Chương 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN VỀ DÂY CHUYỀN MAY CÔNG NGHIỆP & TÍNH LIÊN TỤC CỦA DÂY CHUYỀN MAY CÔNG NGHIỆP. Dây chuyền may công nghiệp. Dây chuyền may công nghiệp là một tổ chức sản xuất được thực hiện theo một quy trình công nghệ đã định sẵn, với số lượng công nhân được xác định và khoảng thời gian hoàn thành sản phẩm đã được tính toán trước, trong một điều kiện kỹ thuật nào đó.
Khi đó đầu vào là bán thành phẩm, đầu ra là sản phẩm hoàn thiện. Dây chuyền may công nghiệp có những đặc điểm sau: - Chuyên môn hóa cao (vì mỗi công nhân chỉ thực hiện một hoặc hai nguyên công trong quy trình công nghệ sản xuất). - Số lượng công nhân và thiết bị nhất định. - Bố trí các vị trí nguyên công theo một trình tự xác định trước.
- Các vị trí làm việc có khoảng thời gian tương đương nhau để thực hiện các nguyên công của mình và được diễn ra liên tục và lặp đi lặp lại chặt chẽ trong dây chuyền. - Năng suất lao động cao nhờ chuyên môn hóa các vị trí làm việc. - Chất lượng sản phẩm tăng cao nhờ quá trình được lặp đi, lặp lại. - Chu kỳ sản xuất được rút ngắn do các vị trí làm việc trong quá trình sản xuất được thực hiện đồng thời cùng một lúc.
Những đặc trưng cơ bản của dây chuyền may công nghiệp. Nhịp độ sản xuất (Nhịp chuyền) [1] Nhịp độ sản xuất của dây chuyền là khoảng thời gian xác định mà sau đó các nguyên công cơ bản được lặp lại. Nói cách khác nhịp độ sản xuất là khoảng thời gian định mức cho một người công nhân tham gia hoàn thành đơn vị sản phẩm của mình. Nhịp độ sản xuất được xác định bằng tỷ số giữa thời gian hoàn thành một sản phẩm với số công nhân trực tiếp tham gia trên chuyền.
R= (s) Tsp : thời gian gia công một sản phẩm R R 9 Nguyễn Chí Công Luận văn tốt nghiệp 2011 S: số công nhân trong dây chuyền Tương ứng ta có R i = R R (s) Xét về khía cạnh thời gian, nhịp độ sản xuất thể hiện mối liên hệ và mức độ cân đối của các nguyên công. Do dây chuyền là mối liên kết phụ thuộc giữa các vị trí nên thời gian của các nguyên công là rất quan trọng. Để sản xuất được lưu thông, dây chuyền không bị ùn tắc, công nhân không phải chờ đợi nhau thì sự chênh lệch giữa các vị trí làm việc không được quá lớn. Để thể hiện điều này người ta đưa ra đại lượng phần trăm tải trọng (T) là tỷ số giữa thời gian định mức cho một lao động và nhịp độ sản xuất của dây chuyền.
Phần trăm tải trọng của nguyên công này là 83/80 = 104% Căn cứ vào R dây chuyền được chia thành các loại: - Dây chuyền có nhịp tự do: Nhịp của các nguyên công không cần thiết phải tuân theo một cách chính xác nhịp của dây chuyền, được phép dao động ± 10% so với nhịp của dây chuyền. - Dây chuyền có nhịp bắt buộc: Nhịp của các nguyên công dao động khá gần với nhịp dây chuyền ± 5%. Dây chuyền dạng này thường áp dụng khi có thiết bị vận chuyển cơ khí hóa, đòi hỏi thời gian của các nguyên công phải khớp với nhịp chung. - Dây chuyền có nhịp tổng hợp: Dây chuyển dạng này thường có những đoạn nhịp tự do, có những đoạn nhịp bắt buộc, thưởng áp dụng cho những sản phẩm có kết cấu phức tạp, chi tiết và yêu cầu công nghệ thay đổi khác nhau.
