CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Cà chua là cây có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao, là cây có thể trồng trên vùng rau chuyên canh hoặc có thể trồng trên các loại giá thể khác nhau. Trên cơ sở yêu cầu sinh thái, dinh dưỡng của cây cà chua, khí hậu thích hợp những giống cà chua mới có thể sinh trưởng phát triển tốt và cho năng suất cao. Cũng như nhiều loại cây trồng khác, cà chua cần ít nhất 12 nguyên tố dinh dưỡng, đó là đạm, lân, kali, canxi, lưu huỳnh, magiê, bo, sắt, măngan, đồng, kẽm và molipden Goyal M., 1979 dẫn trong tài liệu (Nguyễn Thanh Minh, 2004) [19].
Các tác giả Tạ Thu Cúc, Trần Khắc Thi và cộng sự, cho biết, trong các nguyên tố đa lượng, cà chua cần nhiều kali nhất, sau đó là đạm rồi đến lân. Các nguyên tố trung lượng và vi lượng cũng cần thiết cho quá trình sinh trưởng của cây (Tạ Thu Cúc, 2006)[9], (Trần Khắc Thi, Trần Ngọc Hùng, 2003) [21]. Đạm có ảnh hưởng nhiều đến sinh trưởng sinh dưỡng và năng suất cà chua. Đạm chiếm 2,5-4,8% khối lượng chất khô của cây, là thành phần chủ yếu của các axit amin, protein, chlorophyll, alkaloid và các chất khác trong cây.
Đạm thúc đẩy sự ra hoa, đậu quả và phát triển quả, nhưng có xu hướng làm chậm quá trình chín của quả. Để đạt năng suất trên 100 tấn quả/ha, cà chua cần phải hấp thụ lượng dinh dưỡng khoảng 100mg N/cây/ngày (Trần Thế Tục, Trần Khắc Thi, 1997)[22], (Bar. Nếu thừa đạm thì cỡ quả, thời gian bảo quản, màu sắc và mùi vị sẽ giảm. Thừa đạm còn làm giảm lượng chất khô hòa tan trong quả, đạm có xu hướng làm giảm lượng chất khô trong dịch quả và tăng nồng độ axit (Garrison A.S và cs, 1967)[44], (Pill W.
Lân chiếm 0,3-0,6% khối lượng chất khô, có vai trò then chốt trong Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 4 việc cung cấp năng lượng cho sự trao đổi chất và cần cho sự phát triển hệ rễ, nhất là cây con. Thiếu lân hệ thống rễ kém phát triển, cây sinh trưởng kém, lá nhỏ, hẹp có màu xanh tối, gân mặt dưới lá có màu tím. Do vậy, ngay từ giai đoạn đầu cần phải bón lân cho cây ở dạng dễ tiêu để xúc tiến việc ra rễ đồng thời tăng khả năng hút nước và chất dinh dưỡng. Bón đủ lân và thừa một chút sẽ giúp cây tăng cường quang hợp, tăng tỷ lệ đậu quả lên từ 10-15%, thậm chí 25% (Nguyễn Văn Thắng, Bùi Thị Mỳ, 1996)[30], (Nelson W.
Tác dụng tốt nhất của lân là xúc tiến sự hình thành chùm hoa sớm, hoa nở sớm, quả lớn nhanh và chín sớm, nên rút ngắn thời gian sinh trưởng. Theo tác giả Su N.R, nếu bón đủ đạm và kali, lân giúp tăng trưởng quả, làm tăng chất lượng quả đặc biệt là tăng hàm lượng chất khô và đường saccaroza, quả cứng, thịt dầy, nhiều Vitamin C và có màu đẹp (Su N.C năm 1976 thì lân có hiệu quả rõ rệt trong việc tăng số lượng hoa, tăng sức sống của hạt phấn và tăng hoạt tính cytokinin của dịch rễ, từ đó mà tăng năng suất quả [53]. Kali chiếm 4,2-5,8% khối lượng chất khô, là yếu tố quan trọng cho quá trình đồng hoá CO2 để tạo thành Gluxít, đồng thời liên quan đến quá trình tổng hợp protein, các axit hữu cơ và làm hoạt hoá các men. Theo Trudel et al năm 1970 kali đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình hình thành và thúc đẩy sắc tố đỏ ở quả cà chua khi chín, kali làm tăng caroten, lycopen và hương vị [63].
