Tổng quan nghiên cứu

Ngành chăn nuôi gia cầm Việt Nam giữ vai trò trụ cột trong việc cung ứng thực phẩm chất lượng cao cho thị trường nội địa và hướng đến xuất khẩu. Theo số liệu thống kê năm 2021, tổng đàn gia cầm cả nước đạt khoảng 523 triệu con với sản lượng thịt hơi xuất chuồng ước tính khoảng 1,7 triệu tấn. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất mà người chăn nuôi đang đối mặt là chi phí thức ăn công nghiệp tăng cao kỷ lục, chiếm tới 70% tổng giá thành sản xuất. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc tìm kiếm các nguồn nguyên liệu bổ sung tại chỗ giàu dưỡng chất nhằm hạ giá thành nhưng vẫn đảm bảo phẩm chất thịt.

Nghiên cứu được triển khai nhằm đánh giá toàn diện ảnh hưởng của khẩu phần ăn bổ sung lúa nảy mầm đến tỷ lệ sống, động thái tăng trưởng, năng suất thịt và hiệu quả kinh tế trên giống gà ta lai chọi CK1-BĐ. Đây là dòng gà thương phẩm đặc trưng do Công ty Trách nhiệm hữu hạn Giống gia cầm Cao Khanh lai tạo từ nguồn gen gà bản địa Bình Định, nổi bật với sức đề kháng tốt và chất lượng thịt săn chắc.

Đề tài được thực hiện tại trang trại nuôi gà bán chăn thả thuộc xã Mỹ Hiệp, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định trong khoảng thời gian từ tháng 2 năm 2022 đến tháng 6 năm 2022. Thí nghiệm khảo sát trên 120 cá thể gà từ 1 ngày tuổi đến 16 tuần tuổi. Kết quả đề tài cung cấp hệ thống dẫn liệu thực nghiệm chuẩn xác, giúp người chăn nuôi kiểm soát tỷ lệ nuôi sống đạt 95%, đồng thời làm cơ sở khoa học điều chỉnh tỷ lệ phối trộn ngũ cốc nảy mầm thích hợp để tối ưu hóa chi phí sản xuất và nâng cao tỷ suất lợi nhuận.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng dựa trên lý thuyết sinh trưởng và phát dục theo giai đoạn của gia súc, gia cầm. Quy luật sinh học chỉ ra rằng cơ thể gia cầm phát triển qua 4 pha tăng trưởng tích lũy với sự ưu tiên tạo mô lần lượt từ hệ tiêu hóa, khung xương, mô cơ bắp đến tích lũy mỡ. Khối lượng mô cơ chiếm từ 42% đến 45% tổng trọng lượng cơ thể, trong đó cường độ sinh trưởng đạt đỉnh ở giai đoạn trước khi xuất chuồng.

Bên cạnh đó, lý thuyết sinh hóa dinh dưỡng về công nghệ nảy mầm ngũ cốc giải thích cơ chế chuyển hóa sinh học mạnh mẽ khi hạt thóc ngậm nước. Quá trình nảy mầm kích hoạt các enzyme nội tại như amylase, protease, phytase và beta-glucanase. Hệ enzyme này phân giải các hợp chất kháng dinh dưỡng như tannin, phytic acid và xơ thô, đồng thời gia tăng hàm lượng các hợp chất có hoạt tính sinh học bao gồm acid gamma-aminobutyric, polyphenol, vitamin nhóm B và vitamin C.

Các khái niệm chính được vận dụng xuyên suốt gồm: sinh trưởng tuyệt đối (tính bằng gam trên con mỗi ngày), sinh trưởng tương đối (tính theo phần trăm), hệ số chuyển hóa thức ăn FCR và tỷ lệ thân thịt sau giết mổ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tiến hành trên cỡ mẫu gồm 120 con gà giống CK1-BĐ 1 ngày tuổi có khối lượng sơ sinh đồng đều từ 32 gam đến 36 gam (trung bình 35,5 gam), phân bố cân bằng 60 con trống và 60 con mái. Đàn gà được chia ngẫu nhiên thành 2 lô thí nghiệm độc lập với 60 cá thể mỗi lô. Phương pháp phân tích thống kê sinh học bằng phần mềm Statistix 10 và bảng tính chuyên dụng được lựa chọn để so sánh giá trị trung bình, độ lệch chuẩn giữa các lô ở mức ý nghĩa xác thực với độ tin cậy trên 95%.

