ĐẶT VẤN ĐỀ VÀ GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 1. Ứng dụng các loại thép không gỉ trong thực tế Thép không gỉ trong thực tế được sử dụng rộng rãi và phổ biến vì nó có tính năng mà không một kim loại nào có thể đáp ứng được như khả năng chống ăn mòn trong các môi trường độc hại, dễ dàng hàn hoặc tạo hình, chi phí bảo dưỡng thấp và có khả năng tái chế. Chính điều đó làm cho thép không gỉ trở thành vật liệu lý tưởng để sản xuất hàng loạt các sản phẩm quan trọng trong đời sống hàng ngày từ thiết bị công nghiệp thực phẩm, sinh học, cấp thoát nước, các sản phẩm đồ gia dụng, thiết bị y tế và trang trí… Đồ dùng nhà bếp: thép không gỉ đặc biệt là loại SUS201 từ lâu đã được công nhận là loại vật liệu sạch, bền, đẹp mắt và dễ bảo dưỡng, phù hợp để sản xuất các loại dao, kéo, bát, đĩa. Thiết bị gia dụng: vì loại thép không gỉ SUS201 có khả năng chống han gỉ và không bị phá hủy trong môi trường axit hay muối.
Vì vậy nó được chọn là vật liệu lý tưởng cho các nhà sản xuất đồ gia dụng như: bồn rửa, máy rửa bát, máy giặt, máy chế biến thực phẩm, lò nướng, bếp ga và thùng nước… Công nghệ thực phẩm, nông nghiệp: thép không gỉ SUS201 được sử dụng để sản xuất thùng chứa đòi hỏi sự vững chãi do loại thép này cứng và có khả năng chống gỉ và ăn mòn trong các môi trường nhiệt độ cao. Các thiết bị được sử dụng trong công nghiệp chế biến thực phẩm (công nghiệp rượu bia và nước giải khát). Công nghiệp ô tô: ống xả, bộ chuyển đổi xúc tác và hàng loạt các phụ tùng cơ khí thường được sản xuất từ thép không gỉ vì chúng có khả năng chống ô xy hóa ở nhiệt độ cao. Hệ thống vận tải công cộng: hiện nay, những bộ phận chính của xe buýt, tàu hỏa, tàu điện ngầm và cáp treo đều được sản xuất bằng thép không gỉ vì đây là loại vật liệu có khả năng đáp ứng những tiêu chuẩn nhất định với chi phí duy trì bảo dưỡng thấp.
2 Công nghiệp vận chuyển hàng hóa: rất nhiều loại container dùng trong nghành vận tải như: container lạnh, tàu hàng lỏng cách li cách nhiệt… được sản xuất từ thép không gỉ vì chúng có khả năng chống ăn mòn liên hạt và chống rão. Công nghiệp hóa dầu: chính vì đặc tính đặc biệt là khả năng chống ăn mòn liên hạt và chống rão ở cường độ cao nên thép không gỉ luôn được coi là vật liệu lý tưởng để sản xuất ống, vòi trong công nghiệp hóa dầu. Các ngành công nghệ cao: do khả năng chống ăn mòn và các đặc tính cơ học khác, thép không gỉ thường được dùng trong các ngành công nghệ cao như hàng không, máy tính, điện tử hạt nhân và nhiều nghành khác. Công nghiệp cấp thoát nước: ngày nay do nhu cầu cấp nước sạch và nước xả ngày càng cao do vậy việc sử dụng máy móc thiết bị được chế tạo từ thép không gỉ ngày càng nhiều.
Các cút nối trong hóa dầu, ngành nước 3 Hình 1. Các thiết bị trong dân dụng 1. Yêu cầu đối với các thiết bị thực phẩm Trong ngành chế biến thực phẩm, để tránh cho các quá trình lên men bị nhiễm khuẩn thì các thiết bị thực phẩm yêu cầu phải đảm bảo được độ vô trùng khi làm sạch. Hiện nay, các phương pháp làm sạch bên trong chủ yếu là phun nước và sử dụng các dung dịch làm sạch.