Kali giúp cây cứng cáp, tăng khả năng bảo quản và vận chuyển khi quả chín, đồng thời tăng khả năng kháng bệnh và điều kiện bất thuận (Trần Khắc Thi, Mai Thị Phương Anh, 2003)[24], (Kiraly Z, 1976) [52]. Đặc biệt, kali có tác dụng tốt đối với hình thái quả, đất bón kali đầy đủ quả nhẵn, bóng, thịt quả chắc. Kali còn có ảnh hưởng tốt đến chất lượng quả như làm tăng hàm lượng đường, hàm lượng chất tan và vitamin C (Tạ Thu Cúc, 2006)[9], (Cục Trồng Trọt, 2008)[33], (Chu Thị Thơm và cs, 2005)[29]. Theo Trudel ảnh hưởng của kali đến năng suất không rõ như đạm, nhưng kali Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 5 làm tăng kích thước quả do vậy làm tăng năng suất.
Khi cây cà chua thiếu kali lá mất màu xanh thẫm và trở nên sẫm màu, lá khô từ ngọn và lan rộng theo rìa lá, đốt ngắn. Thiếu kali cỡ quả và chất lượng quả sẽ bị ảnh hưởng nhiều hơn số lượng quả, quả chín không đều, dễ bị cháy rám khi trời nắng và hỏng trước khi thu hoạch (Trudel M. Theo thông tin của Bộ NN&PTNT 1999, Chu Thị Thơm và cs 2005 thì bón cân đối đạm- kali là yếu tố quan trọng hàng đầu trong dinh dưỡng của cà chua. Bón cân đối đạm- kali có thể làm tăng năng suất quả cà chua từ 39-88% với hiệu suất 1 kg K2O tạo ra 89-127 kg quả cà chua trên đất bạc màu.
Trên đất xám, bón cân đối đạm-kali làm tăng năng suất cà chua từ 9-11% [4], [29]. Cà chua nếu được bón phân thích hợp sẽ nâng cao sản lượng và chất lượng quả. Tác giả Tạ Thu Cúc cho rằng, về nguyên tắc cần phải phối hợp một tỷ lệ và khối lượng hợp lý giữa phân hữu cơ và phân vô cơ là điều ki ện quan trọng để đảm bảo năng suất và chất lượng cà chua (Tạ Thu Cúc, 2006)[9]. Theo khuyến cáo của Cục Trồng trọt 2008 thì lượng kali thích hợp cho cà chua từ 150-180kg K2O/ha [33].
Theo Kuo et al, 1998 đối với cà chua thuộc loại hình vô hạn nên bón với mức 180kgN, 80 kg P205 và 180 kg K20, còn đối với cà chua thuộc loại hình hữu hạn thì lượng tương ứng là 120: 80 và 150 [51]. Một nghiên cứu về mức phân bón cho cà chua trên 36 nhà trồng cà chua nổi tiếng của Nhật Bản ở vùng đồng bằng Kanto cho thấy, bình quân trên 1 ha là 370 kgN, 290 kg P 205 và 350 kg K20. Mức này ở Hàn Quốc là 300kg: 216kg và 328kg (trồng ngoài đồng); 340kg-390kg: 250kg-290kg và 320kg trong điều kiện nhà có mái che (Hipp B. Theo Raymond, George ở đất nghèo dinh dưỡng thì nên bón cho 1 ha gieo trồng N,P,K nguyên chất từ 75-100 kg N, 105-200 kg P2O5, 150-200 kg K2O (Raymond, George A.
Giá thể xơ dừa là loại giá thể dinh dưỡng gồm chủ yếu là xenlulo chiếm 80%, ngoài ra lignin chiếm 18% và các hợp chất khác như tanin,… Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 6 Kết quả phân tích thành phần dinh dưỡng của giá thể xơ dừa chứa 67.42% pH-KCl, Tỉ trọng (d) 1. Độ thoáng khí cao, tăng độ thông thoáng cho môi trường rễ cây trồng, giúp cây tăng khả năng hấp thu chất dinh dưỡng. CEC: trung bình – cao. Xơ dừa có tỷ trọng thấp.