Quy trình chăm sóc được tiêu chuẩn hóa theo từng độ tuổi:

  • Giai đoạn từ 1 ngày tuổi đến 2 tuần tuổi: Nuôi úm hoàn toàn trong chuồng kiểm soát nhiệt độ 30 đến 32 độ C, sử dụng 100% thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh Vina Feed.
  • Giai đoạn từ 3 đến 7 tuần tuổi: Nuôi kết hợp bán chăn thả, cho ăn tự do 4 lần mỗi ngày bằng thức ăn công nghiệp.
  • Giai đoạn từ 8 đến 16 tuần tuổi: Lô đối chứng tiếp tục sử dụng 100% thức ăn hỗn hợp; Lô thí nghiệm ăn khẩu phần phối trộn 50% thức ăn hỗn hợp và 50% lúa nảy mầm giống Khang Dân 18 (mầm dài từ 0,5 cm đến 1,0 cm).

Khảo sát năng suất và chất lượng thịt được thực hiện tại tuần thứ 16 trên 12 cá thể đại diện (mỗi lô mổ khảo sát 3 con trống và 3 con mái). Các chỉ tiêu phân tích protein thô theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN 4328:2007 bằng máy Kjeldahl và lipid tổng số theo tiêu chuẩn TCVN 8136:2009 bằng thiết bị Soxtec chuyên dụng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực nghiệm ghi nhận những chuyển biến cụ thể trên đàn gà thí nghiệm qua các giai đoạn:

Thứ nhất, tỷ lệ sống của gà ta lai chọi CK1-BĐ duy trì ở mức rất cao. Tính đến thời điểm 16 tuần tuổi, Lô thí nghiệm bổ sung lúa nảy mầm đạt tỷ lệ sống 95,00% (57 con sống trên tổng số 60 con), cao hơn so với Lô đối chứng đạt 93,33% (56 con sống). Hiện tượng hao hụt nhẹ chủ yếu tập trung ở giai đoạn trước 8 tuần tuổi do điều kiện sinh lý thời kỳ úm, sau đó ổn định tuyệt đối đến khi xuất chuồng.

Thứ hai, kích thước các chiều đo ngoại hình ở 16 tuần tuổi giữa hai nghiệm thức có sự chênh lệch rõ nét. Gà trống ở Lô đối chứng đạt chiều dài thân 23,4 cm, vòng ngực 26,07 cm, dài đùi 24,67 cm; trong khi gà trống Lô thí nghiệm đạt chiều dài thân 20,9 cm, vòng ngực 23,8 cm, dài đùi 21,13 cm. Kích thước cơ thể gà Lô thí nghiệm thấp hơn từ 8,8% đến 14,3% so với Lô đối chứng.

Thứ ba, tốc độ sinh trưởng tích lũy thể hiện sự phân hóa rõ rệt sau 8 tuần tuổi. Nếu như ở giai đoạn 6 tuần tuổi khi cùng ăn cám công nghiệp, khối lượng bình quân 2 lô tương đồng ở mức 705,9 gam/con; thì đến tuần 16, Lô đối chứng đạt 2003,8 gam/con, còn Lô thí nghiệm đạt 1802,1 gam/con. Mức khối lượng ở Lô thí nghiệm thấp hơn khoảng 10,06% so với Lô đối chứng và sự sai khác này có ý nghĩa thống kê.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự sụt giảm khối lượng ở Lô thí nghiệm bắt nguồn từ tỷ lệ phối trộn lúa nảy mầm lên tới 50% trong khẩu phần. Mặc dù lúa nảy mầm cung cấp nguồn vi chất sinh học, vitamin phong phú và tăng cường sức đề kháng (thể hiện qua tỷ lệ sống 95,00%), nhưng tỷ trọng 50% đã làm giảm mật độ năng lượng trao đổi và lượng protein tiêu hóa tổng thể so với cám công nghiệp hoàn chỉnh.

So sánh với các nghiên cứu trước đây, tác giả Đinh Thị Thoa khi bổ sung 5% thóc mầm và 10% ngô mầm trên giống gà lai thương phẩm đã ghi nhận mức tăng trọng vượt trội hơn đối chứng. Tương tự, nghiên cứu của nhóm tác giả Đại học Trà Vinh khi thử nghiệm các mức lúa mầm 2,5%, 5,0% và 7,5% cho thấy mức 7,5% cho khối lượng cao nhất. Điều này chứng minh rằng lúa nảy mầm mang lại hiệu quả thúc đẩy sinh trưởng tối ưu ở mức bổ sung dưới 15%, còn mức 50% đã vượt quá ngưỡng dung nạp dinh dưỡng để duy trì tốc độ tích lũy cơ bắp tối đa.