Chính vì vậy, yêu cầu đối với các bề mặt của thiết bị thực phẩm đó là các bề mặt bên trong phải có độ nhẵn bóng nhất định nào đó, phải luôn đạt được độ nhẵn bóng Ra = 0,63 µ m. Thiết bị trong ngành thực phẩm 4 1. Các phương pháp làm nhẵn bề mặt hiện nay Trong các nhà máy cơ khí ở Việt Nam hiện đang sử dụng rộng rãi các phương pháp gia công sau: Đánh bóng bề mặt chi tiết máy bằng thiết bị cầm tay Hình 1. Thiết bị đánh bóng cầm tay 5 Đánh bóng bề mặt chi tiết máy bằng thiết bị đai mài.
Đánh bóng chi tiết stato Hình 1. Đánh bóng sản phẩm trang trí Trong khi gia công, các thiết bị này cũng có các ưu nhược điểm riêng: * Ưu khuyết điểm của thiết bị cầm tay: nhẹ dễ sử dụng, chỉ gia công được các chi tiết nhỏ, áp lực trong quá trình gia công không ổn định và thời gian gia công tốn nhiều thời gian, do đó hiệu quả và năng suất không cao. * Ưu khuyết điểm của thiết bị đánh bóng bằng đai mài: là phương pháp gia công khép kín có bề rộng xác định, gia công được các bề mặt định hình, gia công được các chi tiết mà máy móc thông thường không thể gia công được. 6 Diện tích của đai mài lớn hơn rất nhiều so với diện tích của đá đánh bóng do đó kéo dài được chu kỳ làm việc (thời gian phải thay đai mài đã bị mòn hỏng) và rút ngắn được thời gian phụ.
Diện tích của chi tiết được gia công đồng thời lớn hơn. Tản nhiệt trên đai mài nhanh hơn là tản nhiệt trên bánh đánh bóng do đó nâng cao được chế độ gia công và nâng cao năng suất. Chất lượng của hạt phủ lên đai mài thường cao hơn vì nó được chế tạo theo phương pháp cơ khí hóa. Các thông số gia công có khoảng thay đổi lớn (tốc độ, áp lực, hình dáng chi tiết), bản thân đai mài lại mềm mại, ít bị thay đổi áp lực và tốc độ.
Đai mài có thể đánh bóng ở những bề mặt khó gia công của chi tiết. Kết cấu máy đơn giản hơn, làm việc êm hơn kể cả khi tải trọng thay đổi. Điều kiện lao động khi đánh bóng bằng đai mài được cải thiện hơn nhiều so với đánh bóng bằng bánh đánh bóng. Đánh bóng còn có nhiều ưu điểm so với các phương pháp gia công bằng cắt gọt khác, mà nó cho phép gia công với lượng dư nhỏ (đến vài mm), lực cắt không lớn, yêu cầu vận tốc chi tiết không quá cao, điều chỉnh và gá đặt dễ dàng đơn giản, không tốn thời gian, có khả năng thay đổi chế độ cắt ngay trong quá trình gia công.
Tính cấp thiết của đề tài Tính chất sử dụng của chi tiết không chỉ phụ thuộc vào tính chất cơ lý của vật liệu, mà còn phụ thuộc vào trạng thái của lớp bề mặt. Thực tế cho thấy, các chi tiết được chế tạo từ một loại vật liệu như nhau theo các phương pháp công nghệ và chế độ gia công khác nhau thì tuổi thọ của chi tiết sẽ khác nhau. Các chi tiết máy có độ chính xác, chất lượng bề mặt và độ bền cao là cơ sở cho sự ra đời các loại máy móc, thiết bị hiện đại, có chất lượng cao (độ chính xác, độ tin cậy, độ bền cao…). Phương pháp đánh bóng bằng đai mài có một vị trí quan trọng trong gia công cơ khí hiện đại nhờ khả năng vượt trội so với các phương pháp gia công khác, khi gia công những vật liệu có độ bền cơ học và độ cứng khác nhau cho độ chính xác và 7 độ nhẵn bóng cao.