Có tính ổn định cao. Tỷ lệ C/N vừa phải, phân hủy chậm. Trấu hun là giá thể sạch (không có nấm bệnh, vi khuẩn), tơi xốp, thoáng khí tạo điều kiện thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt. Chi phí sản xuất thấp, giá thành rẻ hơn so với các loại giá thể khác.
Cung cấp nguồn Kali lớn cho cây nên trấu hun có thể dùng bổ sung cho cây ăn quả khi cây bước vào giai đoạn dưỡng quả. Tuy nhiên kém dinh dưỡng do trấu hun sau khi được đốt từ vỏ trấu tươi thì thành phần chính của nó chỉ là carbonhydrat và kali. Hấp thụ nhiệt vì có hàm lượng carbon cao, không tốt cho rễ cây vào những ngày nhiệt độ cao, nắng nóng. Giữ nước kém, giá thể chỉ dùng trấu hun hoặc trộn nhiều trấu hun sẽ nhanh khô, đặc biệt vào những ngày nắng nóng.
Tình hình sản xuất cà chua trên thế giới và trong nước Theo FAO năng suất cà chua trên toàn thế giới năm 2005 đạt 27,59 tấn/ha nhưng đến năm 2010 năng suất đã tăng lên 33,59 tấn/ha. Năm 2010 diện tích trồng cà chua toàn thế giới đạt 4,34 triệu ha trong khi đó diện tich trông cà chua của châu Á 24,34 triệu ha chiếm 56,13% diện tích cà chua toàn thế giới, năng suất của châu á đạt 33,57 tấn/ha. Trong 10 năm (từ năm 2001 đến năm 2010) diện tích cà chua thế giới tăng 1,09 lần (từ 3.990,30 nghìn ha lên 4.338,83 nghìn ha), sản lượng tăng 1,35 lần (từ 107.977,76 nghìn tấn lên 145.751,51 nghìn tấn), trong khi năng suất không có sự thay đổi đáng kể. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 7 Ở Việt Nam, cà chua được trồng từ rất lâu đời, cho đến nay cà chua vẫn là loại rau ăn quả chủ lực được nhà nước ưu tiên phát triển.
Năm 2010 diện tích cà chua khoảng 17,6 nghìn ha, năng suất đạt 11,6 tấn/ha. Phần lớn diện tích trồng cà chua tập trung tai đồng bằng Sông Hồng như Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Thái Bình, Hưng Yên, Bắc Giang, Nam Định,…và một số tỉnh tại miền Trung, Tây nguyên, Nam Bộ. Ở nước ta, cà chua được trồng 3 vụ/năm, trong đó phát triển chủ yếu là vụ đông hay vụ chính. Cả nước có khoảng 115 giống cà chua được gieo trồng, trong đó có 10 giống được gieo trồng với diện tích lớn 6259 ha, chiếm 55% diện tích cả nước.
Giống M386 được trồng nhiều nhất (khoảng 1432 ha), tiếp theo là các giống cà chua Pháp, VL200, TN002, Red Crown. Cà chua là một trong những mặt hàng có giá trị xuất khẩu cao kể cả dạng tươi và dạng chế biến. Ở Việt Nam diện tích gieo trồng cà chua hàng năm biến động từ 15 – 17 ngàn ha, sản lượng 280 ngàn tấn. Mức tiêu thụ bình quân đầu người của nước ta là: 3 kg/người/năm.
Tại khu vực Đồng bằng sông Hồng sản xuất cà chua cho thu nhập bình quân 42 - 68,4 triệu đồng/ha/vụ, lãi thuần đạt 15-26 triệu đồng, cao hơn nhiều so với trồng lúa. Trồng lúa chỉ giải quyết 230-250 công lao động, trong đó trồng cà chua giải quyết được 1100 - 1200 công lao động. Theo (Đề án phát triển rau – quả và hoa cây cảnh thời kỳ 1999-2010 của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn) cà chua là mặt hàng chủ yếu được quan tâm phát triển. Năm 2005 diện tích trồng cà chua sẽ là 2000 ha.
Với sản lượng 80.000 tấn, cho giá trị xuất khẩu là 10 triệu USD; năm 2010 diện tích tăng lên 6000ha, tổng sản lượng đạt 240.000 tấn, cho giá trị xuất khẩu là 100 triệu USD[20]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.