Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu cây dưa leo Cây dưa leo (Cucumis sativus L.) thuộc bộ cucurbitales, ho bầu bí (Cucurbitaceae) (Lê Thị Khánh, 2009). Dưa leo có nguồn gốc từ Án Độ, là loại cây ưa nhiệt. Hiện nay, dưa leo được trồng ở khắp thế giới từ xích đạo tới 63” vĩ bắc, đứng thứ 6 trong số các loại rau trên thế giới.
Theo thống kê tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO), diện tích trồng dưa leo trên toàn thế giới đều tăng từ năm 2010 đến 2016 nhưng từ 2016 đến 2020 diện tích cũng như sản lượng đang giảm mạnh (năm 2020 diện tích 1.518 ha, sản lượng 72. Những nước dẫn đầu về năng suất dưa leo là Trung Quốc (56.750 tan); Thổ Nhĩ Kỳ (1. Về mặt dinh dưỡng, kết qua phân tích cho thấy trong quả dưa leo chứa 95% nước và 100g trái tươi cho 16 calo, 0,7 mg protein, 24 mg calcium, vitamin A 20 IU, vitamin C 12 mg, vitamin B1 0,024 mg, vitamin B2 0,075 mg. Qua dua leo con là vị thuốc có giá tri, chữa nhiều bệnh như ngộ độc thức ăn, phù thủng, bổ ty vị, kích thích tiêu hóa, thanh nhiệt, lợi tiểu và sử dụng làm mỹ phẩm.
Dưa leo được sử dụng rộng rãi trong các bữa ăn hàng ngày dưới nhiều hình thức như ăn tươi, trộn, salat, xào, muối mặn, đóng hộp. Hiện nay dưa leo đã trở thành loại rau cao cấp được người tiêu dùng ưa chuộng và là một trong những mặt hàng rau quả xuất khẩu chủ lực mang lại hiệu quả kinh tế cao (Hồ Hữu An và cs, 2000). Tại Việt Nam, dưa leo là một trong những loại rau quả chế biến xuất khẩu quan trọng. Theo báo cáo nghiên cứu thị trường rau Việt Nam của FAO, từ những năm 2010 - 2017, các vùng trồng dưa leo tập trung đã hình thành ở các tỉnh Hưng Yên, Hà Nam, Vĩnh Phúc, Bắc Giang và lan rộng ra các tỉnh khác (FAO, 2020).
Dưa leo hiện được trồng nhiều ở các vùng áp dụng các công nghệ sản xuất trong nhà màng hiện đại như khu nông nghiệp công nghệ cao An Thái tại xã an thái, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương; khu nông nghiệp công nghệ cao tại Củ Chị, thành phố Hồ Chi Minh (Vũ Thị Quynh, 2011). Kết quả nghiên cứu liên quan đến các giống dưa leo trinh sinh 1. Khái niệm về giống dưa leo trinh sinh Trinh sinh là hiện tượng hình thành và phát triển quả mà không cần thụ phấn (Papadopoulos, 1994). Các giống đưa leo có đặc tính trinh sinh rất phù hợp với điều kiện sản xuất trong nhà kính, nhà màng (Wehner và Maynard, 2003).
Hiện còn nhiều tranh cãi về gen qui định tính trạng trinh sinh. Pike và Peterson (1969) cho rang tính trạng này được kiểm soát bởi một gen trội không hoàn toàn Pe quy định. De Ponti và Garretsen (1976) lại trình bày một cơ chế tương tác cộng gộp bởi 3 gen đồng phân độc lập. Khi canh tác dưa leo trinh sinh trong nhà kính, nhà màng, việc kiểm soát thụ phan ngoài ý muốn va sử dụng giống đơn tính cái rat quan trọng.
Những giống này thường có khả năng trinh sinh trong môi trường không có thụ phan của côn trùng, nhưng khi bị thụ phan sẽ có thể hình thành quả bị biến dang, giảm chất lượng quả (Robinson, 2000). Pearson (1983) kết luận rằng giống dưa leo trinh sinh có năng suất cao hơn 20 - 30% các giống thụ phấn tự do. Các nghiên cứu của nhiều tác giả khác cũng thu được kết quả tương tự như Anita và Ram (2009), nghiên cứu năng suất và các yêu tố năng suất trên giống trinh sinh đã chọn được một số giống nổi bật có số quả/cây tăng 22,17 - 40%, năng suất tăng từ 13,11 - 44,26%; theo Kaur va Dhall (2016), năng suất thương phẩm của dua leo trinh sinh có thé tăng từ 9,24 - 40,90%. Hiện nay ở hầu hết các nước trên thế giới, tỉ lệ trồng giống dưa leo thụ phấn tự do ngày càng giảm dan, thay thế vào đó là các giống dưa leo trinh sinh.