Mặc dù được sử dụng cả trong gia công thô nhưng chỉ trong gia công tinh thì phương pháp đánh bóng mới thực sự phát huy và chiếm ưu thế. Vì vậy, đánh bóng được chọn là nguyên công cuối trong các nguyên công gia công tinh các bề mặt chi tiết. Chất lượng bề mặt của chi tiết được hình thành trong quá trình thực hiện các nguyên công có tính đến tính di truyền công nghệ. Tuy nhiên quan trọng nhất là các nguyên công gia công tinh, bởi vì các nguyên công này có đặc tính chất lượng của lớp bề mặt được hình thành rõ nét.
Điều này nói lên tầm quan trọng của phương pháp gia công tinh trong quy trình công nghệ và sự cần thiết phải xác định phương pháp gia công hợp lý với chế độ gia công tối ưu. Quá trình tách bỏ vật liệu khi đánh bóng cũng thực hiện bằng quá trình tạo phoi như các phương pháp gia công khác nhưng do những đặc điểm khác biệt về quy luật của các phương pháp gia công cắt gọt khác (qui luật về dòng phoi, nhiệt cắt, mòn và tuổi bền cao…) lại không đúng hoàn toàn cho phương pháp đánh bóng. Trong sản xuất đã và đang ứng dụng rất nhiều phương pháp gia công tinh khác nhau. Các phương pháp này có thể tập trung lại thành bốn nhóm (gia công bằng dụng cụ cắt có lưỡi, các hạt mài kết dính, các hạt mài tự do và gia công bằng biến dạng dẻo bề mặt).
Trong mỗi phương pháp gia công này đều có tính đặc thù riêng với khả năng công nghệ và phạm vi áp dụng nhất định. Để nâng cao hiệu quả của các nguyên công gia công tinh ta cần đẩy mạnh công tác nghiên cứu để tìm ra những điều kiện gia công tối ưu và sử dụng thiết bị hợp lý. Giới hạn nghiên cứu của đề tài Quan hệ của các thông số chất lượng quá trình đánh bóng với các yếu tố ảnh hưởng rất phức tạp, khó xác định và không ổn định theo thời gian. Quy luật thay đổi và tác động qua lại của chúng phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện gia công và tình trạng của máy.
Việc xây dựng một hệ thống các chỉ số hoặc bảng biểu dùng chung cho các máy đánh bóng, các phương pháp đánh bóng là một việc làm rất khó thực hiện trong điều kiện kỹ thuật hiện nay. Do vậy để nâng cao hiệu quả của quá trình 8 đánh bóng đều được tiến hành nghiên cứu theo các hướng cơ bản sau: 1. Nâng cao chất lượng, hoàn thiện kết cấu của các đai, bánh mang hạt mài 2. Nghiên cứu chế tạo các loại đai, bánh mang hạt mài từ vật liệu mới, có độ kết dính và chịu mài mòn cao.
Nâng cao vận tốc. Điều chỉnh tối ưu hóa quá trình đánh bóng. Trong đó: Nghiên cứu theo hướng 1 và 2: tiến hành chế tạo các loại đai hoặc bánh có mang hạt mài mới và có khả năng chịu kết dính mài mòn cao. Nghiên cứu theo hướng 3: tiến hành thiết kế chế tạo các loại máy đánh bóng cao và siêu cao tốc có vận tốc lớn.
Nghiên cứu theo hướng 4: điều khiển quá trình tối ưu hóa theo nguyên tắc điều khiển tối ưu. Nghĩa là dựa vào quan hệ hàm được xác lập ngay trong quá trình gia công giữa các thông số đầu ra với các thông số đầu vào, thực hiện điều chỉnh quá trình để đạt dược các chỉ tiêu chất lượng và kinh tế kỹ thuật cao nhất.