Tính đơn điệu trong sản xuất dây chuyền. [1] Đặc điểm của sản xuất theo dây chuyền là chia nhỏ quá trình công nghệ sản xuất theo từng bước công việc, sau đó phân công chuyên môn hóa các nơi làm việc trong dây chuyền. Việc chuyên môn hóa hẹp này giúp tăng năng suất của dây chuyền nhờ khả năng quen việc cao của người công nhân. Tuy nhiên, trong quá 10 Nguyễn Chí Công Luận văn tốt nghiệp 2011 trình lao động do chuyên môn hóa cao dẫn đến tính đơn điệu cao trong lao động, nhất là những dây chuyền có công suất lớn, nhịp độ nhỏ hơn 30 giây.
Tính đơn điệu này làm cho công nhân nhanh chóng nhàm chán, nhanh chóng mệt mỏi, hậu quả là năng suất giảm, dễ gây tai nạn lao động. Do vậy: - Đối với các công việc quá đơn giản, nên thường xuyên thay đổi công việc hoặc ghép các nguyên công đơn giản thành phức tạp hơn, sao cho mỗi công việc từ 3 đến 5 yếu tố tác động khác nhau. - Tạo không khí làm việc vui vẻ, hợp tác và thân thiện trong toàn bộ dây chuyền. - Dùng âm nhạc có tính chọn lọc trong quá trình làm việc giúp cải thiện hiệu quả tính đơn điệu.
Công suất dây chuyền. Công suất của dây chuyền là số lượng sản phẩm mà dây chuyền đó sản xuất được trong một ca làm việc. P = N*S (sản phẩm/ca) Với N: năng suất 1 lao động; S: số công nhân. Năng suất = = (sp) Trong đó: Tca: thời gian làm việc trong 1 ca (8h) R R Td : thời gian dừng chờ.
R R Tsp : thời gian gia công sản phẩm. R R Như vậy P = * S Mà R = P= hay R = Theo công suất dây chuyền có các loại sau: lớn, trung bình và nhỏ tương ứng với số lượng sản phẩm là hàng vạn, hàng nghìn, hàng trăm sản phẩm/ca. Hình thức tổ chức dây chuyền. Hình thức bố trí theo hàng dọc (không chia nhóm).
Trong cách bố trí này, quy trình lắp ráp sản phẩm được chia thành nhiều bước công việc. Các bước công việc được thực hiện theo thứ tự diễn tiến hợp lý, tránh sự quay trở lại của bán thành phẩm tái chế. 11 Nguyễn Chí Công Luận văn tốt nghiệp 2011 Nguyên tắc tổ chức của dây chuyền hàng dọc: - Sắp đặt máy không theo chủng loại máy mà theo quy trình lắp ráp. - Chi tiết sản phẩm di chuyển từ vị trí này sang vị trí khác trong thùng con ở máy, trên giá đỡ hay băng chuyền.
- Công nhân khi lấy chi tiết gia công phải mở bó xem kỹ chi tiết có cùng một bó hay không. Khi lấy xong phải bó lại chuyển cho công đoạn tiếp theo. - Cần có một lượng hàng dự trữ trên chuyền để tránh sự chờ đợi của công nhân vì nhịp độ của mỗi người là khác nhau. - Công nhân phụ thuộc nhau từ người này sang người khác.
Ưu điểm - Các công đoạn diễn tiến hợp lý về phía trước, chu trình sản xuất không quay lại. - Thời gian sản phẩm ra chuyền ngắn. - Năng suất gia công tại các vị trí trong chuyền đều nhau. - Trình độ chuyên môn hóa lao động cao, đào tạo nhanh.
- Kiểm tra tiến độ sản xuất dễ dàng, tiết kiệm thời gian gia công vì cân đối nhịp chặt chẽ. - Giảm bớt người điều hàng, công nhân tự lấy hàng từ vị trí này sang vị trí khác mà không cần di chuyển xa, giám sát năng suất dễ dàng, giảm chi phí tính lương. - Lượng hàng trên chuyền giảm. Nhược điểm - Yêu cầu phải cân đối tốt các vị trí làm việc (mức độ dung sai trong cân đối là thấp ≤ 5%).