Dữ liệu tăng trưởng thực nghiệm này có thể được mô hình hóa hiệu quả qua đồ thị đường cong sinh trưởng dạng chữ S và các bảng phân tích phương sai, giúp làm rõ điểm uốn tăng trưởng mạnh nhất rơi vào giai đoạn từ 8 đến 12 tuần tuổi.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các cơ sở thực nghiệm đã ghi nhận, luận văn đưa ra 4 khuyến nghị cụ thể nhằm ứng dụng hiệu quả nguồn thức ăn tự nhiên trong chăn nuôi:

Thứ nhất, điều chỉnh giảm tỷ lệ phối trộn lúa nảy mầm từ mức 50% xuống khoảng 10% đến 20% trong khẩu phần ăn hàng ngày của gà từ 8 đến 16 tuần tuổi. Mục tiêu kỹ thuật nhằm duy trì tỷ lệ sống đạt trên 95%, đồng thời đưa khối lượng xuất chuồng đạt trên 2000 gam/con ở 16 tuần tuổi, khắc phục triệt để tình trạng sụt giảm tăng trọng.

Thứ hai, chuẩn hóa quy trình ngâm ủ lúa giống Khang Dân 18 tại nông hộ. Thời gian ngâm nước sạch cần duy trì từ 12 đến 24 giờ để loại bỏ tạp chất, ủ yếm khí giữ ẩm trong 48 giờ để mầm nhú đều từ 0,5 cm đến 1,0 cm. Hộ chăn nuôi cần thực hiện gối đầu nhiều thùng ủ liên tiếp để luôn chủ động nguồn mầm tươi sạch, kiểm soát độ ẩm nhằm tránh phát sinh độc tố nấm mốc.

Thứ ba, áp dụng phương thức phân bổ máng ăn riêng biệt cho lúa mầm và cám công nghiệp vào 4 khung giờ cố định (6 giờ, 9 giờ 30 phút, 13 giờ và 16 giờ). Kỹ thuật này giúp gà tiếp nhận đủ năng lượng, hỗ trợ các chủ trại giảm thiểu từ 15% đến 25% chi phí thức ăn công nghiệp trong giai đoạn nuôi thịt cuối kỳ.

Thứ tư, các trạm khuyến nông địa phương và nhóm nghiên cứu học thuật cần tiếp tục mở rộng quy mô thử nghiệm đa nghiệm thức với các dải tỷ lệ 5%, 10%, 15% và 20% trên quy mô từ 500 đến 1000 con gà trong lộ trình năm 2023 đến 2025 để hoàn thiện định mức kinh tế kỹ thuật chính xác nhất.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang giá trị học thuật và ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

Thứ nhất, các chủ trang trại và hộ chăn nuôi gà thả vườn, gà bán thâm canh. Người chăn nuôi có thể áp dụng ngay quy trình ủ mầm lúa Khang Dân 18 và phương pháp cho ăn bán chăn thả để tiết kiệm chi phí cám, giảm thiểu rủi ro dịch bệnh và nâng cao chất lượng thịt gà sạch.

Thứ hai, kỹ sư chăn nuôi và chuyên gia dinh dưỡng vật nuôi. Dữ liệu thực nghiệm của đề tài là nguồn tài liệu hữu ích để xây dựng công thức thức ăn phối trộn chi phí thấp, tính toán cân đối axit amin và năng lượng trao đổi khi sử dụng ngũ cốc nảy mầm trong khẩu phần gia cầm.

Thứ ba, các doanh nghiệp sản xuất con giống gia cầm và thức ăn chăn nuôi tại miền Trung. Doanh nghiệp có thêm căn cứ đánh giá khả năng thích nghi và tiềm năng sinh trưởng của giống gà ta lai chọi CK1-BĐ trong điều kiện tự nhiên, phục vụ công tác tư vấn kỹ thuật cho khách hàng.

Thứ tư, học viên cao học, sinh viên và nghiên cứu viên ngành Chăn nuôi, Thú y và Sinh học thực nghiệm. Công trình cung cấp phương pháp luận chuẩn xác về bố trí thí nghiệm dinh dưỡng gia cầm, kỹ thuật đo đạc hình thái và quy trình phân tích hóa học thịt theo tiêu chuẩn quốc gia.