Nồi bật nhất là các nước trồng dưa leo trong nhà kính như Hà Lan, Bungaria, 100% sử dung các giống trinh sinh. Ở Nhật Ban, Hoa Ky, Hungaria, Thổ Nhĩ Ky, năng suất các giống trinh sinh tăng hơn giống dưa leo thụ phan tự do từ 30 — 50%. Nghiên cứu của Tkachenco (1935) với phát hiện ra dòng đơn tính hoa cái và dòng lưỡng tính của Mosharov (1965) và Kubiski (1968), các giống dua leo ưu thé lai đã được sử dụng rộng rãi và ngày càng phát triển (Trần Khắc Thi, 1985). Quá trình phát triển dưa leo trinh sinh trên thế giới Hiệp hội Đóng gói Thực phẩm Muối chua Quốc gia, George Starr của Dai học Bang Michigan đã lai tao và giới thiệu giống dưa leo National Pickling vào năm 1924.
Day là một giống quan trọng thị trường Mỹ trong nhiều năm và là nguồn vật liệu di truyền để tạo ra nhiều giống dưa leo tự thụ về sau như Yorkstate Pickling, Ohio MR17, Wisconsin SMR 18, MSU 713 - 5 (Wehner va Robinson, 1999). Năm 1946, Công ty Asgrow Seed giới thiệu giống Model với gai trắng va vỏ quả mau xanh đậm, tỷ lệ L/D 2,6 - 2,8, dang quả phù hợp với chế biến, được ưu chuộng trong nhiều năm nhưng chống chịu sâu bệnh và điều kiện bất lợi yếu nên dần bị thay thé bởi các giống mới như Napoleon, Picklemech, Vlaspik, Atlantis, Prince (Staub và Bacher, 1997; Wehner và Robinson, 1999). Dự án nhân giống cây trồng họ Bầu bí của Trường Đại học Bắc Carolina dưới sự lãnh đạo của Tiến sĩ Todd C. Wehner đã chọn tạo được nhiều giống dưa leo tự thụ với năng suất, chất lượng cao, thích hợp trồng trong nhà màng như Calypso, Jhonson (Staub và Bacher, 1997), NC - Davie, NC - Duplin (Wehner, 2005), NC - Danbury (Crane va Wehner, 2006).
Tại Brazil, từ thang 5 đến tháng 8 năm 1997, hai thi nghiệm đồng ruộng được thực hiện dé đánh giá năng suất của các giống dưa leo đối với hai hình thức sản phẩm cho chế biến muối chua là dạng quả nhỏ (quả dài 6 - 12 em) và dưa leo trinh sinh (qua dai 4,5 - 5 cm). Các giống cho năng suất cao nhất là Eureka (34,54 tan/ha), Francipak (32,72 tắn/ha) đối với dưa leo quả nhỏ và các giống dưa leo bao tử nổi bật cho năng suất trên 10 tan/ha là Vlasset, Supremo, Vlasstar và Prémio (De Resende, 2003). Nghiên cứu do Zhang và cs (2011) được đăng tải gần đây trên The Plant Cell. Các nhà lai tạo người Hà Lan đang tận dụng lợi thế của giống "đơn tính cái (gyneoecious)" chỉ sản sinh ra hoa cái.
Khi trồng ở trong điều kiện nhà màng không đất, trong môi trường giàu dinh dưỡng, giúp tăng năng suất so với giống “đơn tính cùng gốc (monoecious)” có cả hoa đực và hoa cái. Những bông hoa cái phải được thụ tinh bởi phan của một bông hoa đực, nhưng bằng cách kiểm soát tỷ lệ đực-cái, người trồng có thể gia tăng sản lượng thu hoạch của họ (Viện nghiên cứu Rau quả, 2017). Nghiên cứu về giống dưa leo trinh sinh ở Việt Nam Hiện nay rất nhiều giống dưa leo trinh sinh được nhập về nước ta và đã được xác định phù hợp với các điều kiện sinh thái vùng trồng như: DL266 nhập từ Đài Loan, có khả năng sinh trưởng khỏe, thời gian sinh trưởng từ 84 — 85 ngày, sai quả (27- 29 quả/cây), chất lượng tốt, giòn, thơm, có thé dung dé ăn tươi, trộn xa lát va chế biến muối mặn. Giống thích hợp trồng quanh năm (Tạ Thu Cúc, 2007).