- Bắt buộc phải tôn trọng tuyệt đối quy trình công nghệ. - Chuyền sản xuất dễ bị xáo trộn nếu vắng mặt công nhân ở vị trí nào đó, cần thợ dự trữ biết may nhiều bộ phận gọi là thợ chạy chuyền. - Công việc dễ gây nhàm chán với công nhân vì luôn phải làm một công việc. - Diện tích nhà xưởng cần cho mỗi vị trí làm việc là lớn (diện tích trung bình cho mỗi công nhân khoảng 4m2 ÷ 5m2.
P P P P - Phải có người điều hành theo dõi chuyền, giám sát, cân đối các làm việc, bổ sung điều chỉnh sau 2h sản xuất đế sản lượng ra đều, chất lượng ổn định. 12 Nguyễn Chí Công Luận văn tốt nghiệp 2011 Hình thức tổ chức theo nhóm (dây chuyền cụm) Theo hình thức này, phân xưởng được chia nhóm theo từng loại công việc hoặc theo từng loại máy. Công nhân thực hiện nhiều bước công việc trong nhóm. Mỗi người trong nhóm làm việc độc lập, nhóm này độc lập với nhóm kia.
Nguyên tắc tổ chức của dây chuyền cụm - Công nhân làm việc trong cụm (nhóm) độc lập với nhau và dưới sự chỉ đạo của trưởng nhóm. - Một số chi tiết bán thành phẩm giống nhau được bó lại với nhau thành một bó từ 25 đến 30 chi tiết, công nhân nhận một bó để may, hết bó này nhận bó khác. Cần có loại xe nhỏ để đem hàng đến, có chỗ cất hàng và điều hàng đi. - Quản đốc có vai trò cân đối, điều hành tiến độ thực hiện giữa các cụm để đảm bảo ra hàng đều, cân đối nhịp nhàng.
Ưu điểm - Cần diện tích nhỏ hơn cho một chỗ làm việc (3. P P - Tay nghề công nhân cao (đảm nhận nhiều công đoạn). - Chuyền ít bị xáo trộn khi có công nhân vắng mặt. - Công nhân không bị phụ thuộc người này với người kia.
- Tiết kiệm thời gian đi lại của công nhân vì có người đem hàng đến và lấy hàng đi. Nhược điểm - Lượng hàng trong chuyền nhiều nên cần nhiều kho tạm chứa. - Độc lập giữa các vị trí làm việc, do đó bắt buộc phải bố trí thêm người lấy hàng đi. - Thời gian hàng ra chuyền tương đối vì lượng hàng trên chuyền nhiều.
- Yêu cầu công nhân có trình độ cao nên cần thời gian dài để đào tạo. - Gặp khó khăn khi kiểm tra công đoạn và xác định sai sót khi hàng bị trả lại. - Đòi hỏi người quản đốc giỏi về kĩ thuật cũng như quản lý điểu hành. Phương pháp vận chuyển bán thành phẩm trong dây chuyền [1] Phương pháp vận chuyển bán thành phẩm các dây chuyền may được chia thành kiểu không băng chuyền và kiểu băng chuyền.
13 Nguyễn Chí Công Luận văn tốt nghiệp 2011 Trong các dây chuyền kiểu không băng chuyền, người ta di chuyển bán thành phẩm từ vị trí làm việc này đến vị trí làm việc khác bằng các phương tiện vận chuyển như các loại xe đảy khác nhau. Tuy theo hình thức tổ chức dây chuyền mà bán thành phẩm được di chuyển thẳng hoặc zíczắc Trong các dây chuyền kiểu băng chuyền, bán thành phẩm di chuyển nhờ các thiết bị cơ khí khác nhau, có vận tốc không đổi hoặc điều chỉnh được. Trong công nghiệp may, các băng chuyền thực hiện chức năng phân phối bán thành phẩm, nghĩa là băng chuyền có vận tốc không đổi. Vận tốc của băng chuyền có nhịp độ chặt chẽ phù hợp với nhịp độ của dây chuyền.