Câu hỏi thường gặp

Giống gà ta lai chọi CK1-BĐ có những đặc tính sinh học nào nổi bật?

Gà ta lai chọi CK1-BĐ được lai tạo từ nguồn gen gà bản địa Bình Định, sở hữu ngoại hình đẹp với chân vàng, da vàng, lông ôm sát và lườn ức đầy đặn. Giống gà này có sức đề kháng vượt trội, tỷ lệ nuôi sống thực tế đạt trên 95% và khả năng thích nghi rất tốt với điều kiện nuôi bán chăn thả tại khu vực miền Trung.

Quá trình ngâm ủ lúa nảy mầm mang lại những giá trị dinh dưỡng gì?

Khi nảy mầm từ 0,5 cm đến 1,0 cm, hạt lúa kích hoạt các enzyme thủy phân tự nhiên giúp phân giải chất xơ thô và giảm các yếu tố kháng dinh dưỡng như tannin và phytic acid. Đồng thời, quá trình này làm tăng hàm lượng protein dễ tiêu, acid amin thiết yếu cùng các vitamin nhóm B và vitamin C.

Tại sao khẩu phần ăn bổ sung 50% lúa nảy mầm lại làm giảm trọng lượng xuất chuồng?

Mặc dù lúa mầm rất giàu vi chất, tỷ lệ thay thế lên tới 50% đã làm giảm mật độ năng lượng trao đổi và hàm lượng đạm đậm đặc của khẩu phần so với cám công nghiệp 100%. Hệ quả là gà ở 16 tuần tuổi chỉ đạt 1802,1 gam/con, thấp hơn mức 2003,8 gam/con của lô đối chứng.

Tỷ lệ nuôi sống của gà ăn lúa nảy mầm thay đổi như thế nào qua 16 tuần?

Tỷ lệ nuôi sống của gà ăn khẩu phần bổ sung lúa nảy mầm đạt 95,00%, cao hơn mức 93,33% của lô ăn hoàn toàn cám công nghiệp. Tỷ lệ hao hụt chỉ xuất hiện trong giai đoạn úm dưới 8 tuần tuổi do đặc điểm sinh lý non nớt, sau đó ổn định 100% đến khi xuất bán.

Tỷ lệ phối trộn lúa nảy mầm khuyến nghị để đạt hiệu quả kinh tế cao nhất là bao nhiêu?

Từ các dẫn liệu thực nghiệm, tỷ lệ bổ sung lúa nảy mầm khuyến nghị tối ưu là từ 10% đến 20% trong khẩu phần ăn giai đoạn từ 8 tuần tuổi trở đi. Mức tỷ lệ này vừa giúp gà duy trì tăng trọng trên 2000 gam ở 16 tuần tuổi, vừa giảm đáng kể chi phí cám công nghiệp.

Kết luận

  • Tỷ lệ nuôi sống của đàn gà ta lai chọi CK1-BĐ đạt mức 95,00% khi bổ sung lúa nảy mầm, chứng minh tính thích nghi cao và khả năng kháng bệnh tốt của giống gà địa phương.
  • Quá trình nảy mầm lúa Khang Dân 18 giúp nâng cao giá trị dinh dưỡng tự nhiên, kích hoạt hệ enzyme có lợi và bổ sung nguồn hoạt chất sinh học dồi dào cho gia cầm.
  • Khẩu phần phối trộn 50% lúa nảy mầm giúp đàn gà đạt trọng lượng bình quân 1802,1 gam ở 16 tuần tuổi, mở ra hướng đi chủ động nguồn thức ăn nông sản tại chỗ.
  • Đề tài đã xác lập giới hạn khoa học quan trọng: tỷ lệ phối trộn lúa mầm cần duy trì ở mức 10% đến 20% để vừa bảo toàn tốc độ tăng khối lượng, vừa tối ưu hóa chi phí sản xuất.
  • Kế hoạch tiếp theo cần tập trung chuyển giao quy trình kỹ thuật ủ mầm lúa cho các hợp tác xã chăn nuôi và mở rộng khảo sát phân tích cảm quan chất lượng thịt thương phẩm.

Hãy liên hệ với nhóm nghiên cứu hoặc tra cứu chi tiết toàn văn luận văn tại thư viện Trường Đại học Quy Nhơn để tiếp cận đầy đủ dữ liệu thực nghiệm và ứng dụng quy trình chăn nuôi gà an toàn sinh học vào thực tiễn trang trại.