Các Công ty giống Hoa Sen, Trang Nông, Công ty Giống cây trồng miền Nam đã nhập nội và khảo nghiệm nhiều giống dưa leo ưu thế lai khác nhau từ nhiều nước trên thế giới và kết luận các giống Happy 14. DN-3, DN-6 có nguồn gốc Đài Loan cho năng suất và chất lượng cao phù hợp trồng trong nhà màng (Phạm Mỹ Linh, 2005). Việc nghiên cứu chọn tạo giống đối với dưa leo trinh sinh tại Việt Nam chỉ bước đầu phát triển và cũng đạt được một số kết quả nhất định. Việc sản xuất dưa leo trong nhà màng trước năm 2008 chủ yêu sử dụng các giống địa phương thụ phan tự do như Phú Thịnh, Tam Dương (Tạ Thu Cúc, 2007).
Sau năm 2008, giống chủ yếu sản xuất là các giống dưa leo bao tử nhập nội như Marinda, Ajax, Anaxo, Ortina. Nhìn chung, trong chọn giống đưa leo trồng trong nhà màng, bên cạnh năng suất, các chỉ tiêu về kiểu hình qua (tỷ lệ L/D, bề mặt vỏ quả, chiều dai) và khả năng kháng bệnh là các chỉ tiêu quan trọng đối với các nhà chọn giống dé tạo ra các giống có chất lượng, kiểu dang phù hợp với yêu cau thị trường. Đặc biệt, các giống dưa leo trinh sinh có giá trị kinh tế (Sun va cs, 2006; Staub va cs, 2008) và phù hợp với điều kiện sản xuất trong nhà kính, nhà màng (Wehner và Maynard, 2003) nhờ vào khả năng hình thành và phát triển quả mà không qua thụ phan phù hợp trong canh tác không đất trong nhà màng. Nghiên cứu về mật độ, khoảng cách trồng cây dưa leo trinh sinh Thông thường, cây dưa leo cần một diện tích từ 0,7 - 0,8 m? đề phát triển tốt nhất (Papadoulos, 1994) tương đương với mật độ trồng từ 12.
Cây dưa leo có thể được bố trí hàng đơn hoặc hàng kép. Các giống phát triển mạnh, lá lớn, thích hợp với mật độ thấp, khoảng cách cây xa, các giống có lá nhỏ hơn phù hợp mật độ trồng dày hơn (Papadopoulos, 1994). Điều kiện ánh sáng của khu vực canh tác cũng ảnh hưởng đến mật độ trồng cây dua leo trong nhà màng do cây cần một lượng lớn ánh sáng (Hochmuth, 2012). Các khu vực có ánh sáng yếu cần tăng khoảng cách trồng.
Ngoài ra, trong điều kiện canh tác trong nhà màng, vị trí lắp đặp các thiết bị máy móc hoặc các yếu tố vật lý của cầu tạo nhà màng cũng ảnh hưởng đến mật độ cây trồng (Papadopoulos, 1994). Tuy nhiên, tùy theo yêu cầu của sản phẩm và sự cải tiễn của giống, mật độ canh tác cây dưa leo có thé thay đổi. Jones (1982) đề xuất đối với hàng đơn, hang cách hàng 1,2 - 1,5 m, cây cách cây 30 - 45 em. Đối với hàng đôi, hang cách hang 0,6 m, tâm hang cách nhau 1,5 - 1,8 m, cây cách cây 45 - 61 cm.
Choudhari và More (2001) đã thí nghiệm ba nghiệm thức khoảng cách trồng cây dưa leo trinh sinh trồng trong nhà màng (1,80 x 0,30 m, 1,80 x 0,45 m, 1,80 x 0,60 m) và thu được kết quả tốt nhất ở nghiệm thức 1,80 x 0,45 m (12. Giống CV5 của Viện Nghiên cứu Rau quả đã được thí nghiệm ở 4 khoảng cách trồng khác nhau 70 x 20 cm, 70 x 30 cm, 70 x 40 cm, 70 x 50 cm.