất tốt, chín sớm và kháng sâu bệnh. Ở Hàn Quốc đã chọn được giống ICGS năng suất đạt tới 56 tạ/ha. Tình hình sản xuất và nghiên cứu lạc tạiViệt Nam 1.
Tình hình sản xuất tạiViệt Nam Lạc là một loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, dùng để chế biến dầu ăn thuộc loại tốt nhất. Lạc chỉ xếp hạng thứ hai sau Lạc về sản lượng dầu trong các dầu ăn thực vật, cũng như diện tích trong tổng diện tích cây lấy dầu. Ở nước ta, lạc được coi là một loại thức ăn bổ, thơm ngon và được nhân dân ưa chuộng. Trong thực phẩm, lạc có thể dùng ăn trực tiếp trong các bữa ăn hàng ngày như luộc, rang, hầm, hoặc chế biến thành lạc rang tẩm muối, bột lạc, bơ lạc, pho mát lạc, dầu tinh lạc, bánh, kẹo,…Ngoài ra, lạc còn được dùng làm nguyên liệu chế biến một số dược phẩm và mỹ phẩm, đặc biệt dầu lạc không đạt tiêu chuẩn còn được sử dụng trong công nghiệp chế biến xà phòng cao cấp ở các nước phát triển, mà nổi tiếng nhất là xà phòng Macxây của Pháp.
Khi chế biến lạc làm thực phẩm, các phế liệu còn được dùng làm thức ăn gia súc,…Đóng góp quan trọng vào việc phát triển chăn nuôi. Khô dầu lạc là sản phẩm có vai trò rất quan trọng trong chăn nuôi. Thân lá xanh cây lạc có thành phần dinh dưỡng giàu protein, gluxit và lipit. Thành phần này không kém các loại cỏ chăn nuôi khác nên có vai trò khá lớn trong chăn nuôi đại gia súc (trâu, bò sữa).
Vỏ lạc được dùng để nghiền thành cám, có thành phần dinh e 9 dưỡng tương đương cám gạo nên phục vụ cho chăn nuôi rất tốt. Một công dụng quan trọng khác của cây lạc là vừa làm cây trồng lấy củ vừa làm cây trồng để cải tạo đất (phổ biến ở các nước có khí hậu nhiệt đới). Do có khả năng cố định nitơ khí quyển thông qua bộ rễ cộng sinh với vi khuẩn nốt sần Rhizobium vigna, nhờ đó sau khi thu hoạch lượng chất hữu cơ để lại trong đất tương đương 30 – 60 kg urê/ha/vụ (Đỗ Thành Nhân và cs, 2014) Có thể nói, sản xuất lạc mang lại hiệu quả kinh tế lớn ở nhiều nước trên thế giới và là một trong những nguồn thu nhập chính của người nông dân nước ta trong sản xuất nông nghiệp. Hiện nay, lạc là cây trồng đang được chú trọng tăng diện tích và sản lượng trên khắp cả nước.
Một số tỉnh đã chú trọng đưa cây lạc làm nguồn thu nhập chính, nhờ đó góp phần xoá đói giảm nghèo và nâng cao đời sống của nông dân. Điển hình như Trà Vinh, trồng lạc mang lại thu nhập gần 50 triệu đồng/ha. Các tỉnh trung du miền núi phía Bắc và Thanh Hoá, Nghệ An,…cũng đang đẩy nhanh tiến độ phát triển trồng lạc (Vũ Văn Thắng, 2013). Lạc là cây trồng nhiệt đới và á nhiệt đới, nên khả năng thích ứng với điều kiện sinh thái khá rộng.
Với điều kiện khí hậu của Việt Nam khá phù hợp để cây lạc có thể phát triển tốt, mặc dù có một số vùng sự phân bố lượng mưa và nhiệt độ không đều trong năm ảnh hưởng đến năng suất lạc.